Vì sao phải làm Phật sự

(I) Lời nói đầu

Mọi người nói chung vì các nhân duyên như coi trọng ma chay, nhớ ơn Tổ tiên, báo đáp thân ân, hoặc siêu độ cho quyến thuộc, kỷ niệm cố hữu, hoặc chúc phúc trường thọ, tiêu tai tránh nạn .v.v. mà làm Phật sự trang nghiêm và long trọng. Chúng ta tiêu tốn rất nhiều vật chất, tài lực và nhân lực để thành tựu thiện cử đó, nhưng ý nghĩa thực sự của làm Phật sự là gì, chúng ta đã hoàn toàn hiểu rõ hay chưa? Xin hãy đọc kỹ bài viết này, vậy thì bài học về làm Phật sự càng có ý nghĩa hơn, càng có công đức hơn. Bởi vì trong đây sẽ giới thiệu định nghĩa Phật sự, lợi ích của Phật sự, vấn đề của cái chết, tính chất của vong linh, và ý nghĩa của tụng kinh, lễ sám hối, siêu độ vong linh.

(II) Thế nào là làm Phật sự?

Nói theo nghĩa rộng: phàm các việc như tin Phật, việc cầu Phật, việc thành Phật, đều gọi là Phật sự. Phật nói người người đều có thể thành Phật, chỉ cần quý vị tin vào phương pháp thành Phật mà Phật đã nói, thực hành theo Pháp, tất sẽ thành Phật. Cho nên phạm vi thành Phật có rộng có hẹp, “Phật Pháp vô biên” nghĩa là có rất nhiều phương pháp để thành Phật, nhiều đến mức không thể nói hết, ví dụ: Lễ Phật, niệm Phật, dừng các việc ác và làm các việc thiện, nói những lời mà Phật nói, làm những việc mà Phật làm. Cần phải “trì tất cả các tịnh giới, không có tịnh giới nào là không trì. Tu tất cả các thiện Pháp, không có thiện Pháp nào là không tu. Độ tất cả chúng sinh, không có chúng sinh nào là không độ”. Nói một cách khác đó là “không làm các việc ác, làm tất cả các việc thiện”. Cũng có nghĩa là tích cực tự cứu mình, rồi cần tích cực cứu người.

Bởi vì Phật giáo chủ trương thành Phật thì cần bắt đầu từ việc xây dựng một nhân cách hoàn mỹ, cho nên đầu tiên cần khuyên người không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói rối, không uống rượu, những điều này rất giống với Ngũ thường của nhà Nho: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Tiến thêm một bước cần giúp người trở thành Thánh nhân vượt ra khỏi phàm phu, Thánh nhân mà Phật giáo nói đến là người đã giải thoát các loại khổ não nhân gian, ví dụ: sinh và tử, lão và bệnh .v.v. Cảnh giới sau khi giải thoát những khổ não ấy, chính là mục đích của Phật giáo.

Làm thế nào để đạt đến mục đích giải thoát khổ não sinh tử, thì cần tin vào các phương pháp mà Phật đã nói và thực tiễn làm theo. Xem kinh sách, tụng kinh, nghe kinh, nghĩa là xem, tụng, nghe về giải thoát sinh tử đều là phương pháp thành Phật. Cho nên Phật sự thực sự là yêu cầu tự mình làm.

Nhưng đối với những người không hiểu Phật pháp, không biết tu hành, khi cha mẹ hoặc người thân qua đời, lúc đó không có biện pháp nào khác, chỉ còn cách mời người xuất gia về giúp làm Phật sự, thực sự cũng có lợi ích. “Phật sự” được nói trong bài viết này, đại bộ phận là trọng về giải thích theo phương diện mang nghĩa hẹp.

(III) Mời người xuất gia làm Phật sự có tác dụng gì?

