Phương pháp niệm Phật

I. Phương pháp niệm Phật

(I) Niệm Phật cộng tu

Các vị Liên hữu: Khi một ngày nào đó quý vị muốn đến chùa niệm Phật, thì từ buổi sáng cần phải chuẩn bị tốt thân tâm. Ngày hôm đó tốt nhất là không ăn mặn, chí ít cũng chỉ ăn rau khi nấu chung với thịt, và không hút thuốc, không uống rượu. Nếu lỡ không thể làm được, hoặc đến buổi tối mới nghĩ ra muốn đến cộng tu niệm Phật, mà ngày hôm đó lại không an chay, cũng không sao hết, đừng vì thế mà không đến, đến vẫn tốt hơn là không đến.

Khi đến tham gia cộng tu niệm Phật, khi bước vào chùa thì phải đi nhẹ nói khẽ, nếu không có việc quan trọng, thì tốt nhất là không nói chuyện. Nếu đã chuẩn bị áo tràng, thì nên mặc trước tại lối vào hoặc tại nhà khách, sau đó bước vào Đại điện (Tam Bảo) lễ Phật, vừa lễ vừa niệm nhẩm “Nam Mô A Di Đà Phật”, nghe thấy tiếng trống tập trung thì phải ngừng lễ Phật, xếp hàng ngay ngắn. Còn người chưa mặc áo tràng thì đứng ở đằng sau.

Khi bắt đầu niệm Phật, xướng “Kệ Tán Phật” trước. Nếu không biết xướng thì nhỏ tiếng đọc theo người khác, sau khi xướng mấy lần, sẽ tự nhiên biết xướng. Sau đọc “Kệ Tán Phật” song tiếp theo niệm Phật, khi niệm Phật trước tiên đọc sáu chữ hồng danh “Nam Mô A Di Đà Phật”, lúc này cần chú ý nhịp bước có khớp với nhịp của danh hiệu Phật hay không, nhịp phải di chuyển theo nhịp của tiếng mõ, không được lệch. Cần làm được như Thiền sư Thiên Như Duy Tắc đã nói “tâm và khẩu tiếng tiếng tương ứng, niệm và Phật từng bước không rời”.

Khi niệm Phật cần nghe theo tiếng đọc của đại chúng, chứ không phải là tiếng của bản thân mình. Tâm của mình phải chú ý vào trong tiếng niệm Phật có quy luật của đại chúng, không được khởi bất kỳ tạp niệm và vọng tưởng nào. Giả sử vẫn còn một chút tạp niệm, cũng không được để ý đến nó, nếu có thể đọc to tiếng, thì tinh tấn dũng mãnh mà niệm thì những suy nghĩ tạp niệm ấy sẽ dần dần ít đi. Trong “Phương pháp niệm Phật” của “Lạc Bang Văn Loại” quyển bốn tại Lục Từ Vân Đạo Thức có nói: “Nếu sợ tâm tán loạn, cần cao tiếng đọc lớn, tâm sẽ dễ an định, tam muội dễ thành”. Còn nói: “Lớn tiếng niệm Phật tuy ít nhưng công đức nhiều, nhỏ tiếng niệm Phật tuy nghiều mà công đức ít…Vì vậy hôm nay đặc biệt đề ra phương pháp này để khuyên răn người khi niệm Phật, nhất tâm bất loạn, cao tiếng niệm Phật, thanh thanh tiếp nối nhau, không lâu sẽ thành công”.

Khi đi nhiễu Phật, không được nhìn trước ngó sau, ánh mắt nhìn xuống tự nhiên, như đang nhìn mà cũng không phải đang nhìn một người phía trước mặt, tiến bước vững vàng về phía trước theo nhịp. Không cần để ý mình đã đi đến đâu, và cũng không cần chú ý người khác đi như thế nào, lúc này thân khẩu ý đều cần phải chuyên trụ hợp nhất. Đợi đến khi chuyển niệm bốn tiếng danh hiệu Phật “A Di Đà Phật”, thì bước đi vẫn phối hợp với âm thanh của tiếng mõ, gõ hai tiếng mõ thì di chuyển một bước đi. Lúc này trong tâm vẫn duy trì bình tĩnh, đồng thời cần phải vừa nghe tiếng niệm Phật của đại chúng, vừa đi theo danh hiệu niệm Phật, không được chỉ nghe người khác niệm mà bản thân mình không niệm.

“Phương pháp niệm Phật” của Đại sư Ấn Quang có nói: “đương nhiếp tâm thiết niệm…đương nhiếp nhĩ đế thính, bất luận niệm ra tiếng hay niệm nhẩm, đều phải từ tâm niệm ra, tiếng thoát ra từ miệng, âm thanh lọt vào trong tai. Tâm khẩu niệm rõ ràng, tai nghe thấy rõ ràng, nếu là nhiếp tâm, vọng niệm tự tắt”.

Sau đi nhiễu Phật là “ngồi niệm”, trước khi ngồi xuống thì hướng về phía trước lễ. Sau đó ngồi xuống theo tư thế tọa thiền, cố gắng lấy nguyên tắc không làm cho các bộ phận như chân, đùi… cảm thấy khó chịu. Lưng ngồi thẳng chứ không phải ưỡn ngực, bụng thả lỏng, không được ngước đầu hoặc cúi đầu, nếu sau khi thả lỏng phần bụng, mà không thể niệm Phật, thì không cần chú ý phần bụng mà lấy niệm Phật làm điều kiện căn bản.

