Lễ tang theo nghi thức Phật giáo

(I) Lời nói đầu

Đời người có bắt đầu có kết thúc, cũng như tất cả các hiện tượng của giới tự nhiên, có khởi tất phải có diệt, có sinh tất phải có tử. Cho nên từ khi sinh ra đến khi chết đi, là quá trình mà đời người phải trải qua, đó cũng là hiện tượng tự nhiên của vũ trụ. Tuy đối diện giữa sự sống và cái chết, tình thân tình bạn đều có đau buồn sâu xa, nhưng đó cũng là sự thực không thể tránh khỏi.

Bởi thế đời người cần phải coi trọng khi bắt đầu và kết thúc thật thận trọng, dưỡng lúc sinh và tôn coi trọng cái tử. Muốn có sự tôn nghiêm của sự sống, thì cũng cần sự tôn nghiêm của cái chết. sinh đúng nơi đúng lúc, chết cũng được an ủi, mới có thể thể hiện giá trị của sự sống và ý nghĩa của cái chết, như vậy mới có thể bù đắp những tiếc nuối về sinh ly tử biệt.

Nhìn từ quan điểm Phật giáo đối với quá trình của sự sống, khi sinh ra đương nhiên là ôm ấp một niềm hy vọng vô hạn mà đến, khi chết cũng đem đi những triển vọng tươi sáng. Cho nên đời người kết thúc không phải chuyện vui nhưng cũng không phải chuyện buồn, mà là một việc Phật sự trang nghiêm.

Bất kỳ sự hình thành nào của một loại tập tục (tập quán) đều có ảnh hưởng riêng của bối cảnh thời đại và môi trường xã hội, văn hóa Trung Quốc chú trọng luân lý và hiếu đạo, đó là di sản dân tộc của nước nhà, nhưng về phương diện lễ nghi đám tang, có nhiều tình tiết đã không còn thiết thực với văn minh hiện đại, thậm chí một số báo đài quốc tế lấy hình ảnh tang lễ của Đài Loan làm chuyện lạ về kỳ phong dị tục, để giới thiệu cho người xem của họ.

Còn người đương sự trong nước, người vãng sinh đã không còn cơ hội để chủ trương việc của mình, người thân của người vãng sinh thì hơn nửa chỉ có thuận theo phong tục xa xưa. số ít tuy có tâm làm hậu sự cho người vãng sinh, làm rất có tôn nghiêm, nhưng lại không biết bắt đầu làm từ đâu. Cố gắng tuyệt đối làm rất nhiều nghi lễ, ngoài việc cố gắng có thể bố trí bề mặt nhộn nhịp, trên thực tế thì lại không làm cho người vãng sinh có được sự tôn nghiêm đáng có, và cũng không thể an ủi đúng lúc cho người sống. Trong lúc tiến hành nghi lễ thì cảm thấy buồn rầu mờ mịt, sau khi hoàn thành nghi lễ càng thêm phần thương sót và bi ai.

Mỗi lần đến ngày gọi là ngày tốt, nhà tang lễ luôn không đủ chỗ để dùng, vì thế cố gắng rút ngắn thời gian làm lễ, qua loa cho xong việc, linh cữu cũng chỉ dừng ở gần bên đường đầu ngõ, tăng thêm sự nuối tiếc của việc tiễn đưa, và cũng gây ra sự bất tiện cho người khác. Nếu từ quan điểm Phật giáo mà nói, ngày ngày đều là ngày tốt, không có vấn đề gì cả.

Pháp Cổ Sơn vì muốn đề xướng bảo vệ môi trường nghi lễ, phát huy tinh thần luân lý vốn có của Trung Quốc, từ tín ngưỡng Phật giáo và lập trường của người hiện đại, thúc đẩy coi trọng ma chay, cúng tế theo nghi thức của Phật giáo thì âm dương đều được lợi. Với nguyên tắc đơn giản hóa, tiết kiệm, tích phúc, trồng phúc, để hoàn thành Phật sự một cách long trọng, nghiêm túc, yên bình và trang nghiêm. Với mục đích tha thiết tưởng niệm và thành kính chúc phúc cho người vãng sinh, an ủi và quan tâm người thân bạn bè của người vãng sinh. Khiến mọi người cảm nhận được điểm cuối của đời người không phải là kết thúc sự sống, mà là sự tiếp tục vô hạn và liên tiếp viên mãn.

