Sự tôn nghiêm của sinh và tử

I. Sự tôn nghiêm của sinh và tử

(I) Sự tôn nghiêm của sinh và tử

Sinh và tử là một tiêu đề rộng và sâu. Mỗi người có một cách nhìn, suy nghĩ và lập trường cũng khác nhau. Chủ đề này trong 30 năm trở lại đây, dần dần nhận được sự coi trọng của các nhân sĩ phương Đông và phương Tây, có khá nhiều học giả từ lập trường trên nhiều góc độ như triết học, Tôn giáo, y học .v.v. để tìm hiểu. Tôi thì từ quan điểm Phật pháp và sự nhận biết Phật pháp, lấy sự thể nghiệm và quan sát về sinh tử của mình để giải thích.

(II) Nhận biết thực tướng của sự sống

1. Từ chỗ cuộc sống của mình không biết phải làm sao, không có nơi nương tựa, không có nơi thích hợp để chuyển biến thành sự sống đáng yêu, đáng quý và để khẳng định chính mình.

Rất nhiều người có cảm nhận tiêu cực đối với sự sống và cho rằng cuộc sống là vậy, sống để là chịu tội, sống là một gánh nặng, đó là thành kiến được tạo ra do không hiểu rõ Phật pháp. Phật nói: “Thân người khó được, Phật pháp khó gặp”. Muốn khai ngộ thành Phật, thành tựu Pháp thân tuệ mệnh thì chỉ có trong quá trình sống của con người, dùng sắc thân này (sinh mệnh máu thịt) của chúng ta nghe vấn Phật pháp và tu hành Phật pháp, vì tu hành mới có thể đạt đến mục đích.

Hoặc có nhiều người cho rằng tu hành chỉ có thể đến cõi Tịnh Độ của Phật để tu, quan niệm này thực ra là sai lầm. Bởi vì chư Phật đều tu hành thành Phật ngay tại nhân gian, không phải thành Phật với hình thái của chúng sinh nào khác. Bởi thế cần phải có được thân người trước đã, rồi sau đó mới có thể phát tâm, phát Bồ Đề tâm, tu Bồ Tát đạo, sau đó thành Phật. Cho nên nói được sinh làm người là đáng quý nhất.

2. Sinh ra và chết đi của sự sống có liên quan mật thiết không thể chia rời. Khi sinh ra thì xẽ xác định là phải chết đi. Sống chưa chắc đã là truyện vui, chết chưa chắc đã là truyện buồn, sự sống mà không có giá trị thì vui ở đâu? Cái chết mà có giá trị thì sao phải buồn?

Nếu như biết được rằng sinh và tử là quá trình tất yếu thì bản thân, thì sự sống chính là có tôn nghiêm. Bởi thế, sinh tồn không hề phiền phức đáng thương, cái chết cũng không nên cảm thấy bi ai đau khổ. mà cần phải xem thái độ của chúng ta đối với sinh tồn và cái chết mà lập định.

Nếu cuộc sống sinh tồn không có tôn nghiêm, thì cái chết có gì đáng tiếc? Sự sống cũng đâu có gì đáng vui? Ngược lại, nếu cái chết rất có tôn nghiêm, thì cái chết đó có gì đáng để bi ai?

3. Sự tôn nghiêm của sự sống là sống có ý nghĩa, có giá trị, có mục tiêu để thể nghiệm và hiểu biết.

sự sống của con người chính là một giai đoạn, một quá trình của sinh và tử. Tôn nghiêm của sự sống có thể được xác lập từ nhiều phương diện như quan hệ chuẩn tắc đạo đức, góc độ xã hội, phán đoán lịch sử, lý luận triết học và tín ngưỡng Tôn giáo..v.v.

Dưới đây là ý nghĩa, giá trị và mục tiêu của sự sống được thảo luận từ lập trường của tín đồ Phật giáo:

(1)Ý nghĩa của sự sống: Nhìn từ lập trường của Phật giáo, sự sống vì thọ báo và lời phát nguyện mà tồn tại. Những lời nguyện trước đây của quá khứ nhất định sẽ được thực hiện. Nghiệp đã tạo trước đây của quá khứ, ắt phải thọ báo. Vì vậy cũng có thể nói sự sống là do sự thật của nhân quả mà tồn tại.

(2)Giá trị của sự sống: Giá trị của sự sống chẳng phải do người khác đánh giá phán đoán hay xác định một cách khách quan, mà là tự mình chịu trách nhiệm, hoàn thành trách nhiệm mà trong một đời cần phải hoàn thành, đồng thời cố gắng vận dụng sự sống có hạn để có cống hiến lớn nhất.

Mỗi người trên thế giới đều đóng các vai trò khác nhau, có thể là cha mẹ, vợ chồng, con cái, cũng có thể là thầy giáo, học sinh .v.v. đều cần phải tận tâm tận lực, cố hết sức mình, dùng tất cả vật chất và tinh thần để cống hiến cho số ít người bên cạnh mình, rồi cống hiến cho nhiều người trong xã hội, quốc gia, cho đến toàn thế giới mà không cầu bất kỳ sự đền đáp nào, đó chính là giá trị của sự sống. công việc tự lợi và lợi tha ấy chính là hành Bồ Tát đạo.

(3)Mục tiêu của sự sống: Sự sống cần có phương hướng lớn để làm nơi trở về vĩnh hằng của chính mình.

Tín đồ Phật giáo cần chia sẻ cho người khác tất cả những gì mình có, hồi hướng toàn bộ công đức cho tất cả chúng sinh. Đồng thời không ngừng phát nguyện, nguyện có thể tự mình trưởng thành và tự mình tiêu tan, với thái độ viên dung và siêu việt mà cống hiến không cùng tận. Nếu xây dựng được mục tiêu như thế, bất luận cuộc sống là ngắn hay dài thì đều cực kỳ có giá trị.

4. Sự sống và cái chết là một thể hai mặt, cho nên sinh tồn và chết đi đều là hiện tượng tất yếu trong thời gian và không gian vô hạn.

(1) Sống là quyền lợi, chết cũng là quyền lợi. Sống là trách nhiệm, chết cũng là trách nhiệm. Khi còn sống, chấp nhận nó, vận dụng nó. Khi kết thúc, chấp nhận nó và đối diện với nó.

Cho nên đối với người bệnh ung thư giai đoạn cuối, tôi sẽ khuyên họ rằng: “Đừng chờ chết, đừng sợ chết, sống thêm một ngày, một phút, một giây đều là tốt, hãy quý trọng sự sống đang còn”. Bởi vì sự sống và cái chết đều là hiện tượng tất yếu trong thời gian vô hạn. chưa đến lúc phải chết thì không nên cầu chết, nếu như sẽ phải chết mà ham sống cũng không có tác dụng gì.

(2) Sinh và tử có liên quan mật thiết. Mỗi người từ khi biết được sự thực bắt đầu có sự sống thì cần có tâm lý chuẩn bị đối diện với cái chết sẽ đến. Cái chết sảy ra có thể là người thân bạn bè, cũng có thể là chính mình, hơn nữa nó có thể sảy ra bất kỳ lúc nào. Đây không phải khiến chúng ta lo sợ cái chết hay dùng cái chết để hù dọa mọi người, mà là nếu từ nhỏ biết được sự thật về cái chết, thì có thể giúp chúng ta trưởng thành trí tuệ.

Khi Phật Thích Ca Mâu Ni còn trẻ đã phát hiện ra sự thật của sự sống là sinh, lão, bệnh, tử, mới thúc giục Ngài xuất gia tu hành, cuối cùng đạt đến đại trí tuệ, và cứu vớt loài người trên toàn thế giới.

Cái chết khi nào sảy ra, không ai biết được. Bởi vì biết nó sẽ đến, nhưng không cần thiết phải ưu sầu lo lắng không biết cái chết sẽ sảy ra lúc nào, chỉ cần sống một ngày, thì quý trọng sự sống một ngày, làm tròn trách nhiệm của mình, nỗ lực cống hiến một ngày.

Tôi có một vị đệ tử tại gia, ông ta rất tin vào số phận, và từng mời rất nhiều vị thầy tướng mệnh xem bói cho mình, họ đều nói ông ta chỉ sống đến 69 tuổi. Rồi đến năm đó, ông ta từ chức nghỉ làm, phân chia tài sản, chời đợi cái chết đến. Nhưng đến năm thứ hai ông ấy vẫn còn sống, thế là rất hối hận và đến hỏi tôi: “Sư phụ! Lẽ ra con đã phải chết rồi mà sao vẫn chưa chết? Ngài có biết là do nguyên nhân gì không?”

Tôi nói: “Có lẽ ông làm nhiều việc tốt đã tích đức, thời gian chết của ông đã bị thay đổi”.

Tôi lợi dụng cơ hội này khuyên ông ta: “Đừng sợ chết, đừng đợi chết, sống một ngày thì cố làm đúng trách nhiệm và cống hiến của một ngày, không quan tâm khi nào sẽ chết, miễn là vận dụng sự sống đáng quý của ông để tiếp tục sống cho tốt”.

Kết quả là ông ta sống đến 86 tuổi mới qua đời.

(III) Sinh từ đâu đến? Chết đi về đâu?

Nhiều người đứng từ lập trường triết học và tín ngưỡng Tôn giáo, xây dựng lý luận và quan niệm về sinh và tử. Cũng có người tin vào thần thông, dùng Túc mệnh thông, Thiên nhãn thông, để thấy quá khứ và tương lai. Những điều đó đều chỉ là sự hy vọng, nhìn nhận và theo đuổi của con người, thực sự không đáng tin cậy.

Tổng thể mà nói, triết học của Phiếm thần luận cho rằng sinh mệnh đến từ chỉnh thể của Thần, cái chết lại quy về Thần chỉnh thể. Duy vật luận của Triết học cho rằng sinh tử đều là hiện tượng vật chất, sinh như đèn cháy, tử như đèn tắt.

Học giả nhà Nho Trung Quốc từng nói: “triều văn đạo, tịch tử hà hĩ!” (nghĩa là: sáng nghe đạo, chiều có thể chết không nối tiếc vậy) Lại nói: “Sinh tử do mệnh”, “phó thác mặc trời”, cũng có nghĩa là, sinh tử là do số mệnh quyết định, tuy Khổng Tử cũng nói: “Chưa biết sinh, làm sao biết tử”. Nhưng trên thực tế nhà Nho chưa tiến thêm một bước giải thích sự sống là gì.

Lão Tử nói: “Xuất sinh nhập tử”, có sinh ra nhất định sẽ phải chết đi. Lại nói: “Nhân chi sinh, động chi tử địa”. Khi đang sống, con đường của cái chết đã bắt đầu khởi động rồi. Bởi thế, Lão Tử dạy chúng ta không nên lo lắng về vấn đề sinh và tử, chỉ cần “tôn đạo nhĩ quý đức”, “phu mạc chi mệnh nhĩ thường tự nhiên”, có nghĩa là, chỉ cần có đạo đức, còn về sinh tử của con người thì để cho nó tự nhiên là được, điều này rất có lý.

Tôn giáo phương Tây không tin con người có đời quá khứ, họ cho rằng sinh mệnh của con người là do Thượng đế sáng tạo ra và ban cho, khi chết đi cũng là bởi Thượng đế cho gọi về Thiên quốc. Tất cả đều do Thượng đế sắp xếp, không cần lo lắng về sinh và tử, điều này cũng coi như là một việc hạnh phúc và hoan lạc.

(IV) Sinh tử quan của tín đồ Phật giáo

Tín đồ Phật giáo tin có đời quá khứ, nhưng sinh từ đâu đến? Có phải thông qua thần thông để biết được hay không? Không cần thiết, bởi vì sinh mệnh của quá khứ là vô hạn, không thể tìm kiếm một đời lại qua một đời rốt cục là từ đâu đến. Phật giáo chủ trương chỉ cần cống hiến với nỗ lực lớn nhất, tu hành tốt nhất, các thứ khác như thế nào thì cứ để nó như vậy, tất cả để cho nó tự nhiên.

1. Sinh mệnh là một đoạn trong thời gian và không gian vô tận

Giai đoạn trong đời này của chúng ta chỉ là một đoạn trong quá trình sự sống vô cùng, vô hạn mà thôi. Giống như đi du lịch không ngừng, hôm trước ở Đài Loan, hôm sau có thể đã đến các nước Mỹ, Hồng Kông, thường xuất hiện rồi lại tiêu biến ở các nơi khác nhau. Sinh mệnh cũng giống như vậy, khi quá trình của một kỳ sinh mệnh đến giai đoạn cuối, thì quá trình của một kỳ sinh mệnh khác đang chờ đợi tiếp nhận. Bởi thế, cái chết không phải là kết quả của sự sống.

2. Sự sống là hiện tượng sinh diệt, còn được chia làm 3 loại:

(1)Sát na sinh diệt: Sát na, nghĩa là trong thời gian cực ngắn. Tâm lý và sinh lý của chúng ta, bao gồm các tổ chức tế bào trên cơ thể và tâm niệm luôn đang sinh khởi, luôn đang mất đi, không ngừng chuyển hóa cũ mới, không ngừng biến động, có sinh có tử, có khởi có diệt.

(2)Nhất kỳ sinh diệt: Quá trình từ lúc con người sinh ra đến khi chết đi, là một kỳ hoặc một giai đoạn sinh và tử.

(3)Tam thế sinh diệt: Bao gồm ba đời của quá khứ vô hạn, ba đời của tương lai vô tận và ba đời trong hiện tại trước mắt. Có nghĩa là quá khứ của quá khứ, hiện tại, tương lai. quá khứ của tương lai, tương lai, hiện tại. quá khứ của hiện tại, tương lai, hiện tại. Đối với giai đoạn hiện tại đời này mà nói, đời trước, đời sau và hiện tại chính là ba đời sinh mệnh.