Người xuất gia là người tu trì Phật pháp, cũng là người hoằng dương Phật pháp. Là người chuyên nghiệp tu hành, cũng là người hành nghề hoằng Pháp. Bởi vì họ làm Phật sự có lợi ích cho người, cũng có công đức cho bản thân, chúng ta cúng dường họ những thứ cần thiết trong cuộc sống, giúp họ yên tâm làm Phật sự, quý vị cũng gián tiếp có được công đức. Cho nên Phật nói Tăng Ni xuất gia là ruộng phúc công đức của mọi người.

Tuy người tu hành Phật pháp thực sự coi trọng Pháp môn cứu vớt người lúc lâm chung. Nhưng trách nhiệm của người xuất gia không phải chuyên về siêu độ vong linh, thậm chí có thể nói, đối tượng chủ yếu mà người xuất gia cần siêu độ là người sống chứ không phải người chết.

(IV) Lúc lâm chung thì phải làm sao?

Khi con người sinh ra thì vận mệnh nhất định phải có chết đi, cho nên cảnh sinh ra chưa chắc đáng mừng, cảnh chết đi cũng chưa chắc đáng buồn. Nói theo Phật pháp thì nếu chưa xuất ly sinh tử, thì đều là người đáng thương!

Bởi vậy, người tin Phật học Phật, Phật sự làm thường này, khi lâm chúng sẽ đắc lực nhất. Ngày thường nếu chăm chỉ tu hành, sau khi lâm chung xẽ xuất ly khỏi sinh tử của phàm giới mà vãng sinh về Tịnh độ Phật quốc.

Con người sau khi chết thì hướng đi sẽ có 3 loại năng lực quyết định họ thăng lên hay đọa xuống: (1) Tùy trọng: là tùy theo nghiệp nặng nhất trong các nghiệp thiện ác do mình tạo ra, mà đi thọ báo. (2) Tùy tập: là tùy theo một loại thói quen mà thường ngày khó trừ nhất, mà đầu thai vào môi trường tương dẫn cùng loại. (3) Tùy niệm: là tùy theo ý niệm khi lâm chung, mà thọ sinh vào lục đạo, hoặc sinh về Tịnh độ Phật quốc.

Do các nguyên nhân như thế, Phật giáo chủ trương mọi người không làm các việc ác, làm tất các việc thiện, cần phải trừ bỏ những thói quen không tốt, cần phải coi trọng tâm niệm thường ngày, thậm chí niệm niệm không quên Phật Pháp Tăng Tam Bảo, niệm niệm cần đem toàn bộ công đức mà mình đã làm là vốn và hành trang để vãng sinh về Tịnh độ Phật quốc.

Công phu học Phật chủ yếu là dựa vào việc tu hành thường ngày. Quy y Tam Bảo, thọ trì Ngũ giới, cúng dường bố thí, sám hối tụng kinh, cứu tế người ngèo kẻ bệnh, tạo phúc cho xã hội. Giả dụ thường ngày không tu hành Phật pháp, khi lâm chung vẫn có một cách cứu vớt, đó là căn cứ theo đạo lý “tùy niệm vãng sinh”, khuyên người ấy nhất tâm niệm Phật, khuyên người ấy vạn niệm buông bỏ, không được sợ chết, không được tham luyến người thân bạn bè và tài sản sự nghiệp, không được tâm hoảng ý loạn, mà cần phải nhất tâm niệm Phật, niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”, nếu không còn sức để niệm thành tiếng, thì niệm nhẩm trong lòng, người thân nếu thực sự yêu thương người ấy, thì không được khóc lóc lớn tiếng khi người ấy qua đời, bởi vì như vậy chỉ làm cho người ấy tăng thêm đau khổ và có thể bị đọa xuống mà thôi. Hơn nữa cần khuyên mọi người cùng niệm Phật, khiến cho tâm niệm của người lâm chung dung hòa vào trong tiếng niệm Phật một cách thành kính tha thiết. Nếu được như vậy, sau khi chết có thể vãng sinh về Tịnh Độ Phật quốc, nếu tuổi thọ chưa hết, cũng có thể lấy công đức niệm Phật ấy giúp người mau khỏi bệnh, phúc thọ tăng trưởng.