Chúng ta khuyên tín đồ Phật giáo hưởng ứng cúng tế theo nghi thức của Phật giáo, cũng hy vọng mọi người trong xã hội đồng ý chấp nhận nghi thức tang lễ Phật giáo và đều đến tiếp nhận phục vụ của chúng ta. Nghi lễ của Linh đường được bố trí bằng phương thức của Phật giáo, tràn đầy không khí trang nghiêm, mềm mại, ấm áp. Hy vọng tất cả người tham gia nghi lễ đều mặc quần áo dài tay dài chân màu đen. Đối với người vãng sinh mà nói, linh đường chính là khởi điểm vãng sinh Tây phương Phật quốc. Đối với người sống mà nói, là cùng đến đây để tiễn chúc vị Phật tương lai trở về Tây phương Tịnh độ.

(II) Phật sự trang nghiêm âm dương đều được lợi

1. Phật sự là gì?

Theo nghĩa rộng, những việc như tin Phật, cầu Phật, thành Phật, đều là Phật sự. Phật nói người người đều có thể thành Phật, chỉ cần có thể tin phục và tôn kính phương pháp thành Phật mà Phật đã nói và làm theo, ắt sẽ thành Phật. Phạm vi của Phật sự có rộng và hẹp, gọi là “Phật Pháp vô biên” nghĩa là phương pháp thành Phật vô cùng nhiều.

Đối tượng chủ yếu làm Phật sự là con người, lấy phúc tuệ song tu làm mục tiêu, trong đó đọc kinh, tụng kinh, nghe Pháp, thuyết kinh, niệm Phật, lễ Phật, ngồi thiền là “tu tuệ”. Bố thí, nhẫn nhục, trì giới, cúng dường Tam Bảo, kính hiếu cha mẹ, kính trọng sư trưởng, bố thí rộng khắp người nghèo, người bệnh là “tu phúc”. Cần phải phúc tuệ song tu mới là con đường đúng đắn làm Phật sự mà Phật pháp đã nêu.

Đối tượng siêu độ của Phật Pháp là lấy người sống làm trung tâm, nếu thường ngày không tu hành, lúc lâm chung mới đến ôm chân Phật cầu cứu, tuy cũng có công đức, nhưng không thiết thực và đáng tin cậy bằng sự chuẩn bị hàng ngày. nếu tự mình không làm Phật sự, sau khi chết do người thân hoặc bạn bè làm thay, hiệu quả sẽ kém đi rất nhiều. “Kinh Địa Tạng” nói, giúp quyến thuộc đã mất làm bất kỳ Phật sự nào, có được 7 phần công đức, thì người sống được hưởng 6 phần, người vãng sinh chỉ được 1 phần mà thôi, cho nên chúng ta cần phải tự mình làm nhiều Phật sự khi còn sống.

2. Buông bỏ vạn duyên, nhất tâm niệm Phật

Công phu học Phật chủ yếu là dựa vào tu hành thường ngày. Giả dụ thường ngày không tu trì Phật pháp, khi lâm chung vẫn còn một cách cứu vớt, đó là căn cứ theo đạo lý “tùy niệm vãng sinh”, khuyên người bệnh trút bỏ vạn duyên, nhất tâm niệm Phật, không được tâm hoảng ý loạn, cũng không được tham luyến người thân bạn bè và tài sản sự nghiệp. Yêu cầu mọi người cùng niệm Phật, khiến tâm niệm của người lâm chung hòa nhập vào tiếng niệm Phật một cách thành kính tha thiết. Như thế, sau khi chết có thể vãng sinh Tịnh độ Phật quốc, giả dụ tuổi thọ chưa hết thì cũng có thể bởi công đức niệm Phật ấy mà người bệnh mau chóng hồi phục sức khỏe, phước thọ tăng trưởng.

Giúp người vãng sinh làm Phật sự, cần dùng lòng thành kính, cung kính, nghiêm túc, trang nghiêm. Yêu cầu người thân bạn bè nếu có thể thì cố gắng toàn thể cùng tham gia, có thể cùng trì tụng là tốt nhất, hoặc tùy theo cá nhân tham gia, lắng nghe, lễ bái cũng được. Lòng thành kính, cung kính của người thân bạn bè của người vãng sinh có thể cảm ứng nguyện lực từ bi của chư Phật Bồ Tát, dùng Phật pháp cứu vớt và khai đạo cho người vãng sinh, hóa giải nghiệp lực của phiền não, có thể dứt khổ siêu sinh. Nếu người thân bạn bè không hề quan tâm đến Phật sự, và cũng không tham gia, cũng không lễ kính, thì lợi ích đối với người vãng sinh tuy cũng có nhưng rất ít, cho nên thực sự cần tự mình làm Phật sự.