Quan niệm và lý luận này, có thể đem đến cho chúng ta hy vọng và an ủi, cũng giúp chúng ta chỉ ra lý do cần phải tiếp tục sống trong đời này. Khi chết không nên tìm cách tự sát để kết thúc sự sống, như vậy là không có trách nhiệm với quá khứ, không chịu tận tâm tận lực với trách nhiệm của với hiện tại, thậm chí có thể gây rắc rối cho tiền đồ tương lai.

3. Hiện tượng thăng hoa của sinh và tử, chia làm 3 loại, cũng có thể nói là 3 đoạn:

(1) Phân đoạn sinh tử của chúng sinh phàm phu: Phân đoạn nghĩa là một giai đoạn, một giai đoạn, một quá trình, một quá trình, một đời lại một đời. Từ lúc sinh ra đến khi chết đi, từ lúc chết đi đến khi sinh ra. Phàm phu chỉ dừng lại ở giai đoạn này, chỉ có sinh tử, mà không nâng cao ý nghĩa và phẩm chất của sự sống.

(2)Sự biến đổi sinh tử của Thánh giả: Thứ tự từ giai đoạn Bồ Tát hoặc quả vị A La Hán, đến thành Phật, từng cấp từng cấp không ngừng nâng cao, đó gọi là biến đổi. Cũng là do dùng Phật Pháp để tu hành, trưởng thành, nâng cao phẩm chất sự sống, bởi thế, bản thân công đức từ bi và trí tuệ đang không ngừng được tịnh hóa.

(3) Bất sinh bất tử của Đại Niết Bàn: Hai loại trên đều có sinh có tử, nhưng đến quả vị thành Phật, cũng có nghĩa là khi đạt đến cảnh giới Đại Niết Bàn, thì đã vượt ra khỏi nhục thân, thực chứng Pháp thân, đạt đến bất sinh bất tử tuyệt đối, mà có thể bằng nhiều loại thân phận, xuất hiện phổ biến trong khổ hải sinh tử của tất cả chúng sinh, tuy vẫn còn hiện tượng sinh tử, nhưng đã không còn chấp trước, phiền não và bất an trong sinh tử nữa.

(V) Đối diện với cái chết như thế nào? Làm thế nào để có được sự trang nghiêm của cái chết?

1. Ba loại cấp bậc của cái chết

Nhìn từ lập trường của người tu thiền, cái chết có thể được chia làm 3 cấp bậc hoặc 3 loại thái độ:

(1)Sinh tử tùy nghiệp: Sinh và tử, tự mình không thể làm chủ, mơ mơ hồ hồ do người ta sinh, do người ta tử: sinh tử mờ mịt, sống trong cơn say chết trong giấc mộng.

(2) Sinh tử tự chủ: Biết rõ sinh và tử, sống thật tốt, chết cần dũng cảm; sống vui vẻ, chết dứt khoát.

(3)Vượt qua sự sinh và tử: Tuy có sinh có tử, nhưng đối với người hoàn toàn đã giác ngộ giải thoát, vượt qua sự sinh và tử mà nói, thì không ham sống, sợ chết; sinh và tử giống nhau, thậm chí căn bản không có việc đó.

2. Lấy lòng cảm ơn, tâm hoan hỷ để đối diện

Có thể sống thì bắt buộc cầu sinh tồn, không thể không chết thì vui vẻ chấp nhận. Cảm ơn sinh tồn cũng cần cảm ơn cái chết. Nỗ lực cầu sinh, khi sống cần nâng cao phẩm chất sự sống, tịnh hóa tâm linh của bản thân. Nhưng không được cầu chết, cũng không được sợ chết, phải có lòng cảm ơn đối với cái chết, bởi vì cái chết có thể giúp bản thân trút bỏ nghìn vạn trách nhiệm, đem công đức một đời đi về hành trình nơi có sự sống tràn đầy hy vọng và tươi sáng.

3. Đối với tương lai tràn đầy hy vọng

Hiện tượng của sinh tử giống như mặt trời mọc và mặt trời lặn. Khi mặt trời lặn, chỉ là ánh nắng biến mất trên đường thẳng của mặt đất, bản thân nó không hề tiêu biến. Khi mặt trời mọc, ánh nắng lại xuất hiện trên đường thẳng của mặt đất, bản thân nó cứ treo lơ lửng trong hư không.

Cơ thể của con người tuy có hiện tượng sinh và tử, thế nhưng mỗi người đều có Phật tính thanh tịnh, vĩnh viễn như mặt trời ở không trung. Bởi thế, cái chết không đáng sợ, không đáng đau buồn, không cần phải sợ hãi điều ấy. Đối với tương lai của chúng ta, cần tràn đầy hy vọng.

Cần lấy tâm vui vẻ, dũng cảm đối diện với cái chết, chấp nhận cái chết. Đối với hành vi một đời của bản thân, bất luận là thiện, là ác, đều phải cảm ơn, bởi vì đó là kinh nghiệm đường đời, không oán hận, không hối tiếc, không sân si, không kiêu ngạo. Quá khứ đã qua đi, trong lúc này hướng về tương lai tươi sáng là quan trọng nhất.

4. Tùy nguyện mà tu hành, tùy niệm mà vãng sinh

Tâm thái khi vãng sinh có 6 nhân tố có thể quyết định tương lai sau khi chết ra sao:

(1)Tùy nghiệp: Thiện nghiệp, ác nghiệp, loại nào nặng hơn thì sẽ đi về nơi đó.

(2)Tùy trọng: Chịu hết quả báo nghiệp nặng, tiếp theo chịu quả bảo nghiệp nhẹ.

(3)Tùy tập: Không làm việc đại thiện, đại ác, nhưng có thói quen đặc biệt mãnh liệt, khi lâm chung liền tùy thói quen mà đi đầu thai nơi khác.

(4)Tùy duyên: Nhân duyên nào chín mùi trước thì sẽ đi đến nơi đó.

(5)Tùy niệm: Khi lâm chung xu hướng tâm niệm sẽ quyết định nơi đến.

(6)Tùy nguyện: Tâm nguyện của người lâm chung là gì thì sẽ quyết định sau khi chết sẽ đi về nơi đó.

Tín đồ Phật giáo cần phải tu hành đến mức tùy niệm, tùy nguyện, nếu biến thành tùy nghiệp, tùy trọng, tùy tập, tùy duyên thì vô cùng đáng thương.

5. Trợ niệm cho người lâm chung

Người lâm chung nếu đã rơi vào hôn mê, không còn năng lực tự chủ tự tri, người thân lúc đó nên định tâm vì người ấy mà thành khẩn tụng kinh, trì chú, niệm danh hiệu Phật Bồ Tát, hoặc tu thiền bên cạnh người ấy, dùng định lực và tín lực giúp cho thần thức của người ấy tránh khỏi mơ hồ, hỗn loạn, mà có thể đạt đến an định, đi về hướng ánh sáng, như vậy mới không khiến họ bị đọa xuống, mà còn có thể được siêu sinh.

6. Vãng sinh trong bình an, yên tĩnh

Sự tôn nghiêm của cái chết, nguyên tắc là không được đi ngược với bình an và yên tĩnh, không được khiến cho người lâm chung đau khổ ra đi. Bất luận là sự đau khổ về thể xác hay tinh thần, đối với người chết đều không có lợi mà là có hại. Chết một cách bình an là sự tôn nghiêm của cái chết, nhất định không được hoảng loạn mà sử dụng máy móc cấp cứu, không được lớn tiếng khóc lóc kêu trời kêu đất. Quan trọng là giúp người lâm chung bình an, yên tĩnh, an tường, ấm áp rời khỏi nhân gian.

(Ngày 27 tháng 10 năm 1996, giảng tại chùa Đông Sơ Thiền New York, cư sĩ Diêu Thế Trang chỉnh lý, bài viết được ghi chép trong “Nhân gian bình an”)

II. Cúng tế theo nghi thức của Phật giáo

(I) Lời nói đầu

Đời người có bắt đầu có kết thúc, cũng như tất cả các hiện tượng của giới tự nhiên, có khởi tất phải có diệt, có sinh tất phải có tử. Cho nên từ khi sinh ra đến khi chết đi, là quá trình mà đời người phải trải qua, đó cũng là hiện tượng tự nhiên của vũ trụ. Tuy đối diện giữa sự sống và cái chết, tình thân tình bạn đều có đau buồn sâu xa, nhưng đó cũng là sự thực không thể tránh khỏi.

Bởi thế đời người cần phải coi trọng khi bắt đầu và kết thúc thật thận trọng, dưỡng lúc sinh và tôn coi trọng cái tử. Muốn có được giá trị của sự sống, thì cũng cần có được giá trị của cái chết. sinh đúng nơi đúng lúc, chết cũng được an ủi, mới có thể thể hiện giá trị của sự sống và ý nghĩa của cái chết, như vậy mới có thể bù đắp những tiếc nuối về sinh ly tử biệt.

Nhìn từ quan điểm Phật giáo đối với quá trình của sự sống, khi sinh ra đương nhiên là ôm ấp một niềm hy vọng vô hạn mà đến, khi chết cũng đem đi những triển vọng tươi sáng. Cho nên đời người kết thúc không phải chuyện vui nhưng cũng không phải chuyện buồn, mà là một việc Phật sự trang nghiêm.

Bất kỳ sự hình thành nào của một loại tập tục (tập quán) đều có ảnh hưởng riêng của bối cảnh thời đại và môi trường xã hội, văn hóa Trung Quốc chú trọng luân lý và hiếu đạo, đó là di sản dân tộc của nước nhà, nhưng về phương diện lễ nghi đám tang, có nhiều tình tiết đã không còn thiết thực với văn minh hiện đại, thậm chí một số báo đài quốc tế lấy hình ảnh tang lễ của Đài Loan làm chuyện lạ về kỳ phong dị tục, để giới thiệu cho người xem của họ.

Còn người đương sự trong nước, người vãng sinh đã không còn cơ hội để chủ trương việc của mình, người thân của người vãng sinh thì hơn nửa chỉ có thuận theo phong tục xa xưa. số ít tuy có tâm làm hậu sự cho người vãng sinh, làm rất có giá trị, nhưng lại không biết bắt đầu làm từ đâu. Cố gắng tuyệt đối làm rất nhiều nghi lễ, ngoài việc cố gắng có thể bố trí bề mặt nhộn nhịp, trên thực tế thì lại không làm cho người vãng sinh có được sự tôn nghiêm đáng có, và cũng không thể an ủi đúng lúc cho người sống. Trong lúc tiến hành nghi lễ thì cảm thấy buồn rầu mờ mịt, sau khi hoàn thành nghi lễ càng thêm phần thương sót và bi ai.

Mỗi lần đến ngày gọi là ngày tốt, nhà tang lễ luôn không đủ chỗ để dùng, vì thế cố gắng rút ngắn thời gian làm lễ, qua loa cho xong việc, linh cữu cũng chỉ dừng ở gần bên đường đầu ngõ, tăng thêm sự nuối tiếc của việc tiễn đưa, và cũng gây ra sự bất tiện cho người khác. Nếu từ quan điểm Phật giáo mà nói, ngày ngày đều là ngày tốt, không có vấn đề gì cả.

Pháp Cổ Sơn vì muốn đề xướng bảo vệ môi trường nghi lễ, phát huy tinh thần luân lý vốn có của Trung Quốc, từ tín ngưỡng Phật giáo và lập trường của người hiện đại, thúc đẩy coi trọng ma chay, cúng tế theo nghi thức của Phật giáo thì âm dương đều được lợi. Với nguyên tắc đơn giản hóa, tiết kiệm, tích phúc, trồng phúc, để hoàn thành Phật sự một cách long trọng, nghiêm túc, yên bình và trang nghiêm. Với mục đích tha thiết tưởng niệm và thành kính chúc phúc cho người vãng sinh, an ủi và quan tâm người thân bạn bè của người vãng sinh. Khiến mọi người cảm nhận được điểm cuối của đời người không phải là kết thúc sự sống, mà là sự tiếp tục vô hạn và liên tiếp viên mãn.

Chúng ta khuyên tín đồ Phật giáo nên hưởng ứng cúng tế theo nghi thức của Phật giáo, cũng hy vọng mọi người trong xã hội đồng ý chấp nhận nghi thức tang lễ Phật giáo và đều đến tiếp nhận phục vụ của chúng ta. Nghi lễ của Linh đường được bố trí bằng phương thức của Phật giáo, tràn đầy không khí trang nghiêm, mềm mại, ấm áp. Hy vọng tất cả người tham gia nghi lễ đều mặc quần áo dài tay dài chân màu đen. Đối với người vãng sinh mà nói, linh đường chính là khởi điểm vãng sinh Tây phương Phật quốc. Đối với người sống mà nói, là cùng đến đây để tiễn chúc vị Phật tương lai trở về Tây phương Tịnh độ.

(II) Phật sự trang nghiêm âm dương đều được lợi

1. Phật sự là gì?

Theo nghĩa rộng, những việc như tin Phật, cầu Phật, thành Phật, đều là Phật sự. Phật nói người người đều có thể thành Phật, chỉ cần có thể tin phục và tôn kính phương pháp thành Phật mà Phật đã nói và làm theo, ắt sẽ thành Phật. Phạm vi của Phật sự có rộng và hẹp, gọi là “Phật Pháp vô biên” nghĩa là phương pháp thành Phật vô cùng nhiều.

Đối tượng chủ yếu làm Phật sự là con người, lấy phúc tuệ song tu làm mục tiêu, trong đó đọc kinh, tụng kinh, nghe Pháp, thuyết kinh, niệm Phật, lễ Phật, ngồi thiền là “tu tuệ”. Bố thí, nhẫn nhục, trì giới, cúng dường Tam Bảo, kính hiếu cha mẹ, kính trọng sư trưởng, bố thí rộng khắp người nghèo, người bệnh là “tu phúc”. Cần phải phúc tuệ song tu mới là con đường đúng đắn làm Phật sự mà Phật pháp đã nêu.