Khi người sắp qua đời, hoặc ngồi hoặc nằm, nằm nghiêng nằm thẳng, sao cho họ cảm thấy thoải mái là được. Nếu đã hôn mê nhưng chưa tắt thở, không được vì cơ thể nhơ bẩn mà giúp họ tắm rửa hoặc lau chùi, để tránh tăng thêm đau khổ phiền não cho họ, mà ảnh hưởng đến đường đi sau khi chết. Sau khi qua đời, hơi thở tuy dứt, chỉ còn lại một chút hơi ấm, nhưng thần thức của người lâm chung vẫn chưa thoát khỏi thân thể, nói chung phải trải qua sau 8 đến 12 tiếng đồng hồ mới có thể tắm rửa thay quần áo. Nếu hỏa táng thì tốt nhất là đợi sau 24 tiếng đồng hồ.

(V) Vong linh là gì?

Con người sau khi chết, nếu không siêu phàm nhập Thánh, nói chung sẽ trở thành vong linh. Nói đến siêu độ vong linh, trước hết cần giải thích tính chất của vong linh. Chủ thể sinh mệnh của con người sau khi chết được gọi là vong linh. Quan niệm nói chung của nhân gian cho rằng con người sau khi chết chính là ma, và vĩnh viễn làm ma. Phật giáo không có quan niệm như vậy, nếu không thì không thể nói đến 2 chữ “siêu độ”. Phật giáo chia chúng sinh phàm giới làm 6 loài là: trời, người, A-tu-la, địa ngục, ngã quỷ, súc sinh (động vật như bò, ngựa, kiến .v.v.). Chết đi sống lại trong 6 loài này, rồi lại chết đi sống lại, được gọi là lục đạo luân hồi, cho nên khi con người chết đi, chỉ có 1/6 khả năng làm ma quỷ. Phật giáo giúp con người vượt ra và độ thoát khỏi lục đạo luân hồi sinh tử, đây được gọi là “siêu độ”.

Nhưng sau khi phàm phu chết đi, ngoài những người phạm tội ác cực lớn, lập tức xuống địa ngục, hoặc người làm công đức cực nhiều, lập tức sinh lên cõi trời, còn mọi người nói chung không thể lập tức chuyển sinh. Vong linh chưa được chuyển sinh, không phải là quỷ, Phật giáo gọi đó là “thân trung hữu” hay “thân trung ấm”. Tức là một loại thân thể trong quá trình sau khi chết đang chờ đến khi chuyển sinh, thân trung ấm này nói chung luôn bị mọi người gọi lầm là hồn ma, thực ra đó là một loại thể khí tồn tại dưới dạng cực mỏng, chứ không phải hồn ma.

Thời gian của thân trung ấm thông thường là 49 ngày, trong giai đoạn đợi cơ duyên chuyển sinh chín muồi. Cho nên sau khi con người chết đi trong 7 lần 7 ngày, người thân làm Phật sự cho họ thì có hiệu quả rất lớn. Nếu dùng tài vật mà người chết yêu thích nhất khi còn sống cúng dàng Tam Bảo, cứu tế người nghèo người bệnh, và nói rằng làm công đức này là để siêu độ cho vong linh ( mỗ…tên vong linh), người chết vì thế mà có thể đầu thai vào nơi tốt hơn. Cho nên Phật giáo chủ trương siêu độ vong linh, tốt nhất là trong 49 ngày. Nếu sau 7 tuần mới làm Phật sự, đương nhiên vẫn có tác dụng, nhưng chỉ có thể tăng thêm phúc phận của người ấy mà không thể thay đổi nơi mà người ấy đã sinh vào. Giả dụ một người khi còn sống làm nhiều việc ác, đời sau nhất định phải làm trâu hoặc làm heo, khi người ấy chết đi trong vòng 7 tuần, trong giai đoạn thân trung ấm nếu người thân làm Phật sự và giúp người ấy nghe thấy người xuất gia tụng Kinh, vì thế mà biết được đạo lý Phật pháp, liền biết hối lỗi, lập ý hướng thiện, người ấy có thể tránh khỏi đầu thai làm trâu làm heo mà sinh lại làm người. Nếu sau khi người ấy đã sinh vào đàn trâu chuồng heo rồi, lúc đó làm Phật sự cho người ấy thì chỉ có thể cải thiện môi trường sinh hoạt của con trâu hay con heo đó mà thôi, giúp nó đủ thức ăn, không làm việc nặng sức, thậm chí tránh được nỗi đau của nhát dao, được người phóng sinh. nếu đã sinh làm người, thì có thể giúp người ấy khỏe mạnh, người thân yêu mến, sự nghiệp thuận lợi. Nếu đã sinh về thế giới Tây phương Cực Lạc, cũng có thể giúp người ấy nâng cao cấp phẩm liên vị, sớm ngày thành Phật.