(III) Yếu tố cần thiết khi chăm sóc người lâm chung

1. Phương pháp trợ niệm

Căn cứ “Kinh Quán Vô Lượng Thọ” khi Phật A Di Đà mới phát nguyện, từng mở ra phương tiện thù thắng. Tuy người phạm thập ác ngũ nghịch, khi lâm chung, nếu dạy họ niệm Phật, tiếng niệm không ngừng, đầy đủ mười niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, liền được vãng sinh Tịnh độ. Bởi thế, đối với người bệnh nặng mà nói, trước tiên cần giúp họ biết được và có lòng tin, chỉ cần niệm Phật ắt sinh Tịnh độ. Khuyên họ niệm Phật, và trợ giúp họ niệm Phật, trợ giúp họ chí tâm niệm danh hiệu Phật, như vậy là mượn sức mạnh của người trợ niệm cộng thêm sức bản nguyện của Phật, giúp cho người lâm chung vãng sinh Tịnh độ.

Phương thức trợ niệm, có thể chia thành hai đoạn như sau:

(1) Đối với người tinh thần còn minh mẫn:

Trước tiên nên thuyết Pháp an ủi, khuyên họ nhất tâm niệm Phật, do người xuất gia hoặc các cư sĩ hoặc người thân trợ niệm. Tuyên nói: các vị cư sĩ, bây giờ quý vị đừng nghĩ gì hết, mà nghe rõ vài câu Phật pháp. Phật nói con người có sinh, lão, bệnh, tử, đó là hiện tượng tất yếu, cho nên không cần quá lo sợ cái chết. Sau khi rời khỏi nhân gian, nếu có thể vãng sinh về Tây phương Phật quốc, thì là hạnh phúc nhất. Bây giờ, hãy lấy tất cả công đức của các việc thiện mà quý vị đã làm trong suốt cuộc đời, cầu sinh về Phật quốc, nhất tâm xưng niệm ‘Nam Mô A Di Đà Phật’. Nếu quý vị chưa đến lúc vãng sinh, Phật A Di Đà là đại y sĩ, Ngài sẽ giúp quý vị khỏe mạnh bình phục. Bây giờ, đại chúng đến trợ niệm cho quý vị, nếu quý vị có thể niệm, thì niệm nhỏ tiếng theo chúng tôi, nếu không thể niệm, thì nghe chúng tôi niệm danh hiệu Phật, trong tâm niệm nhẩm theo. Đừng nghĩ gì hết, nhất tâm cầu Phật A Di Đà đến tiếp dẫn quý vị vãng sinh Tịnh độ Phật quốc”.

(2) Đối với người bệnh yếu mà tinh thần không còn minh mẫn:

Tuy người bệnh tinh thần không còn minh mẫn, vẫn cần khai thị Phật pháp cho họ. Tinh thần không còn minh mẫn có thể chia làm hai loại: Một là cơ thể tuy không thể cử động, mắt không thể nhìn, miệng không thể nói, nhưng tâm vẫn minh mẫn rõ ràng, tai có thể vẫn còn nghe thấy, cho nên khi tinh thần họ còn minh mẫn, có thể khai thị ngắn gọn cho họ. Hai là đã ngừng thở, sinh lý đã chết, nhưng thần thức họ lại cho rằng mình vẫn còn sống, hoặc vẫn ở di thể mà chưa rời ra, bởi thế, vẫn phải thuyết Pháp trợ niệm cho họ.

Chúng ta đã biết sau khi con người chết đi, thần thức vẫn chưa lập tức rời khỏi cơ thể, cho nên thời gian trợ niệm bình thường là 8 đến 12 tiếng đồng hồ, không được tùy tiện niệm mấy câu cho xong việc. Người trợ niệm phải chia thành nhiều tổ, mỗi tổ thay phiên nhau trợ niệm 2 tiếng đồng hồ. Khi niệm, bản thân người trợ niệm phải chăm chú nhất tâm nhất ý, âm thanh phải đều rõ ràng, không được quá nhanh quá lớn tiếng, cũng không được bi thảm hoặc gấp gáp, mà phải nghiêm túc, trang nghiêm, bình tĩnh, hòa hợp, niệm một cách nhẹ nhàng, giúp cho người bệnh bình tĩnh, thoải mái, vui vẻ, tự tại mà vãng sinh.

