Đối thoại trí tuệ về vượt qua sống và chết

Phát hiện được gì trong tính không (Sunyata)?

Sogyal Rinpoche: Sau khi nói chuyện với Đức Đạt Lai Lạt Ma, thì Ngài có phát hiện ra điều gì đặc biệt không? Ví dụ về phương diện của tính không.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Tôi không phát hiện ra điều gì đặc biệt cả. Bởi vì tính không là tính không, ý nghĩa của tính không là không nắm bên phải, cũng không nắm bên trái, và cũng chẳng chấp vào cái ở giữa. Đó là trung quan của Bồ Tát Long Thọ.

Sogyal Rinpoche:: Đúng vậy, trí tuệ của trung quan mà Bồ Tát Long Thọ nói đến cũng không chấp vào cái ở giữa.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Nhưng tôi thấy trong sách Ngài viết rất ít nói đến tính không.

Sogyal Rinpoche:: Có ạ, trong chương bốn.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Đúng! Nhưng rất ít.

Sogyal Rinpoche: Bởi vì tôi không thường dùng chữ “tính không”, ở phương Tây chữ “không” này thường có ý nghĩa tiêu cực, “không” thường có nghĩa là cái gì cũng là không, có chút gần với khái niệm của chủ nghĩa hư vô. Cho nên tôi nghĩ có thể dùng loại chữ như “tính khai phóng ” lẽ sẽ tốt hơn.

Cho nên tôi thường dùng chữ “tính tâm” (nature mind) để diễn đạt, hoặc dùng phương thức biểu đạt để miêu tả tính chất của nó, chứ không dùng danh tướng “tính không” này để giải thích.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Đúng thực sự như vậy, ở phương Tây nếu không nói rõ ràng, như các danh từ “Phật tính”, “Pháp thân”, “tính không” .v.v., nhiều lúc sẽ bị người phương Tây hiểu lầm thành những khái niệm cùng cấp bậc hoặc giống như “Thượng đế”, “Kitô”, “Giê Su”. Phương thức lý giải này đối với người phương Tây hoặc người có bối cảnh Tôn giáo phương Tây đương nhiên là sự nhận biết rất rõ ràng, nhưng cũng có thể sẽ khiến cho người phương Tây cảm thấy Phật tính chính là Thượng đế, là Thần, thì việc giải thích như vậy sẽ có vấn đề.

Sogyal Rinpoche: Vậy thực sự là việc hiểu lầm rất nguy hiểm.

Đối với vấn đề này, tôi còn nhớ thầy giáo của Đức Đạt Lai Lạt Ma và cũng là một vị thầy của tôi Dilgo Khyentse Rinpoche, Thiền sư phát hiện thấy người phương Tây đặc biệt thích nói về tính khái niệm của sự vật. Ví dụ nói về “không”, họ sẽ vô cùng nhiệt tình với cái chữ này, và rất nhiều khái niệm cực nhỏ bên trong cái chữ này. Kết quả là chấp vào chữ nghĩa và khái niêm, mà làm mất đi sự quán chiếu toàn vẹn, như vậy rất dễ rơi vào trạng thái nguy hiểm mà chúng ta vừa lấy ví dụ.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Nhưng khi họ mới bắt đầu tiếp xúc, phương thức như vậy có lẽ họ sẽ thuận lòng chấp nhận, chỉ có điều là tiếp theo đó phải dần dần làm cho họ biết rằng ý nghĩa thực tế là gì.

Sogyal Rinpoche: Đúng vậy, nếu chỉ là giới thiệu cho người mới học, thì phương thức này khá chính xác.

Chúc phúc cho chim bồ câu vãng sinh

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Hôm nay trước khi Ngài đến, đã sảy ra một việc.

30 phút trước, có một con chim bồ câu bay tới, va thẳng vào cửa sổ phòng tôi rồi sau đó chết luôn. Đây là sự việc chưa từng sảy ra. Tôi nghĩ có thể bởi vì ngài Sogyal Rinpoche sắp đến, cho nên nó biết có thể bay đến đây để được siêu độ.