Đối tượng siêu độ của Phật Pháp là lấy người sống làm trung tâm, nếu thường ngày không tu hành, lúc lâm chung mới đến ôm chân Phật cầu cứu, tuy cũng có công đức, nhưng không thiết thực và đáng tin cậy bằng sự chuẩn bị hàng ngày. nếu tự mình không làm Phật sự, sau khi chết do người thân hoặc bạn bè làm thay, hiệu quả sẽ kém đi rất nhiều. “Kinh Địa Tạng” nói, giúp quyến thuộc đã mất làm bất kỳ Phật sự nào, có được 7 phần công đức, thì người sống được hưởng 6 phần, người vãng sinh chỉ được 1 phần mà thôi, cho nên chúng ta cần phải tự mình làm nhiều Phật sự khi còn sống.

2. Buông bỏ vạn duyên, nhất tâm niệm Phật

Công phu học Phật chủ yếu là dựa vào tu hành thường ngày. Giả dụ thường ngày không tu trì Phật pháp, khi lâm chung vẫn còn một cách cứu vớt, đó là căn cứ theo đạo lý “tùy niệm vãng sinh”, khuyên người bệnh trút bỏ vạn duyên, nhất tâm niệm Phật, không được tâm hoảng ý loạn, cũng không được tham luyến người thân bạn bè và tài sản sự nghiệp. Yêu cầu mọi người cùng niệm Phật, khiến tâm niệm của người lâm chung hòa nhập vào tiếng niệm Phật một cách thành kính tha thiết. Như thế, sau khi chết có thể vãng sinh Tịnh độ Phật quốc, giả dụ tuổi thọ chưa hết thì cũng có thể bởi công đức niệm Phật ấy mà người bệnh mau chóng hồi phục sức khỏe, phước thọ tăng trưởng.

Giúp người vãng sinh làm Phật sự, cần dùng lòng thành kính, cung kính, nghiêm túc, trang nghiêm. Yêu cầu người thân bạn bè nếu có thể thì cố gắng toàn thể cùng tham gia, có thể cùng trì tụng là tốt nhất, hoặc tùy theo cá nhân tham gia, lắng nghe, lễ bái cũng được. Lòng thành kính, cung kính của người thân bạn bè của người vãng sinh có thể cảm ứng nguyện lực từ bi của chư Phật Bồ Tát, dùng Phật pháp cứu vớt và khai đạo cho người vãng sinh, hóa giải nghiệp lực của phiền não, có thể dứt khổ siêu sinh. Nếu người thân bạn bè không hề quan tâm đến Phật sự, và cũng không tham gia, cũng không lễ kính, thì lợi ích đối với người vãng sinh tuy cũng có nhưng rất ít, cho nên thực sự cần tự mình làm Phật sự.

(III) Yếu tố cần thiết khi chăm sóc người lâm chung

1. Phương pháp trợ niệm

Căn cứ “Kinh Quán Vô Lượng Thọ” khi Phật A Di Đà mới phát nguyện, từng mở ra phương tiện thù thắng. Tuy người phạm thập ác ngũ nghịch, khi lâm chung, nếu dạy họ niệm Phật, tiếng niệm không ngừng, đầy đủ mười niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, liền được vãng sinh Tịnh độ. Bởi thế, đối với người bệnh nặng mà nói, trước tiên cần giúp họ biết được và có lòng tin, chỉ cần niệm Phật ắt sinh Tịnh độ. Khuyên họ niệm Phật, và trợ giúp họ niệm Phật, trợ giúp họ chí tâm niệm danh hiệu Phật, như vậy là mượn sức mạnh của người trợ niệm cộng thêm sức bản nguyện của Phật, giúp cho người lâm chung vãng sinh Tịnh độ.

Phương thức trợ niệm, có thể chia thành hai đoạn như sau:

(1) Đối với người tinh thần còn minh mẫn:

Trước tiên nên thuyết Pháp an ủi, khuyên họ nhất tâm niệm Phật, do người xuất gia hoặc các cư sĩ hoặc người thân trợ niệm. Tuyên nói: các vị cư sĩ, bây giờ quý vị đừng nghĩ gì hết, mà nghe rõ vài câu Phật pháp. Phật nói con người có sinh, lão, bệnh, tử, đó là hiện tượng tất yếu, cho nên không cần quá lo sợ cái chết. Sau khi rời khỏi nhân gian, nếu có thể vãng sinh về Tây phương Phật quốc, thì là hạnh phúc nhất. Bây giờ, hãy lấy tất cả công đức của các việc thiện mà quý vị đã làm trong suốt cuộc đời, cầu sinh về Phật quốc, nhất tâm xưng niệm ‘Nam Mô A Di Đà Phật’. Nếu quý vị chưa đến lúc vãng sinh, Phật A Di Đà là đại y sĩ, Ngài sẽ giúp quý vị khỏe mạnh bình phục. Bây giờ, đại chúng đến trợ niệm cho quý vị, nếu quý vị có thể niệm, thì niệm nhỏ tiếng theo chúng tôi, nếu không thể niệm, thì nghe chúng tôi niệm danh hiệu Phật, trong tâm niệm nhẩm theo. Đừng nghĩ gì hết, nhất tâm cầu Phật A Di Đà đến tiếp dẫn quý vị vãng sinh Tịnh độ Phật quốc”.

(2) Đối với người bệnh yếu mà tinh thần không còn minh mẫn:

Tuy người bệnh tinh thần không còn minh mẫn, vẫn cần khai thị Phật pháp cho họ. Tinh thần không còn minh mẫn có thể chia làm hai loại: Một là cơ thể tuy không thể cử động, mắt không thể nhìn, miệng không thể nói, nhưng tâm vẫn minh mẫn rõ ràng, tai có thể vẫn còn nghe thấy, cho nên khi tinh thần họ còn minh mẫn, có thể khai thị ngắn gọn cho họ. Hai là đã ngừng thở, sinh lý đã chết, nhưng thần thức họ lại cho rằng mình vẫn còn sống, hoặc vẫn ở di thể mà chưa rời ra, bởi thế, vẫn phải thuyết Pháp trợ niệm cho họ.

Chúng ta đã biết sau khi con người chết đi, thần thức vẫn chưa lập tức rời khỏi cơ thể, cho nên thời gian trợ niệm bình thường là 8 đến 12 tiếng đồng hồ, không được tùy tiện niệm mấy câu cho xong việc. Người trợ niệm phải chia thành nhiều tổ, mỗi tổ thay phiên nhau trợ niệm 2 tiếng đồng hồ. Khi niệm, bản thân người trợ niệm phải chăm chú nhất tâm nhất ý, âm thanh phải đều rõ ràng, không được quá nhanh quá lớn tiếng, cũng không được bi thảm hoặc gấp gáp, mà phải nghiêm túc, trang nghiêm, bình tĩnh, hòa hợp, niệm một cách nhẹ nhàng, giúp cho người bệnh bình tĩnh, thoải mái, vui vẻ, tự tại mà vãng sinh.

Lại có người dùng máy ghi âm niệm Phật để trợ niệm, bởi máy niệm Phật không có tâm, cho nên hiệu quả có hạn. người niệm Phật, nhất là người thân thành kính trợ niệm, hiệu quả tốt hơn, bởi có thể nhờ tâm nguyện, lòng tin của người trợ niệm mà cảm ứng nguyện lực của Phật A Di Đà. Máy ghi âm tuy cũng có thể thúc đẩy người bệnh niệm Phật, nhưng không khí và hiệu quả thì kém hẳn so với có người trợ niệm, đó là hai việc khác nhau, trừ phi bất đắc dĩ, còn không tốt nhất không nên dùng máy ghi âm thay thế trợ niệm.

2. Phương thức xử lý di thể một cách chính xác

Đứng ở lập trường của Phật pháp, sau khi người bệnh tắt thở, hơi thở đã ngừng, nhưng thần thức vẫn chưa rời đi, cần trải qua một khoảng thời gian, toàn thân lạnh ngắt, thần thức xuất ly, mới được coi là chết. Trước khi thần thức chưa rời khỏi, chính là lúc tâm linh đau khổ nhất, lúc này tiếng khóc của người thân hoặc bất kỳ sự động chạm vào di thể, cũng đều sẽ làm tăng thêm đau khổ cho người vãng sinh, để giúp cho người vãng sinh có thể chết yên lành, tốt nhất là ở bên cạnh họ yên tĩnh niệm danh hiệu “A Di Đà Phật”, bởi vì kinh Phật nói rằng, người vãng sinh khi lâm chung chỉ cần nghe thấy một câu danh hiệu Phật thì sẽ không bị đọa vào đường ác chịu khổ.

Những sai lầm nói chung khi mọi người xử lý di thể thường phạm phải, khi người bệnh ngừng thở ngoài việc lập tức khóc lóc bi ai, mà còn ôm ấp người bệnh than vãn, tùy ý di rời, miễn cưỡng để họ nằm xuống, vội vàng tắm rửa thay quần áo, tiêm thuốc trợ tim, những hành động ấy tưởng rằng là thương yêu mà ngược lại lại là hại họ.

Ngoài ra, người Trung Quốc có quan niệm nếu vãng sinh ở ngoài thì không được đem về nhà, cho nên có nhiều gia đình mau chóng đưa người bệnh từ viện về nhà, khiến cho người bệnh thân tâm chịu đủ đau khổ. Trên thực tế, quan niệm di thể người vãng sinh không được đem về nhà là không có tình người, người nhà bệnh nhân không nên vì mê tín mà khiến người sống, người vãng sinh đều hối tiếc.

Bởi vì thần thức chưa rời đi, vẫn còn chấp trước di thể, nên người vãng sinh vẫn cảm thấy đau khổ cũng giống như người bình thường vậy. Người thường còn có thể kêu đau kêu cứu, ra sức kháng cự. Nhưng đối với người vãng sinh vẫn còn thần thức mà nói, tuy đau đến tận xương tủy, nhưng lại không thể mở miệng để nói, đồng thời bởi người sống không hiểu rõ những kiến thức về lâm chung, mà làm cho người vãng sinh cảm thấy đau khổ rồi sinh tâm sân hận, khiến thần thức của họ rơi vào đường ác, đó không phải là điều mà người thân của người vãng sinh mong muốn.

Để duy trì nhân đạo, làm tốt hiếu đạo, khi người bệnh tắt thở nhưng thần thức vẫn chưa rời đi trong vòng 8 tiếng đồng hồ, phòng bệnh nên được duy trì yên tĩnh, cố gắng không được có các hành động di chuyển đã nêu ở trên, để bảo đảm thần thức của họ được yên bình. Nhưng quan niệm Phật giáo cũng có tính co dãn, trong trường hộp đặc biệt, thì vẫn có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh.

Ví dụ: Khi còn sống có lập di chúc tặng bộ phận cơ thể, đây là tinh thần Bồ Tát đạo xả mình cứu người, không những không cản trở vãng sinh Phật quốc, mà còn làm tăng thượng duyên vãng sinh Phật quốc. Hoặc nếu không kịp nhập liệm làm tang, có thể sẽ gây ô nhiễm và nhiễm bệnh đối với vệ sinh công cộng, thì cũng nên lập tức xử lý di thể.

Ngoài ra, nói chung mọi người cho rằng gặp phải các trường hợp tử vong do tai nạn hàng không, lụt lũ, giao thông, hỏa hoạn, động đất, chiến tranh hoặc các loại tai nạn ngoài ý muốn khác, đều là chết uổng, thực ra đó là cái nhìn sai lầm. Cái chết của họ thực ra là thay chúng sinh thọ báo, bởi thế họ là Bồ Tát hiện thân thuyết Pháp, là thầy giáo lấy sinh mệnh làm tài liệu dạy học cho chúng ta. Chúng ta cần phải cảm ơn họ, và chúc phúc cho họ, họ đều là Bồ Tát, đương nhiên đều sẽ vãng sinh vào đường tốt.

Phật giáo coi trọng việc đối đãi sự tôn nghiêm của cái chết, là ở chỗ hy vọng tâm thái của mọi người trong việc xử lý làm tang cần phải trang trọng, cung kính, chứ không phải hạn chế câu nệ trong một hình thức nào cả.

3. Tang lễ đơn giản và long trọng

Nghi lễ làm tang theo nghi thức của Phật giáo cần long trọng, đơn giản, ngoài người thực hiện nghi lễ ra, chủ thể phải là Pháp sư hoặc cư sĩ chủ trì nghi thức này dẫn dắt mọi người tụng kinh cho người vãng sinh. Đại chúng tham gia đều nên cầm một quyển kinh Phật cùng trì tụng. Nội dung trì tụng tốt nhất là những bài văn và kệ tụng ngắn gọn, như “Tâm Kinh”, “Vãng Sinh Chú”, kệ tán Phật, danh hiệu Phật, kệ hồi hướng. Sau đó người chủ trì giới thiệu cuộc đời của người vãng sinh, và những công đức làm thiện, lợi người, học Phật của người vãng sinh, đồng thời khai thị một cách ngắn gọn, vừa là hóa độ người vãng sinh siêu sinh Tịnh độ Phật quốc, đồng thời cũng là để an ủi, khêu gợi người thân bạn bè của người vãng sinh nghe Pháp tu hành. Bởi thế nghi lễ cúng tế của Phật giáo vừa là khởi điểm hoặc quá trình giúp cho người vãng sinh đi lên con đường thành Phật, và cũng là cơ hội tốt để người sống tu học Phật pháp và hoằng Pháp lợi sinh.

Căn cứ nguyên tắc phương tiện và tiết kiệm, thời gian trước và sau khi cúng tế tại nhà và cúng tế ở ngoài không nên quá một tiếng đồng hồ, tốt nhất là nửa tiếng đồng hồ. Còn đội nhạc Trung Tây hoặc nghi thức xe hoa, đều là hư vinh phô trương, việc này đối với người không phải là tín đồ Phật giáo tuy có tác dụng an ủi vong linh, nhưng đối với tín đồ Phật giáo thì lại sẽ làm rối loạn người vãng sinh nhất tâm cầu siêu sinh Tịnh độ Phật quốc.