Lại có người dùng máy ghi âm niệm Phật để trợ niệm, bởi máy niệm Phật không có tâm, cho nên hiệu quả có hạn. người niệm Phật, nhất là người thân thành kính trợ niệm, hiệu quả tốt hơn, bởi có thể nhờ tâm nguyện, lòng tin của người trợ niệm mà cảm ứng nguyện lực của Phật A Di Đà. Máy ghi âm tuy cũng có thể thúc đẩy người bệnh niệm Phật, nhưng không khí và hiệu quả thì kém hẳn so với có người trợ niệm, đó là hai việc khác nhau, trừ phi bất đắc dĩ, còn không tốt nhất không nên dùng máy ghi âm thay thế trợ niệm.

2. Phương thức xử lý di thể một cách chính xác

Đứng ở lập trường của Phật pháp, sau khi người bệnh tắt thở, hơi thở đã ngừng, nhưng thần thức vẫn chưa rời đi, cần trải qua một khoảng thời gian, toàn thân lạnh ngắt, thần thức xuất ly, mới được coi là chết. Trước khi thần thức chưa rời khỏi, chính là lúc tâm linh đau khổ nhất, lúc này tiếng khóc của người thân hoặc bất kỳ sự động chạm vào di thể, cũng đều sẽ làm tăng thêm đau khổ cho người vãng sinh, để giúp cho người vãng sinh có thể chết yên lành, tốt nhất là ở bên cạnh họ yên tĩnh niệm danh hiệu “A Di Đà Phật”, bởi vì kinh Phật nói rằng, người vãng sinh khi lâm chung chỉ cần nghe thấy một câu danh hiệu Phật thì sẽ không bị đọa vào đường ác chịu khổ.

Những sai lầm nói chung khi mọi người xử lý di thể thường phạm phải, khi người bệnh ngừng thở ngoài việc lập tức khóc lóc bi ai, mà còn ôm ấp người bệnh than vãn, tùy ý di rời, miễn cưỡng để họ nằm xuống, vội vàng tắm rửa thay quần áo, tiêm thuốc trợ tim, những hành động ấy tưởng rằng là thương yêu mà ngược lại lại là hại họ.

Ngoài ra, người Trung Quốc có quan niệm nếu vãng sinh ở ngoài thì không được đem về nhà, cho nên có nhiều gia đình mau chóng đưa người bệnh từ viện về nhà, khiến cho người bệnh thân tâm chịu đủ đau khổ. Trên thực tế, quan niệm di thể người vãng sinh không được đem về nhà là không có tình người, người nhà bệnh nhân không nên vì mê tín mà khiến người sống, người vãng sinh đều hối tiếc.

Bởi vì thần thức chưa rời đi, vẫn còn chấp trước di thể, nên người vãng sinh vẫn cảm thấy đau khổ cũng giống như người bình thường vậy. Người thường còn có thể kêu đau kêu cứu, ra sức kháng cự. Nhưng đối với người vãng sinh vẫn còn thần thức mà nói, tuy đau đến tận xương tủy, nhưng lại không thể mở miệng để nói, đồng thời bởi người sống không hiểu rõ những kiến thức về lâm chung, mà làm cho người vãng sinh cảm thấy đau khổ rồi sinh tâm sân hận, khiến thần thức của họ rơi vào đường ác, đó không phải là điều mà người thân của người vãng sinh mong muốn.

Để duy trì nhân đạo, làm tốt hiếu đạo, khi người bệnh tắt thở nhưng thần thức vẫn chưa rời đi trong vòng 8 tiếng đồng hồ, phòng bệnh nên được duy trì yên tĩnh, cố gắng không được có các hành động di chuyển đã nêu ở trên, để bảo đảm thần thức của họ được yên bình. Nhưng quan niệm Phật giáo cũng có tính co dãn, trong trường hộp đặc biệt, thì vẫn có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh.