Lúc đó tôi cũng làm phép cho nó, giúp nó tu quán tưởng. Thực sự chưa bao giờ sảy ra, thực là một chuyện khó nghĩ bàn. Bây giờ tôi mời chim bồ câu ấy vào đây, và thỉnh Rinpoche chúc phúc cho nó, tôi cảm thấy đây là việc rất có duyên.

Sogyal Rinpoche: Tôi rất sẵn sàng. (Sau đó Thiền sư liền bắt đầu trì tụng Kinh chú, chúc phúc cho chim bồ câu.)

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Con chim này vô cùng có phước báo, chúng ta cũng lại vừa có một nghìn người đang niệm Phật cộng tu. (Theo: Lúc đó là thời điểm tiết thanh minh Phật thất báo ân tại chùa Nông Thiền, tiếng niệm Phật bên ngoài phòng khách dạt dào vang vọng.)

Sogyal Rinpoche:Tốt quá, tôi cũng niệm A Di Đà Phật chúc phúc cho nó rồi, gọi là Pháp Phowa.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Cộng tu Phật thất của chúng tôi niệm chính là A Di Đà Phật.

Sogyal Rinpoche: Nó là một con chim bồ câu may mắn.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Ngài biết được nó bây giờ đi về đâu không?

Sogyal Rinpoche: Tôi không có sức thần thông đó, không biết nó sẽ đi về đâu.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Tôi nghĩ với quán tưởng và hồi hướng của chúng ta, nó sẽ đi đến thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà, nhưng đó không phải sức mạnh từ tôi, mà là năng lượng của Phật.

Sogyal Rinpoche: Tôi nghĩ với quán tưởng và hồi hướng của chúng ta, nó sẽ đi đến thế giới Cực Lạc của Phật A Di Đà, nhưng đó không phải sức mạnh từ tôi, mà là năng lượng của Phật.

Ánh sáng của thân trung ấm

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Ngài có thể giải thích rõ hơn về Pháp Phowa không?

Sogyal Rinpoch: Pháp Phowa có liên quan rất mật thiết với Phật A Di Đà, chủ yếu là sự gia trì của Phật A Di Đà, thỉnh cầu Phật A Di Đà: “A Di Đà Phật vô lượng quang, xin Ngài hãy dùng uy lực của mình gia độ cho người vãng sinh hoàn thành tu luyện “Phowa”, giúp cho người vãng sinh được bên cạnh Ngài, và vãng sinh vào Tịnh độ của Ngài.”

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Trí nhớ trong thần kinh của não chúng ta không thể nào đưa đến một thế giới khác. Trí nhớ của một đời này là của đời này, đến một đời khác thì không thể đem đi được. Nhưng như Ngài nói, thân trung ấm có bốn giai đoạn thân trung ấm, vậy thì giai đoạn sau khi con người chết đi, cũng có nghĩa là giai đoạn thân trung ấm của quãng thời gian từ đời này đến đời sau của chúng ta, trí nhớ dựa vào gì? Hoặc lúc đó có còn trí nhớ hay không?

Như tôi được biết, sau khi con người chết đi thì không dựa vào trí nhớ, mà dựa vào một loại thần thông, đó là một loại thần thông tự nhiên, khi không còn cơ thể, thì tự nhiên sẽ sinh ra một loại lực thần thông cảm ứng, nhưng đó không phải là trí nhớ. Theo quan điểm của Ngài, thì Ngài có cho rằng đó là trí nhớ hay không? Hay là một loại lực thần thông tự nhiên?

Sogyal Rinpoch: Bốn loại thân trung ấm, một trong những số đó chính là ở đời này, cũng có nghĩa là “trung ấm tự nhiên”. Trong “trung ấm tự nhiện” của đời này cũng có hai hình thức thân trung ấm, một là giai đoạn tỉnh, một là giai đoạn là ngủ. Cho nên trên thực tế trong đời này có ba loại thân trung ấm. Pháp tính liên kết giai đoạn của ba loại trung ấm được gọi là “ánh sáng trung ấm ”.