Đối với tín đồ Phật giáo và đại chúng nói chung xử lý di thể thường áp dụng phương thức chôn cất và hỏa táng, song với hình thái xã hội hiện tại, hỏa táng là phương thức lý tưởng hơn, vừa sạch sẽ, đơn giản, lại vừa có thể gửi tro cốt sau khi hỏa táng vào trong tháp của chùa, giúp người chết gần bên Tam Bảo, nghe vấn Phật pháp, thực sự là một công đôi việc.

Tóm lại, nghi lễ đám tang của Phật giáo lấy đơn giản, trang nghiêm, long trọng làm nguyên tắc.

(IV) Quy trình xử lý cơ bản

1. việc cần làm cho người lâm chung

(1) Trường hợp đưa vào bệnh viện cấp cứu nhưng không có hiệu quả, nếu bệnh viện có phòng trợ niệm, đồng ý cho người nhà trợ niệm, thì có thể xem xét ý muốn của người bệnh hoặc người thân của họ giữ lại trong bệnh viện hay đưa trở về nhà. Nếu bệnh viện không cho phép làm trợ niệm, thì có thể xem xét tình hình khi người bệnh đang hấp hối (cho dù đã vãng sinh cũng không có trở ngại gì) mà đưa người bệnh về nhà sắp xếp.

(2) Sau khi người vãng sinh ngừng thở, người thân không được níu kéo khóc lóc, cũng không nên gấp gáp tìm người phục vụ mai tang. Mà có thể liên lạc với các hội Phật tử phát tâm trợ niệm, toàn tâm niệm Phật.

(3) Có thể đắp “áo vãng sinh” cho người vãng sinh, đầu di thể hướng vào trong, chân hướng ra ngoài, và cung thỉnh tượng Tây Phương Tam Thánh về đặt ở nơi sạch sẽ trong nhà, giúp cho đại chúng sinh khởi chính niệm.

(4) Sau khi trải qua 8 đến 12 tiếng đồng hồ, mới làm sạch cơ thể, thay quần áo và di rời thi thể đến đại sảnh (hoặc đưa gửi ở nhà tang lễ).

(5) Dùng dây kéo quanh bốn phía di thể, rồi treo màn che bằng vải vàng. Đặt bàn thờ vong linh trước màn che, có thể dùng khăn trải bàn bằng vải vàng hình vuông trải lên bàn, trên bàn đặt hai lọ hoa tươi, cúng quả, đèn hoa sen hoặc một đôi nến, một bát hương, một cốc nước cúng, và ảnh của người vãng sinh. Không cần làm cơm (tức bát cơm cắm 2 cây đũa lông) cúng người chết, không cần đốt tiền vàng.

2. Nhập liệm

(1) Khi nhập liệm người nhà phải thành kính niệm Phật, không được khóc lóc hoặc cười nói.

(2) Quần áo người vãng sinh mặc, theo quan niệm tích phước, lấy nguyên tắc sạch sẽ gọn gàng là chính, quần áo cũ giặt sạch cũng được, không cần theo tập tục mặc 5 - 7 lớp quần áo, để tránh lãng phí lại tổn phước.

(3) Khi chôn người vãng sinh không được đeo trang sức, đồ vật mà họ yêu thích khi còn sống, bởi vì sẽ làm tăng sự chấp trước của thần thức.

3. Thời gian để tang

(1) Sau khi người vãng sinh đã vãng sinh, tốt nhất bắt đầu từ lúc qua đời, luôn luôn trợ niệm danh hiệu Phật cho người ấy.

(2) Có thể trong bảy bảy 49 ngày, ngày nào cũng làm Phật sự là tốt nhất, nếu không 7 ngày hoặc 3 ngày đầu sau khi vãng sinh hoặc chỉ có 1 ngày, hoặc một ngày nào đó trong một tuần làm Phật sự, đều tốt cả, có thể xem xét tình hình cá nhân mà quyết định.

(3) Muốn siêu độ cho người thân đã mất, có thể cung kính, cúng dường chư Phật Bồ Tát, đọc tụng, thọ trì các loại kinh Phật. Hoặc làm bố thí, cúng dường tăng chúng xuất gia.

(4) Người thân của người vãng sinh có thể phát tâm trong vòng 49 ngày, ăn chay niệm Phật, giữ gìn năm giới thanh tịnh (không sát sinh, không trôm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu và ăn hành tỏi) đồng thời duy trì làm Phật sự như tụng kinh, niệm Phật hoặc làm siêu độ, in kinh, bố thí, cúng dường, lấy công đức hồi hướng cho người vãng sinh, như vậy âm dương đều có thể nhận được lợi ích.

4. Lễ đưa tiễn

(1) Bài trí linh đường trang trọng, trang nghiêm, cao nhã, đơn giản, không cần nhạc trống ầm ĩ.

(2) Tang phục (quần áo, giày) của người nhà đều màu đen dài tay, thay thế cho áo gai, giày cỏ không hợp thời đại, và dùng tràng hạt màu thô “để tang”, vừa có thể niệm Phật hồi hướng cho người vãng sinh ở mọi lúc, vừa tránh được sự cấm kỵ hoặc không vui của người khác khi ra vào những nơi khác nhau trong thời gian để tang.

(3) Người thân bạn bè đến truy điệu đều mặc quần áo và giày màu đen, không cần đội khăn đội đầu, băng tang, khăn quấn bụng .v.v.

(4) Không được sát sinh làm cỗ mặn chiêu đãi người thân bạn bè, càng không được dùng rượu thịt cúng tế người vãng sinh, trước linh thể nên cúng dường hương hoa, oản quả, đồ chay.

(5) Đặt giỏ hoa, vòng hoa, câu đối trướng. Nếu người thân bạn bè đến viếng biếu tiền, ngoại trừ gia đình nghèo khó giữ lại chi phí làm tang và sinh hoạt phí, còn không thì tốt nhất tất cả đều đem cúng dường Tam Bảo, hoằng Pháp lợi sinh và làm công ích từ thiện, hồi hướng công đức đó cho người vãng sinh.

(6) Báo cáo công đức của người vãng sinh khi còn sống, giúp người tham gia lễ tang biết được các thiện đức của người vãng sinh khi sống, khiến cho người vãng sinh cảm thấy đời này không uổng phí, và khích lệ người sau học tập người đi trước. Đọc nội dung có thể bao gồm sinh và ngày tháng năm mất, nơi sinh, địa điểm và thời gian quy y Tam Bảo, thọ giới và Pháp danh, việc làm thiện, tình hình tu trì, vinh dự gia đình, do người lớn tuổi hoặc người điều hành nghi lễ hoặc Pháp sư chủ trì nghi lễ tuyên đọc, từ 3 đến 5 phút là được.

5. xuất linh cữu và đưa đám tang

(1) Do Pháp sư chủ trì hoặc cư sĩ thuyết Pháp khởi linh. Quyến thuộc nâng cữu đi theo xe tang, anh em họ hàng, bạn bè theo sau.

(2) Không được dùng loa phát thanh ầm ĩ dọc đường, nhưng nên mở đài ghi âm phát danh hiệu Phật trong xe tang, và cùng niệm Phật.

(3) Khi đưa đám tang, dọc đường không được rắc “tiền mua đường”, nếu không không những vi phạm nguyên tắc bảo vệ môi trường, mà còn làm cho tiền giấy bay vào nhà người khác khiến cho chủ nhà không vui.

(4) Toàn bộ quá trình phải được duy trì trong nghiêm túc, trang nghiêm, uy nghi, gọn gàng, để thể hiện lòng thành kính đối với Tam Bảo và tưởng niệm người vãng sinh.

(V) Chuẩn bị trước, giảm bớt hối tiếc

Nói chung mọi người khi vãng sinh đều dựa vào người thân làm Phật sự cứu độ siêu sinh, hoặc làm Phật sự để trang trí vẻ ngoài. Thực ra lúc còn sống tự mình tu trì học Phật pháp còn dễ và bảo đảm hơn là khi chết người thân giúp làm siêu độ vãng sinh. Cho nên trước khi vãng sinh, cần tự mình làm công đức, khiến cho bản thân sinh tâm hoan hỷ, tâm thành kính, tâm sám hối, tâm niệm Phật. Nếu khi còn khỏe mạnh, tự phát tâm tu hành trồng phúc, lễ Phật, niệm kinh, giữ trai giới, phát đại nguyện, cộng thêm trợ niệm khi lâm chung, ắt sẽ “vãng sinh”.

Để tránh người thân xử lý không hợp lý, ảnh hưởng đến vãng sinh đại sự, thường ngày cần phải nhắn nhủ, dặn dò người thân một cách rõ ràng về ý chỉ của mình. Tốt nhất nên viết di trúc trước, đừng cho rằng nói về lâm chung là không cát tường mà cấm kỵ mà không đề cập đến.

Nếu như mắc bệnh nặng có thể dặn bảo người thân, nếu có người đến thăm thì đều mời họ giúp niệm Phật, đừng nói chuyện nhàn rỗi. Kinh Phật nói công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn. Niệm một câu danh hiệu Phật có thể tiêu trừ tội nặng sinh tử nhiều kiếp. Vì thế, niệm Phật có thể siêu độ vong linh quỷ Thần, hóa giải oán kết, tiêu trừ nghiệp chướng, giúp bản thân có thể thuận lợi vãng sinh thế giới Cực Lạc.

(Bài viết này viết cho đoàn trợ niệm Pháp Cổ Sơn)

III. Vì sao phải làm Phật sự

(I) Lời nói đầu

Mọi người nói chung vì các nhân duyên như coi trọng ma chay, nhớ ơn Tổ tiên, báo đáp thân ân, hoặc siêu độ cho quyến thuộc, kỷ niệm cố hữu, hoặc chúc phúc trường thọ, tiêu tai tránh nạn .v.v. mà làm Phật sự trang nghiêm và long trọng. Chúng ta tiêu tốn rất nhiều vật chất, tài lực và nhân lực để thành tựu thiện cử đó, nhưng ý nghĩa thực sự của làm Phật sự là gì, chúng ta đã hoàn toàn hiểu rõ hay chưa? Xin hãy đọc kỹ bài viết này, vậy thì bài học về làm Phật sự càng có ý nghĩa hơn, càng có công đức hơn. Bởi vì trong đây sẽ giới thiệu định nghĩa Phật sự, lợi ích của Phật sự, vấn đề của cái chết, tính chất của vong linh, và ý nghĩa của tụng kinh, lễ sám hối, siêu độ vong linh.

(II) Thế nào là làm Phật sự?

Nói theo nghĩa rộng: phàm các việc như tin Phật, việc cầu Phật, việc thành Phật, đều gọi là Phật sự. Phật nói người người đều có thể thành Phật, chỉ cần quý vị tin vào phương pháp thành Phật mà Phật đã nói, thực hành theo Pháp, tất sẽ thành Phật. Cho nên phạm vi thành Phật có rộng có hẹp, “Phật Pháp vô biên” nghĩa là có rất nhiều phương pháp để thành Phật, nhiều đến mức không thể nói hết, ví dụ: Lễ Phật, niệm Phật, dừng các việc ác và làm các việc thiện, nói những lời mà Phật nói, làm những việc mà Phật làm. Cần phải “trì tất cả các tịnh giới, không có tịnh giới nào là không trì. Tu tất cả các thiện Pháp, không có thiện Pháp nào là không tu. Độ tất cả chúng sinh, không có chúng sinh nào là không độ”. Nói một cách khác đó là “không làm các việc ác, làm tất cả các việc thiện”. Cũng có nghĩa là tích cực tự cứu mình, rồi cần tích cực cứu người.

Bởi vì Phật giáo chủ trương thành Phật thì cần bắt đầu từ việc xây dựng một nhân cách hoàn mỹ, cho nên đầu tiên cần khuyên người không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói rối, không uống rượu, những điều này rất giống với Ngũ thường của nhà Nho: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Tiến thêm một bước cần giúp người trở thành Thánh nhân vượt ra khỏi phàm phu, Thánh nhân mà Phật giáo nói đến là người đã giải thoát các loại khổ não nhân gian, ví dụ: sinh và tử, lão và bệnh .v.v. Cảnh giới sau khi giải thoát những khổ não ấy, chính là mục đích của Phật giáo.

Làm thế nào để đạt đến mục đích giải thoát khổ não sinh tử, thì cần tin vào các phương pháp mà Phật đã nói và thực tiễn làm theo. Xem kinh sách, tụng kinh, nghe kinh, nghĩa là xem, tụng, nghe về giải thoát sinh tử đều là phương pháp thành Phật. Cho nên Phật sự thực sự là yêu cầu tự mình làm.

Nhưng đối với những người không hiểu Phật pháp, không biết tu hành, khi cha mẹ hoặc người thân qua đời, lúc đó không có biện pháp nào khác, chỉ còn cách mời người xuất gia về giúp làm Phật sự, thực sự cũng có lợi ích. “Phật sự” được nói trong bài viết này, đại bộ phận là trọng về giải thích theo phương diện mang nghĩa hẹp.

(III) Mời người xuất gia làm Phật sự có tác dụng gì?

Người xuất gia là người tu trì Phật pháp, cũng là người hoằng dương Phật pháp. Là người chuyên nghiệp tu hành, cũng là người hành nghề hoằng Pháp. Bởi vì họ làm Phật sự có lợi ích cho người, cũng có công đức cho bản thân, chúng ta cúng dường họ những thứ cần thiết trong cuộc sống, giúp họ yên tâm làm Phật sự, quý vị cũng gián tiếp có được công đức. Cho nên Phật nói Tăng Ni xuất gia là ruộng phúc công đức của mọi người.