Ví dụ: Khi còn sống có lập di chúc tặng bộ phận cơ thể, đây là tinh thần Bồ Tát đạo xả mình cứu người, không những không cản trở vãng sinh Phật quốc, mà còn làm tăng thượng duyên vãng sinh Phật quốc. Hoặc nếu không kịp nhập liệm làm tang, có thể sẽ gây ô nhiễm và nhiễm bệnh đối với vệ sinh công cộng, thì cũng nên lập tức xử lý di thể.

Ngoài ra, nói chung mọi người cho rằng gặp phải các trường hợp tử vong do tai nạn hàng không, lụt lũ, giao thông, hỏa hoạn, động đất, chiến tranh hoặc các loại tai nạn ngoài ý muốn khác, đều là chết uổng, thực ra đó là cái nhìn sai lầm. Cái chết của họ thực ra là thay chúng sinh thọ báo, bởi thế họ là Bồ Tát hiện thân thuyết Pháp, là thầy giáo lấy sinh mệnh làm tài liệu dạy học cho chúng ta. Chúng ta cần phải cảm ơn họ, và chúc phúc cho họ, họ đều là Bồ Tát, đương nhiên đều sẽ vãng sinh vào đường tốt.

Phật giáo coi trọng việc đối đãi sự tôn nghiêm của cái chết, là ở chỗ hy vọng tâm thái của mọi người trong việc xử lý làm tang cần phải trang trọng, cung kính, chứ không phải hạn chế câu nệ trong một hình thức nào cả.

3. Tang lễ đơn giản, long trọng

Nghi lễ làm tang theo nghi thức của Phật giáo cần long trọng, đơn giản, ngoài người thực hiện nghi lễ ra, chủ thể phải là Pháp sư hoặc cư sĩ chủ trì nghi thức này dẫn dắt mọi người tụng kinh cho người vãng sinh. Đại chúng tham gia đều nên cầm một quyển kinh Phật cùng trì tụng. Nội dung trì tụng tốt nhất là những bài văn và kệ tụng ngắn gọn, như “Tâm Kinh”, “Vãng Sinh Chú”, kệ tán Phật, danh hiệu Phật, kệ hồi hướng. Sau đó người chủ trì giới thiệu cuộc đời của người vãng sinh, và những công đức làm thiện, lợi người, học Phật của người vãng sinh, đồng thời khai thị một cách ngắn gọn, vừa là hóa độ người vãng sinh siêu sinh Tịnh độ Phật quốc, đồng thời cũng là để an ủi, khêu gợi người thân bạn bè của người vãng sinh nghe Pháp tu hành. Bởi thế nghi lễ cúng tế của Phật giáo vừa là khởi điểm hoặc quá trình giúp cho người vãng sinh đi lên con đường thành Phật, và cũng là cơ hội tốt để người sống tu học Phật pháp và hoằng Pháp lợi sinh.

Căn cứ nguyên tắc phương tiện và tiết kiệm, thời gian trước và sau khi cúng tế tại nhà và cúng tế ở ngoài không nên quá một tiếng đồng hồ, tốt nhất là nửa tiếng đồng hồ. Còn đội nhạc Trung Tây hoặc nghi thức xe hoa, đều là hư vinh phô trương, việc này đối với người không phải là tín đồ Phật giáo tuy có tác dụng an ủi vong linh, nhưng đối với tín đồ Phật giáo thì lại sẽ làm rối loạn người vãng sinh nhất tâm cầu siêu sinh Tịnh độ Phật quốc.

Đối với tín đồ Phật giáo và đại chúng nói chung xử lý di thể thường áp dụng phương thức chôn cất và hỏa táng, song với hình thái xã hội hiện tại, hỏa táng là phương thức lý tưởng hơn, vừa sạch sẽ, đơn giản, lại vừa có thể gửi tro cốt sau khi hỏa táng vào trong tháp của chùa, giúp người chết gần bên Tam Bảo, nghe vấn Phật pháp, thực sự là một công đôi việc.

Tóm lại, nghi lễ đám tang của Phật giáo lấy đơn giản, trang nghiêm, long trọng làm nguyên tắc.