Sau khi ba loại thân trung ấm hiện thế, là lúc con người được xác định đã chết, ý thức đã phân giải, nguyên tố ngoài cũng đã phân giải, nội phân giải như tham dục, sân, si v.v… cũng đều đã diệt vong, tâm cũng đã chết. Đó chính là thân trung ấm sau khi chết.

Trong giáo Pháp của chúng ta, nhất là giáo Pháp truyền thống, vào lúc này ánh sáng ban đầu của một người hoặc chúng ta nhìn thấy sơ địa ánh sáng (ground luminosity) hoặc mẫu ánh sáng (mother luminosity) đều sẽ xuất hiện. Lúc đó, nếu người chết khi còn sống đã từng được Thượng sư hướng dẫn nhận biết được tính không, khi ánh sáng (clear light) xuất hiện mà lúc đó vẫn tu trì vững vàng, đi thể chứng ánh sáng kết hợp thành một, sau đó liền đạt đến chứng ngộ hoàn toàn. Trường hợp này sảy ra đối với những bậc đại tu hành. Trong truyền thống Tây Tạng, có khá nhiều Đức Lạt Ma như thầy của Đức Đạt Lai Lạt Ma, khi vãng sinh thì họ ở trong trạng thái Thiền định 3 đến 5 ngày, có lúc kéo dài một tuần. Đó là bởi vì họ dừng tại giai đoạn ánh sáng, trong giai đoạn trung ấm khi lâm chung không có sắc thân, thâm chí cũng không có tâm.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Thời gian của ánh sáng duy trì trong bao lâu?

Sogyal Rinpoch: Tùy vào cá nhân từng người, có Thượng sư ngồi thiền 3 ngày, có người ngồi lâu hơn, thậm chí còn có người đã sảy ra rồi mà không biết. Bởi vì Phật tính giống như cái bật tay vậy, thậm chí chúng ta không thể nhận ra nó. Trong giai đoạn của ánh sáng, nếu có thể nhận biết và chứng ngộ được thì có thể đạt được Pháp thân, tức là một trong ba thân.

Sau đó tới thân trung ấm của giai đoạn sau, đó là trung ấm Pháp tính. Không có thân sắc, chỉ có thân ánh sáng (Light body) mà thôi. Đó là một loại năng lượng của báo thân, nhưng không phải là sắc thân và ý sinh thân (Mental body), mà chỉ là một loại thân ánh sáng.

Nếu chúng ta không thể chứng nhận được, tiếp theo sẽ đi vào giai đoạn trung ấm thọ tính, cũng có nghĩa là trung ấm thực tồn. Cái này rất giống với hóa thân, nhưng lại là hóa thân ô nhiễm. Nếu có thể nhận biết và chứng ngộ được thì có thể đạt đến Tịnh độ hóa thân, như Tịnh độ của Phật A Di Đà. Nếu không thể nhận biết và chứng ngộ được, hóa thân ô nhiễm chính là thế giới này, thế giới này chính là hóa thân ô nhiễm.

Trong giai đoạn ý sinh thân, như Hòa Thượng Thánh Nghiêm đã nói, căn cứ theo ghi chép có chín loại năng lực khác nhau có thể đi lại tự tại. Rất thú vị đó là, trong các kinh nghiệm nghiên cứu về cái chết ở phương Tây, cũng phát hiện có trạng thái tương tự như vậy.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: “nhận biết và chứng ngộ” nghĩa là gì?