Tuy người tu hành Phật pháp thực sự coi trọng Pháp môn cứu vớt người lúc lâm chung. Nhưng trách nhiệm của người xuất gia không phải chuyên về siêu độ vong linh, thậm chí có thể nói, đối tượng chủ yếu mà người xuất gia cần siêu độ là người sống chứ không phải người chết.

(IV) Lúc lâm chung thì phải làm sao?

Khi con người sinh ra thì vận mệnh nhất định phải có chết đi, cho nên cảnh sinh ra chưa chắc đáng mừng, cảnh chết đi cũng chưa chắc đáng buồn. Nói theo Phật pháp thì nếu chưa xuất ly sinh tử, thì đều là người đáng thương!

Bởi vậy, người tin Phật học Phật, Phật sự làm thường này, khi lâm chúng sẽ đắc lực nhất. Ngày thường nếu chăm chỉ tu hành, sau khi lâm chung xẽ xuất ly khỏi sinh tử của phàm giới mà vãng sinh về Tịnh độ Phật quốc.

Con người sau khi chết thì hướng đi sẽ có 3 loại năng lực quyết định họ thăng lên hay đọa xuống: (1) Tùy trọng: là tùy theo nghiệp nặng nhất trong các nghiệp thiện ác do mình tạo ra, mà đi thọ báo. (2) Tùy tập: là tùy theo một loại thói quen mà thường ngày khó trừ nhất, mà đầu thai vào môi trường tương dẫn cùng loại. (3) Tùy niệm: là tùy theo ý niệm khi lâm chung, mà thọ sinh vào lục đạo, hoặc sinh về Tịnh độ Phật quốc.

Do các nguyên nhân như thế, Phật giáo chủ trương mọi người không làm các việc ác, làm tất các việc thiện, cần phải trừ bỏ những thói quen không tốt, cần phải coi trọng tâm niệm thường ngày, thậm chí niệm niệm không quên Phật Pháp Tăng Tam Bảo, niệm niệm cần đem toàn bộ công đức mà mình đã làm là vốn và hành trang để vãng sinh về Tịnh độ Phật quốc.

Công phu học Phật chủ yếu là dựa vào việc tu hành thường ngày. Quy y Tam Bảo, thọ trì năm giới, cúng dường bố thí, sám hối tụng kinh, cứu tế người ngèo kẻ bệnh, tạo phúc cho xã hội. Giả dụ thường ngày không tu hành Phật pháp, khi lâm chung vẫn có một cách cứu vớt, đó là căn cứ theo đạo lý “tùy niệm vãng sinh”, khuyên người ấy nhất tâm niệm Phật, khuyên người ấy vạn niệm buông bỏ, không được sợ chết, không được tham luyến người thân bạn bè và tài sản sự nghiệp, không được tâm hoảng ý loạn, mà cần phải nhất tâm niệm Phật, niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, nếu không còn sức để niệm thành tiếng, thì niệm nhẩm trong lòng, người thân nếu thực sự yêu thương người ấy, thì không được khóc lóc lớn tiếng khi người ấy qua đời, bởi vì như vậy chỉ làm cho người ấy tăng thêm đau khổ và có thể bị đọa xuống mà thôi. Hơn nữa cần khuyên mọi người cùng niệm Phật, khiến cho tâm niệm của người lâm chung dung hòa vào trong tiếng niệm Phật một cách thành kính tha thiết. Nếu được như vậy, sau khi chết có thể vãng sinh về Tịnh Độ Phật quốc, nếu tuổi thọ chưa hết, cũng có thể lấy công đức niệm Phật ấy giúp người mau khỏi bệnh, phúc thọ tăng trưởng.

Khi người sắp qua đời, hoặc ngồi hoặc nằm, nằm nghiêng nằm thẳng, sao cho họ cảm thấy thoải mái là được. Nếu đã hôn mê nhưng chưa tắt thở, không được vì cơ thể nhơ bẩn mà giúp họ tắm rửa hoặc lau chùi, để tránh tăng thêm đau khổ phiền não cho họ, mà ảnh hưởng đến đường đi sau khi chết. Sau khi qua đời, hơi thở tuy dứt, chỉ còn lại một chút hơi ấm, nhưng thần thức của người lâm chung vẫn chưa thoát khỏi thân thể, nói chung phải trải qua sau 8 đến 12 tiếng đồng hồ mới có thể tắm rửa thay quần áo. Nếu hỏa táng thì tốt nhất là đợi sau 24 tiếng đồng hồ.

(V) Vong linh là gì?

Con người sau khi chết, nếu không siêu phàm nhập Thánh, nói chung sẽ trở thành vong linh. Nói đến siêu độ vong linh, trước hết cần giải thích tính chất của vong linh. Chủ thể sinh mệnh của con người sau khi chết được gọi là vong linh. Quan niệm nói chung của nhân gian cho rằng con người sau khi chết chính là ma, và vĩnh viễn làm ma. Phật giáo không có quan niệm như vậy, nếu không thì không thể nói đến 2 chữ “siêu độ”. Phật giáo chia chúng sinh phàm giới làm 6 loài là: trời, người, A-tu-la, địa ngục, ngã quỷ, súc sinh (động vật như bò, ngựa, kiến .v.v.). Chết đi sống lại trong 6 loài này, rồi lại chết đi sống lại, được gọi là lục đạo luân hồi, cho nên khi con người chết đi, chỉ có 1/6 khả năng làm ma quỷ. Phật giáo giúp con người vượt ra và độ thoát khỏi lục đạo luân hồi sinh tử, đây được gọi là “siêu độ”.

Nhưng sau khi phàm phu chết đi, ngoài những người phạm tội ác cực lớn, lập tức xuống địa ngục, hoặc người làm công đức cực nhiều, lập tức sinh lên cõi trời, còn mọi người nói chung không thể lập tức chuyển sinh. Vong linh chưa được chuyển sinh, không phải là quỷ, Phật giáo gọi đó là “thân trung hữu” hay “thân trung ấm”. Tức là một loại thân thể trong quá trình sau khi chết đang chờ đến khi chuyển sinh, thân trung ấm này nói chung luôn bị mọi người gọi lầm là hồn ma, thực ra đó là một loại thể khí tồn tại dưới dạng cực mỏng, chứ không phải hồn ma.

Thời gian của thân trung ấm thông thường là 49 ngày, trong giai đoạn đợi cơ duyên chuyển sinh chín muồi. Cho nên sau khi con người chết đi trong 7 lần 7 ngày, người thân làm Phật sự cho họ thì có hiệu quả rất lớn. Nếu dùng tài vật mà người chết yêu thích nhất khi còn sống cúng dàng Tam Bảo, cứu tế người nghèo người bệnh, và nói rằng làm công đức này là để siêu độ cho vong linh ( mỗ…tên vong linh), người chết vì thế mà có thể đầu thai vào nơi tốt hơn. Cho nên Phật giáo chủ trương siêu độ vong linh, tốt nhất là trong 49 ngày. Nếu sau 7 tuần mới làm Phật sự, đương nhiên vẫn có tác dụng, nhưng chỉ có thể tăng thêm phúc phận của người ấy mà không thể thay đổi nơi mà người ấy đã sinh vào. Giả dụ một người khi còn sống làm nhiều việc ác, đời sau nhất định phải làm trâu hoặc làm heo, khi người ấy chết đi trong vòng 7 tuần, trong giai đoạn thân trung ấm nếu người thân làm Phật sự và giúp người ấy nghe thấy người xuất gia tụng Kinh, vì thế mà biết được đạo lý Phật pháp, liền biết hối lỗi, lập ý hướng thiện, người ấy có thể tránh khỏi đầu thai làm trâu làm heo mà sinh lại làm người. Nếu sau khi người ấy đã sinh vào đàn trâu chuồng heo rồi, lúc đó làm Phật sự cho người ấy thì chỉ có thể cải thiện môi trường sinh hoạt của con trâu hay con heo đó mà thôi, giúp nó đủ thức ăn, không làm việc nặng sức, thậm chí tránh được nỗi đau của nhát dao, được người phóng sinh. nếu đã sinh làm người, thì có thể giúp người ấy khỏe mạnh, người thân yêu mến, sự nghiệp thuận lợi. Nếu đã sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, cũng có thể giúp người ấy nâng cao cấp phẩm liên vị, sớm ngày thành Phật.

(VI) Ai nên làm Phật sự?

Nói chung mọi người cho rằng làm Phật sự là việc của Tăng Ni xuất gia, thực ra chỉ đúng một nửa, bởi vì người xuất gia đương nhiên cần làm Phật sự, nếu chúng ta muốn có được lợi ích của Phật pháp thì bắt buộc cũng cần tự mình làm Phật sự. Nếu đợi sau khi chết người thân làm Phật sự giúp chúng ta, thì sao chúng ta lại không tóm lấy cơ hội lúc còn sống tự mình làm chút Phật sự?

Đối tượng siêu độ của Phật pháp chủ yếu là người sống, nếu thường ngày không tu hành, lúc sắp chết mới đến ôm chân Phật cầu cứu, hiệu quả tuy cũng khách quan, nhưng đã không thiết thực bằng sự chuẩn bị lúc thường ngày. nếu tự mình không làm Phật sự, sau khi chết người thân mời Tăng Ni đến làm giúp, hiệu quả tự nhiên kém đi 2 lần. Cho nên trong “Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Công Đức” (dưới đây gọi tắt là “Địa Tạng Kinh”) nói: Nếu người sống siêu độ cho người chết, người chết chỉ có thể nhận được 1/7 công đức, 6 phần còn lại thuộc về công đức của người sống làm Phật sự.

Bởi thế tôi muốn khuyên mọi người, đã tới chùa mời người xuất gia làm Phật sự, nhất định là phải có lòng thành kính đối với Phật giáo, nếu chưa quy y Phật giáo, hoan nghênh quý vị sớm quy y, sau khi quy y, dần dần tìm hiểu Phật pháp, tu hành theo Pháp, như thế không phải càng tốt hay sao?

Đến mời Tăng Ni làm Phật sự là giúp siêu độ người thân của mình, hoặc là để an ủi người đã khuất với lòng thương nhớ, cho nên người chủ động làm Phật sự chính là bản thân chúng ta. Phật pháp coi trọng sự thành tâm, có thành tâm tức có hiệu ứng, người xuất gia tụng Kinh lễ sám hối đương nhiên cần trí thành khẩn thiết, tâm chúng ta mời họ tụng Kinh lễ sám hối cũng cần phải vô cùng thành kính, cần tin sâu vào Phật sự mà họ làm, ắt có thể giúp cho người chết đạt được lợi ích lớn.

Phật pháp nói cầu cảm ứng, động lực của cảm ứng chính là sự nông sâu của sự thành tâm, thành ý, có thể quyết định sự lớn nhỏ của cảm ứng, như người đánh chuông, dùng sức đánh thì tiếng sẽ lớn, nếu chỉ đánh nhẹ thì tiếng chuông sẽ nhỏ.

Bởi thế cùng là một Phật sự, nhưng hiệu quả đạt được thì có lớn nhỏ khác nhau tùy theo sự khác biệt của thành tâm. Nguyên nhân mà Phật giáo chủ trương mọi người tự làm Phật sự là ở đó, nghĩa là “tự mình ăn cơm tự mình no, tự mình sinh tử - tự mình kết”. Do người khác làm hộ Phật sự, lợi ích sẽ kém đi rất nhiều, cho nên lỡ bản thân chưa kịp tin Phật, học Phật mà chết đi thì người có quan hệ huyết thống giúp làm là tốt nhất. cái gọi là “mẫu tử liền tâm”, khi còn sống dễ cảm ứng lẫn nhau, sau khi chết giữa tình thân cũng có thể dẫn đến lòng thành kính tha thiết nhất. Cho nên Địa Tạng Bồ Tát trong nhiều kiếp rất xa từng là người con có hiếu, mỗi lần đều thành tâm làm Phật sự cho mẹ đã mất, lễ Phật, cúng Phật, niệm Phật, cầu Phật, cảm nhận được sự dẫn dắt của Phật hoặc A La Hán, mà giúp cho mẹ mình được siêu độ.

Nếu không có cốt nhục thân thích, hoặc không phải cốt nhục thân thích, thì người có quan hệ với người chết khi còn sống càng dễ phát lòng thành kính, càng dễ sản sinh hiệu quả cảm ứng hơn so với người người không có quan hệ.

Bởi thế tôi muốn khuyên mọi người, đã tới chùa mời Tăng Ni làm Phật sự, thì trung tâm của làm Phật sự chính là bản thân và người thân của mình, chứ không phải là Tăng Ni. Tăng Ni làm Phật sự là công việc thường ngày của họ, chúng ta làm Phật sự là vì siêu độ vong linh của người thân bạn bè. Theo lý thì chúng ta và người thân bạn bè đều cần tham gia tụng Kinh lễ sám hối, nếu không hiểu thì chí ít cần trong ngày này phải ăn chay, không ăn thịt và tránh dâm dục, chuyên tâm niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”.

(VII) Tụng Kinh để làm gì?

Kinh Phật là phương pháp tin Phật, học Phật và thành Phật mà Phật đã nói. Phương pháp vô biên, cho nên số lượng và hạng mục của Kinh Phật cũng rất nhiều. Ở đây chúng ta thích hợp nhất và thường dùng nhất thì có “Hoa Nghiêm Kinh”, “Pháp Hoa Kinh”, “Địa Tạng Kinh”, “Dược Sư Kinh”, “Kim Cang Kinh”, “A Di Đà Kinh”, “Tâm Kinh” .v.v.