(VI) Ai nên làm Phật sự?

Nói chung mọi người cho rằng làm Phật sự là việc của Tăng Ni xuất gia, thực ra chỉ đúng một nửa, bởi vì người xuất gia đương nhiên cần làm Phật sự, nếu chúng ta muốn có được lợi ích của Phật pháp thì bắt buộc cũng cần tự mình làm Phật sự. Nếu đợi sau khi chết người thân làm Phật sự giúp chúng ta, thì sao chúng ta lại không tóm lấy cơ hội lúc còn sống tự mình làm chút Phật sự?

Đối tượng siêu độ của Phật pháp chủ yếu là người sống, nếu thường ngày không tu hành, lúc sắp chết mới đến ôm chân Phật cầu cứu, hiệu quả tuy cũng khách quan, nhưng đã không thiết thực bằng sự chuẩn bị lúc thường ngày. nếu tự mình không làm Phật sự, sau khi chết người thân mời Tăng Ni đến làm giúp, hiệu quả tự nhiên kém đi 2 lần. Cho nên trong “Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bản Nguyện Công Đức” (dưới đây gọi tắt là “Địa Tạng Kinh”) nói: Nếu người sống siêu độ cho người chết, người chết chỉ có thể nhận được 1/7 công đức, 6 phần còn lại thuộc về công đức của người sống làm Phật sự.

Bởi thế tôi muốn khuyên mọi người, đã tới chùa mời người xuất gia làm Phật sự, nhất định là phải có lòng thành kính đối với Phật giáo, nếu chưa quy y Phật giáo, hoan nghênh quý vị sớm quy y, sau khi quy y, dần dần tìm hiểu Phật pháp, tu hành theo Pháp, như thế không phải càng tốt hay sao?

Đến mời Tăng Ni làm Phật sự là giúp siêu độ người thân của mình, hoặc là để an ủi người đã khuất với lòng thương nhớ, cho nên người chủ động làm Phật sự chính là bản thân chúng ta. Phật pháp coi trọng sự thành tâm, có thành tâm tức có hiệu ứng, người xuất gia tụng Kinh lễ sám hối đương nhiên cần trí thành khẩn thiết, tâm chúng ta mời họ tụng Kinh lễ sám hối cũng cần phải vô cùng thành kính, cần tin sâu vào Phật sự mà họ làm, ắt có thể giúp cho người chết đạt được lợi ích lớn.

Phật pháp nói cầu cảm ứng, động lực của cảm ứng chính là sự nông sâu của sự thành tâm, thành ý, có thể quyết định sự lớn nhỏ của cảm ứng, như người đánh chuông, dùng sức đánh thì tiếng sẽ lớn, nếu chỉ đánh nhẹ thì tiếng chuông sẽ nhỏ.