Sogyal Rinpoch: Trên cơ bản, nhận biết và chứng ngộ tức là thông qua Thiền tu, luyện tập mà có được ngộ cảnh hiện tiền, tôi nghĩ Thiền pháp Trung Quốc cũng như vậy. Nhưng theo truyền thống của chúng tôi mà nói, nếu quý vị bắt đầu tu hành như một tín đồ Phật giáo thì sẽ có 5 mục tiêu, từ chuẩn bị ban đầu nhất dần dần đạt đến giai đoạn không cần học tập thêm nữa; khi quý vị đã thông qua được toàn bộ huấn luyện, cuối cùng Thượng sư sẽ hiển thị tính tâm cho quý vị: “Tính tâm vượt chữ nghĩa, vượt tư tưởng, vượt trình bày, giống như “Bát Nhã Ba La Mật Đa”, bất sinh bất diệt, như hư không, như bản tính của ánh sáng”.

Khi Thượng sư hiển thị, giới thiệu cho quý vị, lúc đó là tâm không nhưng có thể nhận biết và chứng ngộ Diệu Quán Sát Trí, là một trong năm nhận chứng của Diệu Quán Sát Trí.

Tôi còn nhớ một vị Thượng sư của tôi có nói, nếu tâm không ở đó, nếu ở trạng thái không có tâm, thì ai có thể nhận biết và chứng ngộ tính không? Ai Có thể nhận biết và chứng ngộ được thực ra là “Bản Giác” của chúng ta.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Nhận chứng là tự mình nhận biết và chứng ngộ phải không?

Sogyal Rinpoch: Có thể nói là một loại nhận biết và chứng ngộ của chính mình. Nhưng lúc này thực ra cũng không có cái đặc biệt gọi là “tự ngã”. Đó chỉ là một loại rất rõ ràng của “Giác”, là ánh sáng, là ánh sáng mà Thượng sư từng hiển thị và chúng ta từng nhận biết và chứng ngộ. Bởi vì sơ địa ánh sáng xuất hiện khi con người chết đi, cho nên quý vị cần phải nhận biết và chứng ngộ nó.

Bởi vì theo hướng dẫn của truyền thống Phật giáo Tây Tạng, lúc này tham, sân, si ba độc và các loại chướng ngại của Phật tính sẽ tiêu tan, sẽ hiện ra bản tính “giống như hư không”, nếu quý vị có thể thấy được bản tính như vậy, nếu khi còn sống quý vị có nhận thức của chứng ngộ thì quý vị có thể nhận biết và chứng ngộ được chúng; nếu không có nhận thức như vậy, thì đối với quý vị có thể qua đi nhanh như cái bật tay. Ý của tôi là, điều này có thể sảy ra đối với bất kỳ ai, bởi vì mỗi người đều có Phật tính.

Nghiệp có thể nhờ tu hành mà được tiêu trừ không?

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Xin thỉnh giáo Ngài, trong Hán truyền Phật giáo, đối với phần vãng sinh về cõi Tịnh độ của đất Phật có một số tranh luận. Trong đó cái cốt lõi là nghiệp, nếu nhờ tu hành thì nghiệp có thể được tiêu trừ, loại nghiệp nào cũng đều có thể tiêu trừ. Chỉ cần tu hành, chỉ cần chuyển biến tâm niệm thì có thể tiêu trừ được, trong sách mà Ngài viết cũng có nói như vậy.

Nhưng nếu nhìn từ quan niệm nhân quả, nếu tạo nghiệp rất nặng rất nặng thì định nghiệp không thể chuyển được. Điều này có chút mâu thuẫn, có chút xung đột.

Trong quan điểm Phật giáo Tây Tạng, cách nhìn nhận về vấn đề này như thế nào ạ? Có phải cho dù tạo nghiệp nặng đến đâu, bao gồm tội ngũ nghịch cũng có thể chuyển được? (Theo: tức 5 trọng nghiệp là giết cha, giết mẹ, làm Phật chảy máu, giết A La Hán, phá hòa hợp tăng).

Sogyal Rinpoche: Trong quan điểm Phật giáo Tây Tạng, cách nhìn nhận về vấn đề này như thế nào ạ? Có phải cho dù tạo nghiệp nặng đến đâu, bao gồm tội ngũ nghịch cũng có thể chuyển được? (Theo: tức 5 trọng nghiệp là giết cha, giết mẹ, làm Phật chảy máu, giết A La Hán, phá hòa hợp tăng).