Khởi nguồn của tụng Kinh là từ thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni ở Ấn Độ. Kinh Phật khi đó không có sách in ấn, cũng không cần bản viết tay, mà đều dựa vào việc truyền miệng, khẩu khẩu tương truyền, cho nên cần phải nghe đệ tử Phật thay Phật thuyết Pháp, luôn luôn nghe những lời nói mà họ đã từng nghe mà ghi nhớ rồi thuộc lòng, tự mình muốn nhớ một bộ Kinh nào thì cũng phải nỗ lực học thuộc lòng, về sau tụng Kinh đã trở thành việc cơ bản để học tập Phật pháp và tuyên truyền Phật pháp.

Nhưng tại sao tín đồ Phật giáo sau khi tụng một bộ Kinh nào đó thật nhuần nhuyễn, rồi còn tụng đi tụng lại nhiều lần trước tượng Phật? Ở đây có hai lý do:

1. Coi Kinh Phật là tấm gương mẫu mực của tâm chúng ta

Phàm phu khó có thể đảm bảo bản thân không làm sai, có lúc đã sai nhưng chưa nhận ra cái sai để sửa sai, nhưng khi đối diện với tượng Phật, miệng tụng kinh Phật, thì giống như nghe thấy chính Phật đang thuyết Pháp khuyên răn chúng ta, khiến cho chúng ta một lần nữa được khích lệ tu hành. Những sai lầm đã phạm phải mau chóng được sửa chữa. Những sai lầm chưa làm, thì quyết tâm không phạm. Những việc thiện đã tu thì càng nỗ lực tu thêm. Những việc thiện chưa tu, thì lập chí để tu. Giống như một người phụ nữ thích làm đẹp, trong phòng có gương soi, khi ra khỏi nhà cũng cần mang theo gương soi, buổi sáng đã soi gương, thỉnh thoảng có tác động lại cần soi gương, hôm nay soi gương, ngày mai, ngày kia, ngày kìa, thậm chí năm sau, năm sau nữa vẫn cần soi gương, đó là vì muốn duy trì hoặc làm tăng thêm sự sạch sẽ và sắc đẹp trên khuôn mặt cô ta mà thôi.

2. Coi tụng Kinh là sứ mệnh thiêng liêng thay Phật thuyết Pháp

Đối tượng chủ yếu của Phật pháp là người, ngoài người ra, trong lục đạo chúng sinh còn có Trời, Thần, Quỷ và số ít Bàng sinh hay Súc sinh (động vật) cũng có thể tin thọ Phật pháp. Cho nên tuy ở nơi không có người hoặc ở nơi không có người nghe hiểu nghĩa Kinh đang tụng, chỉ cần có người tụng Kinh thì có các loài khác như Trời, Thần, Quỷ, Súc sinh đến nghe chúng ta tụng kinh. Ba cõi chúng sinh là Trời, Thần, Quỷ và một bộ phận bàng sinh đều có thần thông dù ít dù nhiều, khi chúng ta tụng kinh, chỉ cần chuyên tâm thành kính, thì có thể cảm ứng họ đến nghe kinh. Nếu giúp người thân đã mất tụng kinh làm Phật sự, vong linh của người thân sẽ nhận được thông tin bởi thành ý của chúng ta, ắt sẽ đến nghe kinh đúng lúc. Linh tính của vong linh đặc biệt cao, cho dù khi còn sống chưa từng nghe qua một câu Phật pháp, sau khi chết nghe kinh cũng có thể tin thọ thông giải thiện căn của bản thân.

(VIII) Bái sám để là gì?

Bái sám còn gọi là lễ sám, tức là lễ bái chư Phật Bồ Tát, sám hối những tội nghiệp của mình.

Lời nói hành động của phàm phu nếu quan sát kỹ lưỡng sâu xa, có thể nói luôn luôn phạm tội và tạo nghiệp. Sinh tử luân hồi của phàm phu do sự dẫn dắt của “nghiệp lực” mà mình tự tạo ra, nếu trong đời trước chưa từng tạo nghiệp tội, thì bây giờ đã không làm phàm phu, còn nếu đời này đoạn trừ tất cả nghiệp tội, thì ngay tại lúc này sẽ là cảnh giới của Thánh nhân.

Phàm phu rất khổ não, đối với nghiệp tội trong đời trước đem đến đời này thực sự là bất lực. Đối với nghiệp tội đã tạo trong đời này cũng bất lực. Từ nay về sau cần phải nghĩ là sẽ không dám tạo tội nữa thì cũng không có khả năng. Bởi thế Phật Đà vĩ đại của chúng ta với tâm đại từ bi nói cho chúng sinh phàm phu nghe một Pháp môn sám hối nghiệp tội.

Tụng Kinh đã nói phần trên, là đứng trước gương Phật pháp để soi, bây giờ nói về sám hối, là dạy chúng ta bỏ tâm của mình vào trong nước Phật pháp để rửa xả. Công dụng của bái sám là ở chỗ tẩy rửa tâm nhiễm tội nhơ của chúng ta.

Cho nên sám hối trước Phật, không phải là cầu Phật tha tội, mà là cầu Phật chứng minh, nói thật những nghiệp tội của mình với Phật, hạ quyết tâm sẽ không cố ý làm ác. Biết nhận lỗi với người gọi là “sám”, biết nhận lỗi của mình gọi là “hối”. Phật Bồ Tát thực sự thanh tịnh viên mãn vĩ đại từ bi, Phật Bồ Tát hy vọng chúng ta cũng sẽ trở thành Thánh nhân thanh tịnh viên mãn vĩ đại từ bi, còn chúng ta thì lại vẫn cứ lăn lộn trong nghiệp tội tự làm tự chịu, cho nên cần phải sám hối. Tác dụng của việc bái sám là tẩy rửa tâm mang nghiệp tội của bản thân, giống như lọc vàng trong cát, dần dần lọc cát đi thì sẽ có được vàng. Chúng ta bái sám trước Phật, dần dần sẽ sám trừ được tội nhơ, và sẽ đạt được tâm thanh tịnh giải thoát.

Các loại nghi lễ sám hối ở Trung Quốc, là do nhiều Tổ sư căn cứ vào Kinh Phật, thịnh hành nhất thì có Kinh Lương Hoàng Bảo Sám, Tam Muội Thủy Sám, Đại Bi Sám, Dược Sư Sám, Tịnh Độ Sám, Địa Tạng Sám, Thiên Phật Sám .v.v. Người tu những sám Pháp này trong lịch sử tới nay đều có rất nhiều ghi chép về sự linh nghiệm, thực sự có thể gọi là “không uổng công phu”.

Bái sám hối tốt nhất đương nhiên là tự mình làm, nếu bản thân chưa hiểu, hoặc cảm thấy bái chưa đủ, có thể mời Tăng Ni đến làm, hoặc thay mình làm giúp cho người thân đã mất, tự nhiên cũng sẽ có công đức, đạo lý trong đó thì giống với tụng Kinh vậy.

(IX) Phóng diệm khẩu (cúng thí thực) để làm gì?

Diệm khẩu là chỉ quỷ đói trong đường ngã quỷ. Chúng sinh ở đường quỷ được chia làm 3 loại: (1) Khi còn sống làm nhiều việc thiện, nếu đầu thai làm quỷ thì sẽ trở thành quỷ đa tài (tài lộc) phúc đức đại lực, nói chung Thành Hoàng và Thổ Địa mà con người tin, tức thuộc loại quỷ Thần này. (2) Khi còn sống làm ít việc thiện, nếu đầu thai làm quỷ sẽ trở thành quỷ tiểu tài phúc mỏng lực ít, quỷ nói chung thường là loại này. (3) Khi còn sống tham lam ích kỷ, keo kiệt bủn xỉn, chuyên ăn hiếp người khác, nếu đầu thai làm quỷ sẽ trở thành quỷ đói vô phúc vô lực, dân gian nói chung gọi đó là cô hồn dã quỷ, tức là quỷ đói. Quỷ loại này có lượng ăn cực lớn, cổ họng lại cực nhỏ, có thức ăn cũng khó có thể no bụng, huống chi bởi nghiệp báo mà họ khó có thể tìm được thức ăn, cho dù tìm được món ăn ngon, khi vào miệng thì lại biến thành máu mủ hôi tanh, cho nên họ thường chịu thiêu trong lửa đói, lửa lớn từ miệng phun ra, vì thế gọi là “diệm khẩu”.

Phật Đà từ bi nói ra rất nhiều loại Thần chú, như “Diệt Nghiệp Chướng Chân Ngôn”, “Biến Thực Chân Ngôn”, “Khai Yết Hầu Chân Ngôn” .v.v. Khi tụng trì các Thần chú chân ngôn này theo Pháp, quỷ đói được mời đến liền có thể dựa vào nguyện lực và thần thông của Phật mà có thể ăn no một bữa, sau khi ăn no xong, tiếp tục tuyên dương Phật pháp với họ, khuyên họ quy y Tam Bảo Phật Pháp Tăng, truyền thọ Tam Muội Da mật giới cho họ, vĩnh viễn thoát khỏi đau khổ của đạo quỷ, đó gọi là tác dụng và mục đích của phóng diệm khẩu.

Bởi thế đối với đường quỷ mà nói, phóng diệm khẩu là sự cứu tế không có hạn chế, cho nên lại được gọi là “thí thực”. Nếu người thân bạn bè đã mất của chúng ta không đọa vào trong đường quỷ đói, thì việc phóng diệm khẩu cũng giống với công đức thay họ làm việc cứu khổ, cho nên cũng rất có ích.

(X) Phật sự giữa người và Ma quỷ

Mọi người hay hiểu lầm rằng làm Phật sự là nghi thức chuyên làm cho người chết. Bởi thế tôi muốn nhấn mạnh với quý vị rằng: Đối tượng chủ yếu của Phật pháp là người sống chứ không phải người chết, siêu độ cho vong linh là một loại biện pháp cứu vớt, không phải là công việc trọng tâm của Phật giáo.

Cho nên làm Phật sự nên làm khi còn sống, người thân bạn bè vãng sinh đương nhiên cũng cần phải làm Phật sự, kết hôn, sinh nở, tránh tai ương, trừ bệnh tật, chúc trường thọ, cầu công việc, khai trương, giao dịch, xây dựng, an cư, mua bán .v.v. cũng đều cần làm Phật sự. Tu công tích đức, hành thiện chí phúc, làm Phật sự đâu phải chỉ vì độ vong mà thôi? Phật pháp có thể tạo phúc trong đời này, có thể tạo phúc ở đời sau, có thể tạo phúc quả thế gian phú quý nhân thiên, nhất là có thể đạt tới cứu kính Phật quả phúc trí viên mãn.

Tập tục dân gian cho rằng tụng Kinh bái sám có thể làm thành tiền bạc cho ma quỷ dùng, lại còn đốt bạc giấy và tiền âm phủ để tăng tài phú cho ma quỷ. Thực ra trong nhà Phật không có quan niệm này. Tụng kinh bái sám là siêu độ tăng phúc cho người chết, người chết sau khi chết chưa chắc đã đọa vào đường ngã quỷ, chúng sinh ở đường ngã quỷ cũng không dùng tới tiền bạc mà nhân gian cho họ, tiền chỉ là vật trung gian giao dịch của nhân gian. Đốt hóa tiền giấy cũng chỉ là tập tục dân gian được truyền từ đời Hán Đường Trung Quốc.

Sau khi con người chết đi, nếu không giải thoát khỏi sinh tử, thì cũng chỉ có 1/6 khả năng sinh vào đường ngã quỷ, cho nên xin đừng cho rằng người thân bạn bè của chúng ta mất đi liền thành quỷ, quý vị cần phải thành tâm cầu Phật pháp gia hộ cho người thân bạn bè đã mất được siêu sinh đến thế giới Tây phương Cực Lạc, chí ít cũng nên hy vọng họ sinh vào nhân gian hoặc sinh lên cõi trời mới đúng.

Ở Đại Lục Trung Quốc còn có một tập tục đó là khi đàn ông chết đi cần mời Hòa thượng làm Phật sự như lễ “cầu quá độ” hoặc “phá địa ngục”, đàn bà chết đi thì làm lễ “phá huyết hồ”. Đó là những việc mà không có căn cứ trong Phật pháp, Phật giáo đã cho rằng con người chết đi chưa chắc đã đọa vào địa ngục, thì huống chi là nhất định dẫn dắt vong linh mới chết đi một chuyến vào “nại hà” và “huyết hồ” trong địa ngục làm gì?

Cho nên tôi muốn khuyên người đọc bài viết này, cần phải tự mình làm Phật sự và hiểu rõ vì sao cần làm Phật sự? Và nên làm những Phật sự nào?

(Phụ ký: Bài viết này được viết bởi yêu cầu của các đạo tràng lớn như chùa Thiện Đạo, chùa Thập Phổ, hội hoa sen Hoa Nghiêm, chùa Tùng Sơn Đài Bắc. Tháng 03 năm 1967 lần đầu in 64 bản, in tặng các chùa làm Phật sự, hướng dẫn chính tín. Sau đó ở Hồng Kông, Singapore, Malaysia có người in tặng với số lượng lớn, ở Đài Loan cũng có nhiều cư sĩ thiện tâm liên tục in tặng, bài viết này được ghi chép trong “Phật Học Tri Tân”)

IV. Hai loại siêu độ cho người sống và người đã chết

(I) Lời nói đầu

Bởi vì báo ơn tiết Thanh Minh, rất nhiều người lập bài vị siêu độ cho người thân đã mất. Cho nên khai thị tối nay là “Siêu độ gồm có hai loại lớn”: (1) Siêu độ vong linh, (2) siêu độ người sống.

Ý nghĩa của siêu độ là dùng lý giải và thực tiễn, tín ngưỡng và kinh nghiệm của Phật pháp giúp cho người từ trong khổ nạn đạt đến an lạc, từ trong nguy hiểm đạt đến an toàn, từ trong trói buộc đạt đến giải thoát.