Bởi thế cùng là một Phật sự, nhưng hiệu quả đạt được thì có lớn nhỏ khác nhau tùy theo sự khác biệt của thành tâm. Nguyên nhân mà Phật giáo chủ trương mọi người tự làm Phật sự là ở đó, nghĩa là “tự mình ăn cơm tự mình no, tự mình sinh tử - tự mình kết”. Do người khác làm hộ Phật sự, lợi ích sẽ kém đi rất nhiều, cho nên lỡ bản thân chưa kịp tin Phật, học Phật mà chết đi thì người có quan hệ huyết thống giúp làm là tốt nhất. cái gọi là “mẫu tử liền tâm”, khi còn sống dễ cảm ứng lẫn nhau, sau khi chết giữa tình thân cũng có thể dẫn đến lòng thành kính tha thiết nhất. Cho nên Địa Tạng Bồ Tát trong nhiều kiếp rất xa từng là người con có hiếu, mỗi lần đều thành tâm làm Phật sự cho mẹ đã mất, lễ Phật, cúng Phật, niệm Phật, cầu Phật, cảm nhận được sự dẫn dắt của Phật hoặc A La Hán, mà giúp cho mẹ mình được siêu độ.

Nếu không có cốt nhục thân thích, hoặc không phải cốt nhục thân thích, thì người có quan hệ với người chết khi còn sống càng dễ phát lòng thành kính, càng dễ sản sinh hiệu quả cảm ứng hơn so với người người không có quan hệ.

Bởi thế tôi muốn khuyên mọi người, đã tới chùa mời Tăng Ni làm Phật sự, thì trung tâm của làm Phật sự chính là bản thân và người thân của mình, chứ không phải là Tăng Ni. Tăng Ni làm Phật sự là công việc thường ngày của họ, chúng ta làm Phật sự là vì siêu độ vong linh của người thân bạn bè. Theo lý thì chúng ta và người thân bạn bè đều cần tham gia tụng Kinh lễ sám hối, nếu không hiểu thì chí ít cần trong ngày này phải ăn chay, không ăn thịt và tránh dâm dục, chuyên tâm niệm “Nam Mô A Di Đà Phật”.

(VII) Tụng Kinh để làm gì?

Kinh Phật là phương pháp tin Phật, học Phật và thành Phật mà Phật đã nói. Phương pháp vô biên, cho nên số lượng và hạng mục của Kinh Phật cũng rất nhiều. Ở đây chúng ta thích hợp nhất và thường dùng nhất thì có “Hoa Nghiêm Kinh”, “Pháp Hoa Kinh”, “Địa Tạng Kinh”, “Dược Sư Kinh”, “Kim Cang Kinh”, “A Di Đà Kinh”, “Tâm Kinh” .v.v.

Khởi nguồn của tụng Kinh là từ thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni ở Ấn Độ. Kinh Phật khi đó không có sách in ấn, cũng không cần bản viết tay, mà đều dựa vào việc truyền miệng, khẩu khẩu tương truyền, cho nên cần phải nghe đệ tử Phật thay Phật thuyết Pháp, luôn luôn nghe những lời nói mà họ đã từng nghe mà ghi nhớ rồi thuộc lòng, tự mình muốn nhớ một bộ Kinh nào thì cũng phải nỗ lực học thuộc lòng, về sau tụng Kinh đã trở thành việc cơ bản để học tập Phật pháp và tuyên truyền Phật pháp.

Nhưng tại sao tín đồ Phật giáo sau khi tụng một bộ Kinh nào đó thật nhuần nhuyễn, rồi còn tụng đi tụng lại nhiều lần trước tượng Phật? Ở đây có hai lý do:

1. Coi Kinh Phật là tấm gương mẫu mực của tâm chúng ta

Phàm phu khó có thể đảm bảo bản thân không làm sai, có lúc đã sai nhưng chưa nhận ra cái sai để sửa sai, nhưng khi đối diện với tượng Phật, miệng tụng kinh Phật, thì giống như nghe thấy chính Phật đang thuyết Pháp khuyên răn chúng ta, khiến cho chúng ta một lần nữa được khích lệ tu hành. Những sai lầm đã phạm phải mau chóng được sửa chữa. Những sai lầm chưa làm, thì quyết tâm không phạm. Những việc thiện đã tu thì càng nỗ lực tu thêm. Những việc thiện chưa tu, thì lập chí để tu. Giống như một người phụ nữ thích làm đẹp, trong phòng có gương soi, khi ra khỏi nhà cũng cần mang theo gương soi, buổi sáng đã soi gương, thỉnh thoảng có tác động lại cần soi gương, hôm này soi gương, ngày mai, ngày kia, ngày kìa, thậm chí năm sau, năm sau nữa vẫn cần soi gương, đó là vì muốn duy trì hoặc làm tăng thêm sự sạch sẽ và sắc đẹp trên khuôn mặt cô ta mà thôi.