Thông thường mà nói, tất cả các nghiệp đều có thể tịnh hóa, bởi vì bản chất cuối cùng của chúng là vô thường, vì tất cả các sự vật đều là vô thường, là không, thì nghiệp cũng vậy.

Nhưng tôi nhận thấy hai cách nói đều đúng, bởi vì nếu ta tạo nghiệp ác rất nặng thì rất khó tịnh hóa, cho nên có một số người nói rằng hầu như không thể chuyển hóa được, bởi vì chúng cần một thời gian rất dài để tịnh hóa.

Nhưng cái này cũng cần xét vào nhiều yếu tố, có lúc con người nỗ lực hối cải, thực sự sám hối trước Phật, bởi những tình huống đặc thù như vậy, thậm chí là ác nghiệp rất nặng cũng đều có thể được tịnh hóa. nhưng bình thường thì loại nghiệp nặng như ngũ nghịch thì thực sự rất khó chuyển hóa.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Thực ra Hán truyền Phật giáo cũng nói như vậy, nếu ta có thể dùng quán tưởng, quán trung quan hoặc là quán không quan, quán được như vậy thì tội sẽ không tồn tại nữa. Tội, tự tính của nó là không, hoặc nói tự tính của bất kỳ một loại nghiệp nào cũng đều là không, cho nên chúng có thể không tồn tại. Nếu ta quán tưởng thành công thì những nghiệp này liền không tồn tại. Nhưng bởi vì tội phạm phải là quá nặng thì rất khó quán tưởng thành công, trở ngại rất nhiều, bởi thế chúng ta cần phải sám hối, cần có một thời gian rất dài để sám hối, tu hành, kết thiện duyên thì mới có thể tu hành thành công.

Sogyal Rinpoche: Đúng vậy, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng nghiệp tội có được tiêu trừ hay không. Ví dụ những thói quen rất nặng của chúng ta rất khó điều chỉnh, như khẩu âm rất nặng cũng đã đủ khó sửa rồi.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Nếu tính nóng nảy của một người quá nặng, có thể sẽ làm trở ngại người ấy sự hiểu về tính không, đồng thời tạo thành rất nhiều hậu quả không tốt. nhưng căn cứ vào cách nói truyền thống của Hán truyền Phật giáo, một người có thể dựa vào những việc tu hành trì giới, bố thí, nhẫn nhục để chuyển hóa thói quen của mình.

Sogyal Rinpoche: Nếu tính nóng nảy của một người quá nặng, có thể sẽ làm trở ngại người ấy sự hiểu về tính không, đồng thời tạo thành rất nhiều hậu quả không tốt. nhưng căn cứ vào cách nói truyền thống của Hán truyền Phật giáo, một người có thể dựa vào những việc tu hành trì giới, bố thí, nhẫn nhục để chuyển hóa thói quen của mình.

Khi mọi người hiểu được tính không mới có thể tịnh hóa trọng nghiệp. Cũng có nghĩa là hiểu được mặt trái của nghiệp là không thực sự tồn tại, thậm chí người tạo nghiệp cũng không tồn tại, chỉ có lãnh ngộ được, hiểu rõ được những điều đó trên thực tế đều là huyễn hóa thì mới có thể tịnh hóa. Vấn đề là, khi tu hành có thể lãnh ngộ được một chút tính không; nhưng khi quay về cuộc sống đời thường thì lại quên đi rất nhanh, và thói quen xấu lại bắt đầu trở lại.

Bởi thế, nếu tính không được duy trì trong đời sống thường nhật là rất quan trọng, khiến tâm thường xuyên ở trạng thái rõ ràng tỉnh táo, khiến cho thể ngộ của tính không kết hợp với đời sống hiện thực của con người. Chúng tôi thường chỉ bảo mọi người quán tưởng, khi rời chỗ ngồi bản thân là chủng tử của huyễn hóa, nếu được như vậy thì lúc đó tính không hiện tiền, tâm sẽ bị tịnh hóa, thói quen xấu sẽ không xuất hiện; nhưng nếu không thường xuyên luyện tập, những thói quen xấu sẽ nảy mầm rất nhanh.