Có một vị cư sĩ từ Cao Hùng đến, chiều hôm nay đã siêu độ cho tôi, bởi ông ta thấy tôi ốm yếu, có khí mà không có lực, công việc lại nhiều, tin rằng tôi nhất định sống rất đau khổ, cho nên đã tặng cho tôi thùng dầu dinh dưỡng tinh chế Thanh Hương, vệ sinh, giúp cho tôi ăn vào sẽ khỏe mạnh lên. Có thể thấy tôi được ông ấy siêu độ, tôi cũng phải nên siêu độ cho quý vị.

(II) Siêu độ vong linh

Trong ấn tượng của người Trung Quốc nói chung, làm Phật sự siêu độ có nghĩa là chỉ các nghi thức niệm Phật, tụng Kinh, bái sám, mông sơn thí thực, diệm khẩu thí thực .v.v. cho người chết, nghĩa là dùng sức siêu việt của Phật giúp người chết vãng sinh về Phật quốc hoặc sinh vào đường thiện.

Bởi thế đối với người Trung Quốc mà nói, siêu độ có hai loại ý nghĩa:

(1) Vì tùy theo tập tục nên khi trong nhà nếu có người thân qua đời, theo tục lệ phải mời Tăng Ni hoặc đạo sĩ đến niệm mấy quyển Kinh, cử hành mấy lần nghi thức Tôn giáo, mới có thể cảm thấy an tâm, nếu không thì không những sẽ bị người thân nghị luận, hơn nữa trong lòng cảm thấy thiếu thốn điều gì đó. Xin hỏi đó là vì siêu độ người sống hay thực sự siêu độ người chết? Thực sự rất không rõ ràng. Vì tự cầu tâm an mới mời Tăng Đạo niệm Kinh siêu độ, những người như thế không nhất định tin là có lợi đối với người chết, nhưng chỉ vì không dám đi ngược lại với phong tục.

(2) Nếu thực sự vì siêu độ vong linh, tin rằng Phật pháp có thể giúp vong linh siêu sinh dứt khổ, khi lâm chúng giúp họ trợ niệm. Thời gian 7 ngày đầu ngày nào cũng đều niệm Phật và trong 7 tuần thường làm Phật sự, tu cúng dường, những đạo lý đã nói trong kinh Phật và Thánh hiệu Phật Bồ Tát được xưng, đều có thể khiến cho vong linh nghe thấy, nghe hiểu, tâm khai ý giải những oán hận, nút thắt tình cảm, quyến luyến khó rời và tất cả những chấp trước, sẽ không đọa vào đường ác mà sinh về thiện đạo, những người có thiện căn sâu thì có thể vãng sinh đến thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà, hoặc theo nguyện lực từ bi của Phật Bồ Tát độ cho vong linh xuất ly khổ hải, điều này có thể lấy “Địa Tạng Kinh” làm tiêu biểu.

Phương pháp siêu độ vong linh được thấy trong Kinh Phật, có thể lấy hai ví dụ như sau:

(1) “Kinh Vu Lan Bồn” là bài kinh được Đức Thế Tôn nói về Tôn giả Mục Kiền Liên làm lễ siêu độ cho người mẹ đã mất và bị đọa vào đường quỷ đói. Phương pháp siêu độ là khi Tăng chúng tự tứ vào ngày 15 tháng 07, “có cơm bách vị ngũ quả, bồn chậu tắm giặt, dầu thơm, nến cầy, chăn gối giường đệm, tận thế cam mỹ để trong bồn, cúng dường Tăng chúng Đại Đức thập phương”. “Cúng dường Tăng già tự tứ thì cha mẹ đời này, cha mẹ bảy đời, sáu loại thân thuộc, được ra khỏi ba đường khổ, ứng thời giải thoát, đầy đủ quần áo và thức ăn. Nếu có người, còn cha còn mẹ, phúc lạc bách niên. Nếu cha mẹ đã mất, cha mẹ bảy đời sinh thiên, tự tại hóa sinh, nhập thiên hoa quang, hưởng vô lượng an lạc”. Đó là công đức cúng dường Tăng ngày 15 tháng 07 để làm Phật sự siêu độ vong linh, và khi chưa cúng Tăng thì thỉnh Tăng chúng tụng Kinh niệm Phật cho người chết.

(2) Trong Phật giáo Trung Quốc “Địa Tạng Kinh” được lưu truyền khá sâu rộng, bởi đó là tư tưởng đề xướng báo hiếu, lại đề xướng coi trọng ma chay nhớ ơn Tổ tiên, Pháp môn siêu độ vong linh, và còn đặc biệt được dân tộc Trung Hoa với bối cảnh văn hóa của nhà Nho khen ngợi tôn sùng. “Đao Lợi Thiên Cung Thần Thông Phẩm” trong quyển Thượng của “Địa Tạng Kinh” có nói: “Chúng sinh tạo ác ở Diêm Phù Đề, kẻ mới chết, sau 49 ngày, không có người lễ bái làm công đức để cứu thoát khổ nạn, khi sống không trồng thiện nhân, với bản nghiệp này mà bị đọa xuống địa ngục”. “Lợi Ích Tồn Vong Phẩm” trong quyển Trung của “Địa Tạng Kinh” nói: “Nếu có thể sau khi chết đi, trong vòng 49 ngày, tạo nhiều việc thiện, có thể giúp các chúng sinh, vĩnh ly nơi ác, được sinh nhân thiên thọ thắng diệu lạc”. Còn nói: “Thần thức lang thang, chưa biết tội phúc, trong vòng 49 ngày, như điên như điếc……người lâm chung chưa được thọ sinh, trong vòng 49 ngày, giữa những ý niệm, hy vọng cốt nhục quyến thuộc, tạo phúc lực cứu vớt thì sau ngày đó, tùy nghiệp thọ báo”. Điều đó nói rõ trong vòng 49 ngày sau khi chết đi, hy vọng có người thân quyến thuộc cầu phúc siêu độ, qua thời gian này thì đã chuyển sinh, tùy nghiệp mà đi thọ báo, siêu độ tuy vẫn có chút lợi ích, nhưng lập tức thì không có tác dụng.

Đặc biệt là trong 7 ngày đầu càng quan trọng, “Như Lai Tán Thán Phẩm” trong quyển Trung của “Địa Tạng Kinh” nói: “Thần thức phân tán, chí khí đã tận, đến một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, đến bảy ngày, nhưng lớn tiếng bạch (tuyên bố tu phúc hành thiện cho người chết), lớn tiếng tụng kinh, sau khi mệnh chung, túc ương trọng tội, chí dư ngũ vô gián tội, vĩnh viễn được giải thoát.” Nói rõ siêu độ vào thời gian 7 ngày đầu sau khi chết là tốt nhất.

Nhưng siêu độ có hiệu quả nhất là tự mình tu hành khi còn sống, cho nên “Lợi Ích Tồn Vong Phẩm” trong quyển Trung của “Kinh Địa Tạng” nói: “Sau khi mệnh chung, quyến thuộc lớn nhỏ, làm việc phúc lợi, tất cả việc Thánh, trong 7 phần thì có được 1 phần, còn lại 6 phần công đức thì người sống được lợi. Vì vậy, tương lai hiện tại, thiện nam tín nữ, nghe thấy tự tu, được lợi toàn phần”. Khi còn sống chưa tin Phật, chưa tu thiện Pháp, sau khi chết đi trong vòng 49 ngày ở giai đoạn thân trung ấm mới cần người thân thay mình tu phúc siêu độ. Nếu khi còn sống, đã sớm tín ngưỡng Phật pháp, niệm Phật hồi hướng cầu nguyện vãng sinh Tây phương Tịnh độ, khi lâm chung liền có Tây Phương Tam Thánh: Di Đà, Quan Âm, Thế Chí. Phật và hai vị Bồ Tát đến tiếp dẫn, người than và thiện hữu trợ niệm, cũng là tiễn đưa người ấy, giúp người ấy tăng trưởng lòng tin, nâng cao liên vị. Trong các Kinh luận, đều khuyên răn tha thiết mọi người khi còn sống cần phải kịp thời tu hành.

(III) Siêu độ người sống

Siêu độ người sống là quan trọng hàng đầu. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo, những kinh Pháp mà Ngài nói, đối tượng chủ yếu của các bộ Kinh Đại Tiểu Thừa là đệ tử thất chúng nhân gian, tiếp đến là Trời Thần, vì thế xưng Phật là “thầy của trời người” và “giáo chủ của trời người”.

Hội chúng trong Kinh Đại Thừa như “Kinh Hoa Nghiêm”, “Kinh Pháp Hoa”, ngoài chư Phật Bồ Tát và Thánh giả nhị Thừa ra, thì là thất chúng nhân gian và thiên chúng bát bộ. Chúng sinh trong ba đường ác là địa ngục, ngã quỷ, súc sinh không có phúc báo tham dự thắng hội. Tuy trong “Kinh Địa Tạng” “Như Lai Tán Thán Phẩm” quyển Trung từng nói: “Thế tôn…….phổ cáo chư Phật thế giới nhất thiết chư Bồ Tát Ma Ha Tát, cấp Thiên Long, quỷ Thần, nhân, phi nhân, nghe ta hôm nay, xưng dương tán thán Địa Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát”. Nhưng quỷ thần ở đây là chỉ quỷ nhiều phước, không phải quỷ tội ác hay quỷ đói, nên được coi là địa cư thiên và không cư thiên. Bởi thế trong “Kinh Địa Tạng” “Như Lai Tán Thán Phẩm” quyển Trung lại nói: “Tuyên thuyết nhân quả mà Địa Tạng Bồ Tát làm lợi ích nhân thiên…….vì các người nói phúc đức mà Địa Tạng Bồ Tát đã làm lợi ích cho nhân thiên”. “Kinh Vô Lượng Thọ” cũng vì “khai hóa toàn bộ nhân dân chư thiên” mà nói. Đặc biệt nhấn mạnh “lợi ích nhân thiên”, điều đó thể hiện rằng Phật pháp siêu độ chủ yếu là người, thứ đến là trời.

Trong “Kinh Tăng Nhất A Hàm” quyển 36 nói rõ khi Phật xuất thế, vì nhân thiên mà quảng diễn giáo Pháp, đạt đến Niết Bàn, nhưng chúng sinh trong địa ngục, trong súc sinh, trong ngã quỷ, sinh ở biên địa, sinh nơi cõi trời trường thọ, thì đều “không nghe, không thấy”. “Kinh Tăng Nhất A Hàm” quyển 26 nói: “Chư Phật Thế Tôn, giai xuất nhân gian.” Lấy cơ thể loài người mà thành Phật, và cũng lấy loài người làm đối tượng chủ yếu để nhiếp hóa, cho nên đệ tử tại gia đầu tiên của Phật là cha của Da-du-già là người, 5 vị đệ tử Tỷ khiêu mà Phật độ khi Ngài sơ chuyển Pháp luân tại vườn Lộc Uyển cũng là người, 1250 vị A La Hán thường theo Phật toàn bộ là người, cho tới đệ tử già cuối cùng Tu Bạt Đà La 120 tuổi mà Phật độ khi chuẩn bị nhập niết bàn cũng là người. Có thể thấy trong lịch sử, Phật Thích Ca Mâu Ni và Tăng tục thất chúng có liên quan Phật tướng, đều là loài người. Cho dù là khi Phật Di Lặc sau này hạ sinh nhân gian, các vị đệ tử nội viện Đâu Xuất của Ngài cũng đều hạ sinh nhân gian với thân phận con người, nghe vấn Phật Pháp, chứng đạo giải thoát.

Đối với siêu độ người sống, ý nghĩa đó là vận dụng Tín, Giải, Tu, Chứng của Phật Pháp, vượt qua nhà lửa của tam giới, thoát khỏi biển khổ sinh tử.

Thí Dụ “Nhà lửa” được lấy từ (Kinh Pháp Hoa - Thí Dụ Phẩm): “Tam giới không yên, giống như nhà lửa. Đầy dẫy đau khổ, và đầy sợ hãi, thường có sinh lão bệnh tử buồn phiền, như là lửa, bùng cháy không ngừng”. cho nên lấy xe dê, xe lừa, xe bò trắng, ví dụ Phật nói nhị thừa, tam thừa, duy có Pháp phương tiện và Pháp cứu kính của Phật thừa có thể đưa chúng sinh thoát khỏi nhà lửa sinh tử của tam giới. Thí Dụ “Biển khổ” được lấy từ nhiều nơi: (1) “Kinh Pháp Hoa - Thọ Lượng Phẩm” nói: “Ta thấy chư chúng sinh, chìm trong Biển khổ”. (2) “Kinh Lăng Nghiêm” quyển 4 nói: “Dẫn các chúng sinh đang chìm đắm ra khỏi biển khổ”. (3) “Kinh Đại Thừa Bản Sinh Tâm Địa Quán” nói: “Thường trong biển khổ sinh tử, làm thầy thuyền lớn cứu chúng sinh”. Nếu nhìn từ nhân quả trước sau, “nhà lửa” là phiền não của tham sân, “biển khổ” là quả báo sinh tử. Nếu chúng sinh không kịp thời tu học Phật pháp để thoát khỏi biển khổ sinh tử của tam giới, thì chỉ có vĩnh viễn ở trong phiền não mà tạo nghiệp, do bởi tạo nghiệp mà thọ khổ báo, khi thọ khổ báo lại vì phiền não mà tạo nghiệp, rồi lại thọ khổ báo, cứ như thế chạy vòng quanh, sinh tử lưu chuyển, giống như trôi nổi trong đại hải vô biên.

Trong biển khổ sinh tử mịt mờ này, làm thế nào để có thể lên bờ, thì không thể không dựa vào cứu giúp của thuyền từ bi Phật pháp, đó chính là dựa vào Tam quy, Ngũ giới, Thập thiện, Cụ túc giới, Bồ Tát giới mà Phật đã nói, rồi đến tam học là giới định tuệ, và lục độ tứ nhiếp, tự lợi lợi tha.