2. Coi tụng Kinh là sứ mệnh thiêng liêng thay Phật thuyết Pháp

Đối tượng chủ yếu của Phật pháp là người, ngoài người ra, trong lục đạo chúng sinh còn có Trời, Thần, Quỷ và số ít Bàng sinh hay Súc sinh (động vật) cũng có thể tin thọ Phật pháp. Cho nên tuy ở nơi không có người hoặc ở nơi không có người nghe hiểu nghĩa Kinh đang tụng, chỉ cần có người tụng Kinh thì có các loài khác như Trời, Thần, Quỷ, Súc sinh đến nghe chúng ta tụng kinh. Ba cõi chúng sinh là Trời, Thần, Quỷ và một bộ phận bàng sinh đều có thần thông dù ít dù nhiều, khi chúng ta tụng kinh, chỉ cần chuyên tâm thành kính, thì có thể cảm ứng họ đến nghe kinh. Nếu giúp người thân đã mất tụng kinh làm Phật sự, vong linh của người thân sẽ nhận được thông tin bởi thành ý của chúng ta, ắt sẽ đến nghe kinh đúng lúc. Linh tính của vong linh đặc biệt cao, cho dù khi còn sống chưa từng nghe qua một câu Phật pháp, sau khi chết nghe kinh cũng có thể tin thọ thông giải thiện căn của bản thân.

(VIII) Bái sám để là gì?

Bái sám còn gọi là lễ sám, tức là lễ bái chư Phật Bồ Tát, sám hối những tội nghiệp của mình.

Lời nói hành động của phàm phu nếu quan sát kỹ lưỡng sâu xa, có thể nói luôn luôn phạm tội và tạo nghiệp. Sinh tử luân hồi của phàm phu do sự dẫn dắt của “nghiệp lực” mà mình tự tạo ra, nếu trong đời trước chưa từng tạo nghiệp tội, thì bây giờ đã không làm phàm phu, còn nếu đời này đoạn trừ tất cả nghiệp tội, thì ngay tại lúc này sẽ là cảnh giới của Thánh nhân.

Phàm phu rất khổ não, đối với nghiệp tội trong đời trước đem đến đời này thực sự là bất lực. Đối với nghiệp tội đã tạo trong đời này cũng bất lực. Từ nay về sau cần phải nghĩ là sẽ không dám tạo tội nữa thì cũng không có khả năng. Bởi thế Phật Đà vĩ đại của chúng ta với tâm đại từ bi nói cho chúng sinh phàm phu nghe một Pháp môn sám hối nghiệp tội.

Tụng Kinh đã nói phần trên là đứng trước gương Phật pháp để soi, bây giờ nói về sám hối, là dạy chúng ta bỏ tâm của mình vào trong nước Phật pháp để rửa xả. Công dụng của bái sám là ở chỗ tẩy rửa tâm nhiễm tội nhơ của chúng ta.

Cho nên sám hối trước Phật, không phải là cầu Phật tha tội, mà là cầu Phật chứng minh, nói thật những nghiệp tội của mình với Phật, hạ quyết tâm sẽ không cố ý làm ác. Biết nhận lỗi với người gọi là “sám”, biết nhận lỗi của mình gọi là “hối”. Phật Bồ Tát thực sự thanh tịnh viên mãn vĩ đại từ bi, Phật Bồ Tát hy vọng chúng ta cũng sẽ trở thành Thánh nhân thanh tịnh viên mãn vĩ đại từ bi, còn chúng ta thì lại vẫn cứ lăn lộn trong nghiệp tội tự làm tự chịu, cho nên cần phải sám hối. Tác dụng của việc bái sám là tẩy rửa tâm mang nghiệp tội của bản thân, giống như lọc vàng trong cát, dần dần lọc cát đi thì sẽ có được vàng. Chúng ta bái sám trước Phật, dần dần sẽ sám trừ được tội nhơ, và sẽ đạt được tâm thanh tịnh giải thoát.