(IV) Quy trình xử lý cơ bản

1. việc cần làm cho người lâm chung

(1) Trường hợp đưa vào bệnh viện cấp cứu nhưng không có hiệu quả, nếu bệnh viện có phòng trợ niệm, đồng ý cho người nhà trợ niệm, thì có thể xem xét ý muốn của người bệnh hoặc người thân của họ giữ lại trong bệnh viện hay đưa trở về nhà. Nếu bệnh viện không cho phép làm trợ niệm, thì có thể xem xét tình hình khi người bệnh đang hấp hối (cho dù đã vãng sinh cũng không có trở ngại gì) mà đưa người bệnh về nhà sắp xếp.

(2) Sau khi người vãng sinh ngừng thở, người thân không được níu kéo khóc lóc, cũng không nên gấp gáp tìm người phục vụ mai tang. Mà có thể liên lạc với các hội Phật tử phát tâm trợ niệm, toàn tâm niệm Phật.

(3) Có thể đắp “áo vãng sinh” cho người vãng sinh, đầu di thể hướng vào trong, chân hướng ra ngoài, và cung thỉnh tượng Tây Phương Tam Thánh về đặt ở nơi sạch sẽ trong nhà, giúp cho đại chúng sinh khởi chính niệm.

(4) Sau khi trải qua 8 đến 12 tiếng đồng hồ, mới làm sạch cơ thể, thay quần áo và di rời thi thể đến đại sảnh (hoặc đưa gửi ở nhà tang lễ).

(5) Dùng dây kéo quanh bốn phía di thể, rồi treo màn che bằng vải vàng. Đặt bàn thờ vong linh trước màn che, có thể dùng khăn trải bàn bằng vải vàng hình vuông trải lên bàn, trên bàn đặt hai lọ hoa tươi, cúng quả, đèn hoa sen hoặc một đôi nến, một bát hương, một cốc nước cúng, và ảnh của người vãng sinh. Không cần làm cơm (tức bát cơm cắm 2 cây đũa lông) cúng người chết, không cần đốt tiền vàng.

2. Nhập liệm

(1) Khi nhập liệm người nhà phải thành kính niệm Phật, không được khóc lóc hoặc cười nói.

(2) Quần áo người vãng sinh mặc, theo quan niệm tích phước, lấy nguyên tắc sạch sẽ gọn gàng là chính, quần áo cũ giặt sạch cũng được, không cần theo tập tục mặc 5 - 7 lớp quần áo, để tránh lãng phí lại tổn phước.

(3) Khi chôn người vãng sinh không được đeo trang sức, đồ vật mà họ yêu thích khi còn sống, bởi vì sẽ làm tăng sự chấp trước của thần thức.

3. Thời gian để tang

(1) Sau khi người vãng sinh đã vãng sinh, tốt nhất bắt đầu từ lúc qua đời, luôn luôn trợ niệm danh hiệu Phật cho người ấy.

(2) Có thể trong bảy bảy 49 ngày, ngày nào cũng làm Phật sự là tốt nhất, nếu không 7 ngày hoặc 3 ngày đầu sau khi vãng sinh hoặc chỉ có 1 ngày, hoặc một ngày nào đó trong một tuần làm Phật sự, đều tốt cả, có thể xem xét tình hình cá nhân mà quyết định.

(3) Muốn siêu độ cho người thân đã mất, có thể cung kính, cúng dường chư Phật Bồ Tát, đọc tụng, thọ trì các loại kinh Phật. Hoặc làm bố thí, cúng dường tăng chúng xuất gia.

(4) Người thân của người vãng sinh có thể phát tâm trong vòng 49 ngày, ăn chay niệm Phật, giữ gìn năm giới thanh tịnh (không sát sinh, không trôm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu và ăn hành tỏi) đồng thời duy trì làm Phật sự như tụng kinh, niệm Phật hoặc làm siêu độ, in kinh, bố thí, cúng dường, lấy công đức hồi hướng cho người vãng sinh, như vậy âm dương đều có thể nhận được lợi ích.

4. Lễ đưa tiễn

(1) Bài trí linh đường trang trọng, trang nghiêm, cao nhã, đơn giản, không cần nhạc trống ầm ĩ.

(2) Tang phục (quần áo, giày) của người nhà đều màu đen dài tay, thay thế cho áo gai, giày cỏ không hợp thời đại, và dùng tràng hạt màu thô “để tang”, vừa có thể niệm Phật hồi hướng cho người vãng sinh ở mọi lúc, vừa tránh được sự cấm kỵ hoặc không vui của người khác khi ra vào những nơi khác nhau trong thời gian để tang.