Phật Đà mới đầu thuyết Pháp tại vườn Lộc Uyển, chuyển Pháp luân chính là Tứ đế khổ tập diệt đạo. Biết rằng có khổ thì không nên tiếp tục tạo nhân chịu khổ, muốn diệt hết cái cội giễ của khổ, thì cần tu chứng tất cả các Pháp môn như Bát chính đạo, 37 Bồ Đề Đạo phẩm, và tam học lục độ .v.v, không chỉ tự cầu diệt khổ mà còn phải giúp người diệt khổ, tự lợi tức lợi người. Những danh từ chuyên ngành được nêu trên, xin vui lòng tra từ điển Phật học, hoặc tìm đọc các sách “Phật pháp khái luận” và “Phật giáo nhập môn”. Chúng ta nên học hiểu chúng, vận dụng chúng để có thể tự độ và độ người.

(IV) Niệm Phật siêu độ

Siêu độ dễ nhất là pháp môn niệm Phật, bất luận thời gian địa điểm, không phân biệt căn cơ, chỉ cần niệm Phật, thì liền đạt được lợi ích, nếu lấy mục đích để nói, pháp môn niệm Phật của Tây Phương Tịnh Độ Di Đà, đích thực là sau khi chết sẽ vãng sinh thế giới Cực Lạc. Nhưng “Kinh A Di Đà” cũng nói, đây là một bộ “Kinh được tất cả chư Phật hộ niệm”, “nếu có thiện nam tử thiện nữ nhân, nghe và thọ trì, và nghe tên chư Phật, thì chư thiện nam tử thiện nữ nhân, đều được tất cả chư Phật hộ niệm, đều đắc bất thối chuyển A Nậu Đa La Tam Miểu Tam Bồ Đề”. “Kinh Pháp Hoa” nói: “Niệm Phật một tiếng, tội diệt hà sa”. Niệm bất kỳ Phật nào cũng đều có thể diệt tội trừ khiên, tiêu tai miễn nạn, được lợi ích hiện tại, cũng được lợi ích đời sau. “Kinh Quán Vô Lượng Thọ” cũng nói: “chắp tay, niệm Nam Mô A Di Đà Phật, xưng danh hiệu Phật, diệt trừ năm mươi ức kiếp sinh tử tội nghiệp”. Kinh lại nói: “chí tâm xưng danh hiệu Phật, niệm trong niệm, diệt trừ tám mươi ức kiếp sinh tử tội nghiệp”. Lại nói: “Nếu người niệm Phật, biết là người, tức là người phân đà lợi hoa (liên hoa thanh tịnh), Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát Đại Thế Chí, là thắng hữu của họ, ngồi tại đạo tràng, sinh chư Phật gia”. Nhân cách của người niệm Phật cao thượng thanh tịnh, giống như hoa sen trong người, đương nhiên là biểu tượng của tự lợi lợi tha. “Kinh Vô Lượng Thọ” quyển hạ có nói: “Nghe thấy danh hiệu của Phật (A Di Đà), vui mừng hoan hỷ, dù một niệm, liền biết người này, đã được đại lợi, là có đầy đủ vô thượng công đức”. Nghe danh hiệu Phật lòng sinh hoan hỷ, chỉ cần một niệm cũng có được vô thượng công đức, huống hồ thường xuyên niệm Phật và niệm Phật ở mọi nơi.

Trong “Tông Cảnh Lục” của Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ, thường nói đến: “Nhất niệm tương ưng nhất niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật.” Chỉ cần niệm Phật, bất luận là tán tâm hay chuyên tâm đều có công đức, nhất tâm và chuyên tâm đương nhiên là tốt, tán tâm niệm Phật cũng tốt, chỉ cần muốn niệm thì niệm, niệm niệm đều tốt. Nhất niệm niệm Phật, nhất niệm tức là từ vọng tưởng ác nghiệp đạt được siêu độ, niệm niệm niệm Phật, niệm niệm đều từ vọng tưởng ác nghiệp đạt được siêu độ, có người siêu độ một phút, có người siêu độ một tiếng, một ngày, các vị ở đây niệm Phật bảy ngày, nghĩa là siêu độ bảy ngày. Các cư sĩ tùy hỷ có thể tùy hỷ một nén hương, hai nén hương, trong giai đoạn này miệng thanh tịnh, tai thanh tịnh, mắt thanh tịnh, nghĩa là từ chỗ nhàn ngôn tạp ngữ, ồn ào ầm ĩ, hoa đầu rối mắt trong thế giới trần lao, đạt đến siêu độ trong thời khắc.

Còn về cầu được siêu độ vĩnh viễn nghĩa là người đại ngộ đại giải thoát triệt để, cần phải bỏ ra tâm sức lâu dài, thường hành Bồ Tát đạo, ngày ngày tăng trưởng trí tuệ, thời thời đem lòng từ bi, tự độ độ người.

(V) Tự độ độ người

Người mê lầm cần dựa vào Phật độ, người khai ngộ có thể tự độ, khi khởi bước có thể dựa người khác độ, đã lên đường rồi, đã có phương hướng rồi thì cần học tập bi nguyện của Phật Bồ Tát, phát nguyện tự độ độ người. Tôi từng thấy có một ông già, chưa nỗ lực niệm Phật tu hành, tôi khuyên ông ấy, thì ông ấy lại nói chuẩn bị chờ con cháu siêu độ cho mình sau khi qua đời. Tôi cũng quen biết con cháu ông ta, đều rất hiếu thuận, tôi hỏi ý kiến của họ, họ dường như cùng trả lời một câu: “Đương nhiên là việc phải làm, đến lúc đó xin phép thỉnh sư phụ đến tụng kinh niệm Phật, siêu độ cho cụ già”. Họ đều hy vọng sư phụ xuất gia đến siêu độ.

Lần này là làm Phật thất báo ân tiết thanh minh. Báo ân gì? Báo tất cả các ân, chủ yêu là thân ân. Báo như thế nào? Dùng siêu độ để báo ân. Siêu độ ai đây? Siêu độ vong linh, cũng là siêu độ chính mình.

Thực tế là bởi nhờ công đức niệm phật của bản thân để siêu độ, khiến cho người thân đã mất cũng đạt được siêu độ. Không chỉ siêu độ cho bản thân, mà còn siêu độ cho vong linh, càng do bởi việc tu hành của quý vị mà đã cải thiện các hành vi ba nghiệp thân khẩu ý, sau khi về nhà hoặc tại nơi làm việc, cũng sẽ dùng trí tuệ và từ bi ảnh hưởng đến những người có liên quan, cho nên cũng sẽ siêu độ luôn cho người thân và đồng nghiệp ngay trong cuộc sống thường ngày, thực sự là công đức vô lượng.

Sau khi tham gia Phật thất, trở về cuộc sống ngày thường thì quan niệm, nhân cách, lời nói, cử chỉ, đối nhân xử thế của chính quý vị đều cần có chút mùi vị của người niệm Phật, đó là tinh thần của trí tuệ, từ bi, đó là biểu hiện công năng hóa thế tự mình siêu độ, cũng có thể hóa độ người.

(Ngày 31 tháng 03 năm 1993, khai thị buổi tối lần thứ tư tại Phật thất báo ân tiết thanh minh chùa Nông Thiền)

Giới thiệu về Pháp Cổ Sơn

“Phật pháp tuyệt vời như thế mà người biết đến thì quá ít, ngược lại số người hiểu sai Phật pháp thì lại quá nhiều.” Đây là hạnh nguyện mấy chục năm khổ tu, khổ học, quyết chí hoằng dương Phật pháp của Hòa thượng Thánh Nghiêm. Kiến tạo Pháp Cổ Sơn là muốn tiếp nối gánh vác sứ mệnh của chư Phật chư Tổ, giúp cho chúng sanh xa rời đau khổ và đạt được an lạc giải thoát.

Năm 1989, Hòa thượng Thánh Nghiêm đã tìm được một mảnh đất rừng thuộc xã Kim Sơn, huyện Đài Bắc lúc bấy giờ, và đặt tên gọi là “Pháp Cổ Sơn”, với tâm nguyện muốn kiến tạo một cơ sở để hoằng truyền Phật giáo Hán truyền, đẩy mạnh “khu vườn giáo dục Phật giáo thế giới” trong hệ thống giáo dục lúc bấy giờ. Trải qua mười sáu năm xây dựng và hoàn thành, vào tháng 10 năm 2005 đã tiến hành lễ khánh thành một cách trọng thể và trang nghiêm.

Pháp Cổ Sơn lấy “Bảo vệ môi trường tâm linh” làm trung tâm, làm ngọn cờ đầu của hệ thống giáo dục. Đồng thời, Pháp Cổ Sơn còn là một đoàn thể giáo dục đời sống, không ngừng ra sức thúc đẩy vận động mở mang tinh thần, đề xướng “bốn loại bảo vệ môi trường” như: Tâm linh, lễ nghi, đời sống và tự nhiên, chuyển hóa tinh thần và nội hàm của Phật pháp thành “tâm ngũ tứ vận động”(vận động năm điều bốn về tâm, như Bốn an: an tâm, an thân, an gia, an nghiệp; Bốn yếu: Nhu yếu, muốn, có thể muốn, nên muốn; Bốn nó: Đối diện nó, tiếp thọ nó, xử lý nó, buông bỏ nó; Bốn cảm: Cảm hóa, cảm động, cảm ơn, cảm tạ; Bốn phước: Biết phước, tích phước, bồi phước, trồng phước.) một cách cụ thể và dễ thực hành. Ngoài ra, còn chú trọng lấy ba phạm trù lớn trong giáo dục “Đại học viện, đại phổ hóa, đại quan hoài” làm lý tưởng để thực hiện việc “tăng phẩm chất của con người, xây dựng tịnh độ nhân gian”, đồng thời, thông qua sự hợp tác giao lưu trong việc hoằng hóa ra phạm vi quốc tế, công trình Pháp Cổ Sơn đã trở thành điểm nhấn để cho toàn nhân loại chú ý, trở thành công trình kiến thiết Tịnh hóa và Tâm linh của thế giới.

Pháp Cổ Sơn còn phục vụ nhu cầu của thời đại, lấy Thiền Phật giáo Hán truyền làm lập trường, sau đó dung hợp các tông phái để mở ra “Thiền tông Pháp Cổ của Trung Hoa”, với việc hướng dẫn và thúc đẩy quan niệm cũng như tư tưởng hiện đại, đưa Phật pháp đi vào trong cuộc sống, hy vọng tiếng trống từ bi và trí tuệ của Phật pháp có thể khiến cho mọi người được an lạc, biến xã hội con người thành cõi Cực lạc, với sự thanh tịnh và giải thoát.

Giới thiệu sơ lược về quỹ giáo dục Thánh Nghiêm

Quỹ giáo dục Thánh Nghiêm được Bộ giáo dục phê chuẩn và cấp giấy phép thành lập vào ngày 18 tháng 01 năm 2006. Tông chỉ của Qũy này là lấy việc thúc đẩy lý tưởng “tăng phẩm chất con người, kiến tạo tịnh độ nhân gian” do Hòa thượng Thánh Nghiêm đề xướng để làm sự nghiệp giáo dục nhằm tịnh hóa lòng người, tịnh hóa xã hội. Lý tưởng của Hòa thượng Thánh Nghiêm là chú trọng đến việc thực hiện xiển dương tịnh độ nhân gian. Suốt cả cuộc đời Ngài luôn hướng đến mục đích đưa Phật pháp đi vào trong đời sống hiện đại, dùng Phật pháp để nâng cao đời sống cũng như phẩm chất của người hiện đại. Hy vọng rằng các nhân sỹ trong giới tôn giáo học thuật hoặc những ai có hứng thú, có tâm nguyện, đều hướng đến tham thảo, nghiên cứu cũng như thực hiện rộng rãi phương diện này.

Qũy sẽ dựa vào tông chỉ này để thúc đẩy các công việc như sau:

1, Chủ yếu là thu thập, chỉnh lý, nghiên cứu, phân thứ lớp, phân loại, phiên dịch, in ấn, chế tác, phát hành, mở rộng, hoằng dương, phổ biến những tài liệu do Hòa thượng Thánh Nghiêm trước tác như sách vở, tạp chí, băng đĩa, các văn hiến văn vật vân vân, tặng đến các giai tầng trong xã hội, với kỳ vọng sẽ làm tăng thêm phẩm chất con người, nơi nơi đều thực hiện việc biến nhân gian thành cõi tịnh độ giải thoát.

2, Thứ nữa là tán dương và trợ lực cho các hạng mục trong công tác giáo dục, khế hợp với lý tưởng của Hòa thượng Thánh Nghiêm như: Thúc đẩy giáo dục Phật giáo; nghiên cứu học thuật Phật giáo; xuất bản các tác phẩm Phật giáo; tịnh hóa nhân tâm và tịnh hóa xã hội vân vân.

Lời khuyến tiến dành cho bốn chúng đệ tử Phật

Tin Phật, học Pháp, kính Tăng
Muôn đời Tam Bảo minh đăng sáng ngần
Nâng cao phẩm chất quần nhân
Kiến xây tịnh độ chốn trần bể dâu
Biết ơn, báo ơn làm đầu
Giúp người không ngại, lợi hầu bên ta
Tận tâm, tận lực, thật thà
Không tranh, không giật, gọi là pháp tu
Lòng từ, sao có hận thù
Trí thông sáng tỏ làm lu não phiền
Thời gian dư giã triền miên
Cần lao công việc, sức bền khỏe thay
Chí mong ruộng phúc cấy cày
Sợ gì cuộc sống đắng cay, ngọt lìm
Bố thí, phước ấy dễ tìm
Phát tâm hành thiện, trời chim hát mừng
Thời thời tâm lạc, thế hưng
Niệm niệm thiền duyệt tưng bừng hiện ra
Nơi nơi đều có Phật bà
Âm thanh vang vãng lòng ta Di Đà!