Các loại nghi lễ sám hối ở Trung Quốc, là do nhiều Tổ sư căn cứ vào Kinh Phật, thịnh hành nhất thì có Lương Hoàng Bảo Sám, Tam Muội Thủy Sám, Đại Bi Sám, Dược Sư Sám, Tịnh Độ Sám, Địa Tạng Sám, Thiên Phật Sám .v.v. Người tu những sám Pháp này trong lịch sử tới nay đều có rất nhiều ghi chép về sự linh nghiệm, thực sự có thể gọi là “không uổng công phu”.

Bái sám tốt nhất đương nhiên là tự mình làm, nếu bản thân chưa hiểu, hoặc cảm thấy bái chưa đủ, có thể mời Tăng Ni đến làm, hoặc thay mình làm giúp cho người thân đã mất, tự nhiên cũng sẽ có công đức, đạo lý trong đó thì giống với tụng Kinh vậy.

(IX) Phóng diệm khẩu (cúng thí thực) để làm gì?

Diệm khẩu là chỉ quỷ đói trong đường quỷ. Chúng sinh ở đường quỷ được chia làm 3 loại: (1) Khi còn sống làm nhiều việc thiện, nếu đầu thai làm quỷ thì sẽ trở thành quỷ đa tài (tài lộc) phúc đức đại lực, nói chung Thành Hoàng và Thổ Địa mà con người tin, tức thuộc loại quỷ Thần này. (2) Khi còn sống làm ít việc thiện, nếu đầu thai làm quỷ sẽ trở thành quỷ tiểu tài phúc mỏng lực ít, quỷ nói chung thường là loại này. (3) Khi còn sống tham lam ích kỷ, keo kiệt bủn xỉn, chuyên ăn hiếp người khác, nếu đầu thai làm quỷ sẽ trở thành quỷ đói vô phúc vô lực, dân gian nói chung gọi đó là cô hồn dã quỷ, tức là quỷ đói. Quỷ loại này có lượng ăn cực lớn, cổ họng lại cực nhỏ, có thức ăn cũng khó có thể no bụng, huống chi bởi nghiệp báo mà họ khó có thể tìm được thức ăn, cho dù tìm được món ăn ngon, khi vào miệng thì lại biến thành máu mủ hôi tanh, cho nên họ thường chịu thiêu trong lửa đói, lửa lớn từ miệng phun ra, vì thế gọi là “diệm khẩu”.

Phật Đà từ bi nói ra rất nhiều loại Thần chú, như “Diệt Nghiệp Chướng Chân Ngôn”, “Biến Thực Chân Ngôn”, “Khai Yết Hầu Chân Ngôn” .v.v. Khi tụng trì các Thần chú chân ngôn này theo Pháp, quỷ đói được mời đến liền có thể dựa vào nguyện lực và thần thông của Phật mà có thể ăn no một bữa, sau khi ăn no, xong tiếp tục tuyên dương Phật pháp với họ, khuyên họ quy y Tam Bảo Phật Pháp Tăng, truyền thọ Tam Muội Da mật giới cho họ, vĩnh viễn thoát khỏi đau khổ của đạo quỷ, đó gọi là tác dụng và mục đích của phóng diệm khẩu.

Bởi thế đối với đường quỷ mà nói, phóng diệm khẩu là sự cứu tế không có hạn chế, cho nên lại được gọi là “thí thực”. Nếu người thân bạn bè đã mất của chúng ta không đọa vào trong đường quỷ đói, thì việc phóng diệm khẩu cũng giống với công đức thay họ làm việc cứu khổ, cho nên cũng rất có ích.