Con đường chứng ngộ phải từ biết đến hành

Sogyal Rinpoche: Như Hòa Thượng đã nói, quan trọng nhất là cần thể ngộ tính không; nhưng không chỉ dừng lại ở khái niệm, mà là tiếp tục từ lời Thượng sư hướng dẫn, đạt tới một loại lĩnh ngộ chân chính, không hai, cũng không phải là tính khái niệm. Tôi thực sự tôn kính sự truyền thừa Thiền pháp truyền thống của các vị, và trong sự truyền thừa Đại Viên Mãn của chúng tôi cũng vô cùng cẩn thận, vô cùng nhấn mạnh cần phải cùng học tập theo Thượng sư. Bởi vì thể ngộ thấy được tính không không chỉ ở khái niệm, mà cần được Thượng sư dùng các loại phương thức kiểm nghiệm kinh nghiệm thực tế. Tôi tin rằng nhận biết và chứng ngộ tính không là quan trọng nhất.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Nếu tính không chỉ là một khái niệm, thì nó vẫn có tác dụng, có thể giúp chính mình giải thích phiền não, có thể giúp bản thân giải trừ phiền não, khi phiền não xuất hiện, có thể nói với chính mình rằng đó là không. Nhưng như vậy không triệt để, nó chỉ có thể giảm nhẹ phiền não, nhưng không thể hoàn toàn tiêu trừ phiền não; tiêu trừ phiền não không hề dễ dàng, nhất định vẫn cần phải tu trì.

Nhưng có người đọc sách có liên quan đến quan niệm không, trên khái niệm thì hiểu về không, cho rằng tự mình đã biết không là gì; thực tế không phải, đó chỉ có thể gọi là tri thức, chứ không phải chứng ngộ thực tế. Muốn có được thể nghiệm chứng ngộ thực tế thì cần phải tu hành.

Ví dụ Sách“sinh tử ở Tây Tạng” bán rất chạy tại Đài Loan, nhưng mọi người đọc sách này rồi, khi lâm chung có thể sinh lòng tin đối với cái chết của chính mình hay không?

Sogyal Rinpoche: Không, như thế không được, lúc bắt đầu có thể phải đọc hơn trăm lần. Nhưng chỉ đọc sách thôi cũng vẫn không đủ. Đọc sách, học tập đích thực có thể đem lại một chút trí tuệ và kiến thức, nhưng sau đó vẫn phải không ngừng tư duy, phản quán rồi không ngừng tu tập.

Tín đồ Đài Loan có nhu cầu về loại Pháp nào?

Sogyal Rinpoche: Với kinh nghiệm và cao kiến của Hòa thượng, thì ngài cho rằng người dân Đài Loan cần những gì từ Phật Pháp? Họ muốn nghe những gì, và nên hướng dẫn họ những gì?

Hòa Thượng Thánh Nghiêm:Rất khó nói, bởi vì người Đài Loan có trình độ tín ngưỡng khác nhau. Chỉ có số ít là hy vọng nghe giảng về cái gì gọi là không, người đồng ý tu hành thì lại càng ít hơn. Số đông hy vọng phát tài, hy vọng khi Thiền sư giống như Ngài đến đây có thể gia trì, quán đỉnh cho họ.

Sogyal Rinpoche:Thực sự là như vậy.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm:Đó là một đáp án bình thường, nhưng lại là một đáp án chân thực.