(3) Người thân bạn bè đến truy điệu đều mặc quần áo và giày màu đen, không cần đội khăn đội đầu, băng tang, khăn quấn bụng .v.v.

(4) Không được sát sinh làm cỗ mặn chiêu đãi người thân bạn bè, càng không được dùng rượu thịt cúng tế người vãng sinh, trước linh thể nên cúng dường hương hoa, oản quả, đồ chay.

(5) Đặt giỏ hoa, vòng hoa, câu đối trướng. Nếu người thân bạn bè đến viếng biếu tiền, ngoại trừ gia đình nghèo khó giữ lại chi phí làm tang và sinh hoạt phí, còn không thì tốt nhất tất cả đều đem cúng dường Tam Bảo, hoằng Pháp lợi sinh và làm công ích từ thiện, hồi hướng công đức đó cho người vãng sinh.

(6) Báo cáo công đức của người vãng sinh khi còn sống, giúp người tham gia lễ tang biết được các thiện đức của người vãng sinh khi sống, khiến cho người vãng sinh cảm thấy đời này không uổng phí, và khích lệ người sau học tập người đi trước. Đọc nội dung có thể bao gồm sinh và ngày tháng năm mất, nơi sinh, địa điểm và thời gian quy y Tam Bảo, thọ giới và Pháp danh, việc làm thiện, tình hình tu trì, vinh dự gia đình, do người lớn tuổi hoặc người điều hành nghi lễ hoặc Pháp sư chủ trì nghi lễ tuyên đọc, từ 3 đến 5 phút là được.

5. xuất linh cữu và đưa đám tang

(1) Do Pháp sư chủ trì hoặc cư sĩ thuyết Pháp khởi linh. Quyến thuộc nâng cữu đi theo xe tang, anh em họ hàng, bạn bè theo sau.

(2) Không được dùng loa phát thanh ầm ĩ dọc đường, nhưng nên mở đài ghi âm phát danh hiệu Phật trong xe tang, và cùng niệm Phật.

(3) Khi đưa đám tang, dọc đường không được rắc “tiền mua đường”, nếu không không những vi phạm nguyên tắc bảo vệ môi trường, mà còn làm cho tiền giấy bay vào nhà người khác khiến cho chủ nhà không vui.

(4) Toàn bộ quá trình phải được duy trì trong nghiêm túc, trang nghiêm, uy nghi, gọn gàng, để thể hiện lòng thành kính đối với Tam bảo và tưởng niệm người vãng sinh.

(V) Chuẩn bị trước, giảm bớt hối tiếc

Nói chung mọi người khi vãng sinh đều dựa vào người thân làm Phật sự cứu độ siêu sinh, hoặc làm Phật sự để trang trí vẻ ngoài. Thực ra lúc còn sống tự mình tu trì học Phật pháp còn dễ và bảo đảm hơn là khi chết người thân giúp làm siêu độ vãng sinh. Cho nên trước khi vãng sinh, cần tự mình làm công đức, khiến cho bản thân sinh tâm hoan hỷ, tâm thành kính, tâm sám hối, tâm niệm Phật. Nếu khi còn khỏe mạnh, tự phát tâm tu hành trồng phúc, lễ Phật, niệm kinh, giữ trai giới, phát đại nguyện, cộng thêm trợ niệm khi lâm chung, ắt sẽ “vãng sinh”.

Để tránh người thân xử lý không hợp lý, ảnh hưởng đến vãng sinh đại sự, thường ngày cần phải nhắn nhủ, dặn dò người thân một cách rõ ràng về ý chỉ của mình. Tốt nhất nên viết di trúc trước, đừng cho rằng nói về lâm chung là không cát tường mà cấm kỵ mà không đề cập đến.

Nếu như mắc bệnh nặng có thể dặn bảo người thân, nếu có người đến thăm thì đều mời họ giúp niệm Phật, đừng nói chuyện nhàn rỗi. Kinh Phật nói công đức niệm Phật không thể nghĩ bàn. Niệm một câu danh hiệu Phật có thể tiêu trừ tội nặng sinh tử nhiều kiếp. Vì thế, niệm Phật có thể siêu độ vong linh quỷ Thần, hóa giải oán kết, tiêu trừ nghiệp chướng, giúp bản thân có thể thuận lợi vãng sinh thế giới Cực Lạc.

(Bài viết này viết cho đoàn trợ niệm Pháp Cổ Sơn)