(X) Phật sự giữa người và ma quỷ

Mọi người hay hiểu lầm rằng làm Phật sự là nghi thức chuyên làm cho người chết. Bởi thế tôi muốn nhấn mạnh với quý vị rằng: Đối tượng chủ yếu của Phật pháp là người sống chứ không phải người chết, siêu độ cho vong linh là một loại biện pháp cứu vớt, không phải là công việc trọng tâm của Phật giáo.

Cho nên làm Phật sự nên làm khi còn sống, người thân bạn bè vãng sinh đương nhiên cần làm Phật sự, kết hôn, sinh nở, tránh tai ương, trừ bệnh tật, chúc trường thọ, cầu công việc, khai trương, giao dịch, xây dựng, an cư, mua bán .v.v. cũng đều cần làm Phật sự. Tu công tích đức, hành thiện chí phúc, làm Phật sự đâu phải chỉ vì độ vong mà thôi? Phật pháp có thể tạo phúc trong đời này, có thể tạo phúc ở đời sau, có thể tạo phúc quả thế gian phú quý nhân thiên, nhất là có thể đạt tới cứu kính Phật quả phúc trí viên mãn.

Tập tục dân gian cho rằng tụng Kinh bái sám có thể làm thành tiền bạc cho ma quỷ dùng, lại còn đốt bạc giấy và tiền âm phủ để tăng tài phú cho ma quỷ. Thực ra trong nhà Phật không có quan niệm này. Tụng kinh bái sám là siêu độ tăng phúc cho người chết, người chết sau khi chết chưa chắc đã đọa vào đường ngã quỷ, chúng sinh ở đường ngã quỷ cũng không dùng tới tiền bạc mà nhân gian cho họ, tiền chỉ là vật trung gian giao dịch của nhân gian. Đốt hóa tiền giấy cũng chỉ là tập tục dân gian được truyền từ đời Hán Đường Trung Quốc.

Sau khi con người chết đi, nếu không giải thoát khỏi sinh tử, thì cũng chỉ có 1/6 khả năng sinh vào đường ngã quỷ, cho nên xin đừng cho rằng người thân bạn bè của chúng ta mất đi liền thành quỷ, quý vị cần phải thành tâm cầu Phật pháp gia hộ cho người thân bạn bè đã mất được siêu sinh đến thế giới Tây phương Cực Lạc, chí ít cũng nên hy vọng họ sinh vào nhân gian hoặc sinh lên cõi trời mới đúng.

Ở Đại Lục Trung Quốc còn có một tập tục đó là khi đàn ông chết đi cần mời Hòa thượng làm Phật sự như lễ “cầu quá độ” hoặc “phá địa ngục”, đàn bà chết đi thì làm lễ “phá huyết hồ”. Đó là những việc mà không có căn cứ trong Phật pháp, Phật giáo đã cho rằng con người chết đi chưa chắc đã đọa vào địa ngục, thì huống chi là nhất định dẫn dắt vong linh mới chết đi một chuyến vào “nại hà” và “huyết hồ” trong địa ngục làm gì?

Cho nên tôi muốn khuyên người đọc bài viết này, cần phải tự mình làm Phật sự và hiểu rõ vì sao cần làm Phật sự? Và nên làm những Phật sự nào?

(Phụ ký: Bài viết này được viết bởi yêu cầu của các đạo tràng lớn như chùa Thiện Đạo, chùa Thập Phổ, hội hoa sen Hoa Nghiêm, chùa Tùng Sơn Đài Bắc. Tháng 03 năm 1967 lần đầu in 64 bản, in tặng các chùa làm Phật sự, hướng dẫn chính tín. Sau đó ở Hồng Kông, Singapore, Malaysia có người in tặng với số lượng lớn, ở Đài Loan cũng có nhiều cư sĩ thiện tâm liên tục in tặng, bài viết này được ghi chép trong “Phật Học Tri Tân”)