Sogyal Rinpoche:Có thể cho tôi một chút ý kiến không, tôi dạy những gì ở Đài Loan có tác dụng nhiều hơn? Bởi vì tôi chỉ thỉnh thoảng đến đây, nên có nhiều điều chưa rõ về Đài Loan.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Tôi nghĩ nên giúp cho tất cả các tín đồ Phật giáo Đài Loan hiểu một cách chính xác về Tạng truyền Phật giáo là gì. Thực tế hiện tại Tạng truyền Phật giáo được truyền ở Đài Loan vẫn là một bộ phận của hiển giáo, chứ không phải bộ phận của mật giáo. Nhưng người Đài Loan chỉ cần thấy Rinpoche của Tây Tạng, hay người chuyển thế đến, thì đều cho rằng đó là Pháp Mật tông, cho nên tôi có ý kiến là nên giúp người Đài Loan biết không phải vậy, và sự khác biệt giữa hai bộ phận như thế nào.

Thực ra trình tự của Phật giáo Tây Tạng, nhất là trình tự tu học của bộ phận hiển giáo rất rõ ràng, nhưng chỉ khiến người Đài Loan muốn theo đuổi sự nhanh chóng, đó thực sự rất nguy hiểm.

Sogyal Rinpoche: Vậy thì thật nguy hiểm, tôi cũng thường nói điều đó là không thể. Tây Tạng có câu tục ngữ, nếu bạn càng muốn đi nhanh ngược lại càng chậm đến nơi, đi từ từ ngược lại còn đến nhanh hơn một chút.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Milarepa cũng nói, tu hành không phải vì cầu khai ngộ, thì ngược lại sẽ chứng ngộ rất nhanh. Nhưng người Đài Loan luôn hy vọng một vị Rinpoche tới lập tức có thể dạy họ thành Phật.

Sogyal Rinpoche: Tôi nghĩ đó là vì quá nhiều kỳ vọng. Có hai việc là kẻ thù lớn nhất của con người, đó là quá nhiều kỳ vọng và quá nhiều sợ hãi, thậm chí là ngồi thiền cũng vậy. Tôi còn nhớ Thượng sư của tôi thường nói: “Không có kỳ vọng, không có sợ hãi.” Tất cả những suy nghĩ có liên quan đến kỳ vọng và sợ hãi đều là nguyên nhân chính dẫn đến luân hồi.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Các Tổ sư Thiền tông cũng có nói, nếu đem tâm muốn ngộ, lấy tâm của bản thân chờ đợi sự khai ngộ, đó là cầu thăng nhưng ngược lại bị sa đọa. Trên thực tế, tu hành là tu hành, nếu có thể dùng thái độ đúng đắn, dùng phương pháp chính xác, tin vào những điều thầy dạy, tôi nghĩ việc tu hành này là vô cùng tinh khiết, thuần túy.

Tâm yếu của thiền là gì?

Sogyal Rinpoche: Tôi rất muốn hiểu thêm về Thiền tông, có thể thỉnh Ngài nói cho tôi biết về tâm yếu của thiền không ạ?。

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: “Không có thứ gì là tâm yếu của thiền tông cả”, đó chính là tâm yếu của thiền tông.

Sogyal Rinpoche: Tôi biết là Ngài sẽ nói vậy. (Hai vị đều cười lớn)

Hòa Thượng Thánh Nghiêm:Chúng tôi nói Pháp phương tiện và Pháp cứu kính, người thường thích hợp với Pháp phương tiện, cần có trình tự, cần có điểm tựa. Nhưng Pháp cứu kính thì không có thứ gì cả.

Sogyal Rinpoche: Nếu không có nền tảng giáo lý cơ bản, thì rất khó nói Pháp cứu kính.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm:Cho nên Thiền tông Trung Quốc nói mà không lập văn tự, đó là nói Pháp cứu kính. Nhưng Phật giáo Trung Quốc có 8 Tông phái, văn tự nhiều nhất lại chính là Thiền tông, bởi muốn dạy mọi người biết thế nào gọi là không lập văn tự, cho nên đặc biệt nói rất nhiều.

Sogyal Rinpoche: có một câu văn nổi tiếng của Phật giáo Tây Tạng, lời văn cầu nguyện với 4 câu mở đầu trong “Tâm Kinh” là sự quy kính đối với Bát Nhã Ba La Mật Đa: “Vượt chữ nghĩa, vượt tư tưởng, vượt trình bày, Bát Nhã Ba La Mật Đa. Bất sinh, bất diệt, có bản chất giống như hư không. Nhưng có thể thể ngộ được, có thể làm cho trí tuệ nội tại của chúng ta nhận biết và chứng ngộ, quy kính mẹ của tam thế chư Phật.”

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Phật trong quá khứ, trong vị lai, mẫu thân của tam thế chư Phật, đó là trí tuệ. Cho nên Bồ Tát Văn Thù chính là mẫu thân của tam thế chư Phật, còn Tsongkhapa là hóa thân của Bồ Tát Văn Thù, là người sáng lập Phật giáo cận đại Tây Tạng.

Sogyal Rinpoche: Tây Tạng có 3 vị hóa thân của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: Longchenpa, Saskyapalida và Tsongkhapa, ba vị đều là Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi.

Đối với truyền thừa Đại Viên Mãn

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Ngài là người truyền thừa của vị Bồ Tát Văn Thù nào?

Sogyal Rinpoche: Longchenpa, cũng có nghĩa là truyền thừa của Nyingmapa, phái này bắt đầu từ Đại sĩ Liên Hoa Sinh, truyền thừa giáo Pháp chủ yếu là Đại Viên Mãn, cũng có liên quan đến Thiền.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Ở Ấn Độ không có việc tu trì Đại Viên Mãn như vậy có phải không?

Sogyal Rinpoche: Không, ở Ấn Độ không phải không có truyền thừa Pháp Đại Viên Mãn, mà là truyền thừa một cách vô cùng bí mật. Như Thượng sư Vô Cấu Hữu và Sri Singha, Ngài từ Trung Quốc đến Ấn Độ. Còn có Manjusrimitra và rất nhiều các Thượng sư khác đều vậy, chỉ có điều là đều rất bí mật.

Giáo pháp thông thường ở Ấn Độ, như tư tưởng Đại Thừa phát triển thời mở đầu cũng được coi là bí mật, còn Kim Cương Thừa càng bí mật, truyền thừa Đại Viên Mãn thì càng bí mật hơn nữa. Ví dụ Long Thọ, Ngài là vị đạo sư vĩ đại của Đại Thừa, nhưng trong truyền thừa mật giáo, Ngài là Thượng sư của Kim Cương Thừa, cũng là người truyền thừa của Đại Viên Mãn. Ngài là một trong những người thầy của Đại sĩ Liên Hoa Sinh, có thể nói là một trong tám vị đại sư vĩ đại trong truyền thừa Đại Viên Mãn.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Trong truyền thuyết của Tây Tạng, thọ mệnh của Bồ Tát Long Thọ rất dài, và thọ mệnh của Đại sư Liên Hoa Sinh cũng rất dài, có truyền thuyết như vậy hay không?

Sogyal Rinpoche: Đúng, nhưng điều thú vị đó là việc khó lý giải, rất khó dùng khái niệm của người thường để lý giải. Ví dụ Đại sĩ Liên Hoa Sinh đến Ấn Độ sau khi Phật nhập diệt khoảng 8 đến 12 năm, nhưng đến Tây Tạng lại là việc của thế kỷ thứ 8, Phật cũng tiên đoán Đại sĩ Liên Hoa Sinh đến Ấn Độ sau khi Phật niết bàn 10 đến 12 năm. Cho nên tâm của phàm phu rất khó lý giải khái niệm này.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Hôm nay cuộc nói chuyện rất hay, rất cảm ơn Ngài đã đến.

Sogyal Rinpoche: Tôi cũng rất vui có được cơ hội như thế này, vô cùng cảm ơn Ngài, chúc Ngài trường thọ trăm tuổi, Ngài phải thường trụ thế giới này.

Hòa Thượng Thánh Nghiêm: Xin cảm ơn.

(Cuộc nói chuyện ngày 01 tháng 04 năm 2000 tại chùa Nông Thiền, cảm ơn Diêu Nhân Hỷ, Trương Lê Văn dịch thuật trực tiếp)