Khi đã an định, tư thế ngồi không thay đổi. Nhưng cần phải thả lỏng cơ thể và đầu óc, khí trầm ở đan điền, đầu lưỡi đặt nhẹ lên hàm trên, mắt mở nhỏ và cũng có thể nhắm lại. Tiếp tục không ngừng niệm nhẩm bốn chữ danh hiệu Phật, không ngừng quán tưởng thế giới Cực Lạc y chính trang nghiêm. Như “Kinh Văn Thù Thuyết Bát Nhã” có nói: “Có thể tại một chữ Phật, niệm niệm tiếp nối.” Còn nói: “Thiện nam tử thiện nữ nhân nếu muốn nhập nhất hạnh tam muội thì ở những nơi trống rỗng, xả bỏ mọi ý loạn, không lấy tướng mạo, nhất tâm niệm Phật, chuyên tâm xưng danh hiệu Phật”. Chuyên tâm niệm Phật mà đoạn tất cả các tạp niệm, vì thế “Kinh Bát Chu Tam Muội” nói: “Tâm có suy nghĩ là tâm si mê, không suy nghĩ là niết bàn”.

Tốc độ niệm nhẩm vừa phải, không được quá nhanh cũng không được quá chậm; quá nhanh sẽ bối rối, quá chậm lại dễ sinh vọng tưởng, cứ niệm nhẩm không ngừng. Lúc này cũng có thể dùng phương pháp niệm Phật ghi nhớ theo 10 niệm, như “Phương pháp niệm Phật” của Đại sư Ấn Quâng có nói: “Cái gọi là mười niệm ghi nhớ số, là khi niệm Phật niệm từ một đến mười câu, cần phải niệm rõ ràng, vẫn cần ghi nhớ rõ ràng, đến hết câu thứ mười, lại quay lại niệm từ một đến mười câu, không được niệm 20 hay 30 câu. Theo niệm theo ghi nhớ, không được dùng tràng hạt, mà chỉ dùng tâm ghi nhớ. Nếu mười câu mà cảm thấy khó, hoặc chia làm khí, tức là từ một đến năm và từ sáu đến mười. Nếu như mất sức, thì có thể từ một đến ba, từ bốn đến sáu, từ bảy đến mười, chia làm 3 lần đếm. Niệm rõ ràng, ghi nhớ rõ ràng, nghe thấy rõ ràng, vọng niệm không thể khởi sinh, nhất tâm bất loạn, lâu dần sẽ lọt vào tai một cách tự nhiên”. Có hai phương pháp sử dụng là niệm lớn tiếng và niệm nhẩm, thậm chí đi đứng nằm ngồi đều thích hợp thực hiện, duy có tĩnh tọa niệm nhẩm thì hiệu quả càng tốt. Phương pháp này tham khảo phương pháp đếm hơi thở của ngũ đình tâm (ngũ thiền), cho nên đối với người mới niệm Phật thì có thể nhiếp tâm.

(II) Ngày thường Niệm Phật

Hội niệm Phật của chùa chúng tôi một tuần chỉ có một lần cộng tu, cho nên niệm Phật cộng tu đương nhiên là quan trọng, thường ngày niệm Phật cũng rất quan trọng. Ngày thường niệm Phật có thể chia làm 3 loại: Một là Pháp môn thập niệm sáng tối dành cho cư sĩ tu hành tại gia khi bận công việc hoặc công vụ. Tức là sau mỗi buổi sáng thức dậy, tu niệm Phật mười niệm. Bao gồm nhiều loại phương thức như: phương thức của Đại sĩ Tôn Thức của triều Tống dạy niệm hết một hơi mười câu danh hiệu Phật, còn Đại sư Thiên Như Duy Tắc của triều Nguyên nói: “Mỗi sáng sớm mặt hướng về phía Tây chắp tay, niệm liên tục A Di Đà phật, niệm hết một hơi làm một niệm, nếu là mười hơi tức là mười niệm”. Hoặc nhiều hơi niệm mười câu danh hiệu Phật. Hai là ngày đêm không rời danh hiệu Phật, bất luận tại đâu vào lúc nào hoặc làm bất kỳ việc gì, trong tâm luôn lấy danh hiệu “A Di Đà Phật” làm suy nghĩ chính. Như Đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ, một ngày niệm 100 nghìn câu danh hiệu Phật. Ba là phối hợp giữa hai cái trên, rảnh rỗi thì niệm Phật, bận rộn thì làm việc, để tránh tâm chia làm đôi, như thế vẫn có rất nhiều cơ hội niệm Phật.

Khi chuyên tâm niệm Phật, bất luận môi trường sạch bẩn, bất luận công việc cao cấp hay thấp hèn, khi dọn rác, làm vệ sinh nhà xí và thậm chí là khi đại tiểu tiện cũng đều có thể niệm Phật. Chỉ khi phải dùng đầu óc tư duy, phân tích, nghe nói thì không tiện niệm Phật, bởi vì một khi niệm Phật thì không thể chuyên tâm được. Nhưng nếu có thể đạt đến trình độ như của Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ, thì đều có thể niệm Phật mọi lúc mọi nơi, chỉ có điều là phải trải qua quá trình huấn luyện một thời gian dài, nếu không thì không thể làm được.

Buổi tối khi đi ngủ, tư thế tốt nhất là nằm nghiêng về bên phải, trong tâm quán tưởng tướng quang minh, toàn thân thả lỏng, trong lòng niệm nhẩm danh hiệu Phật, cho đến khi ngủ. Nếu có thể tiếp tục không ngừng nghỉ, lâu dần cho đến khi nằm mơ cũng có thể niệm Phật. Lỡ quên không niệm Phật, thì sau khi tỉnh lại, lập tức điều chỉnh tư thế nằm của cơ thể, sau đó nằm xuống thoải mái, tiếp tục quán tưởng tướng quang minh, và trì niệm danh hiệu Phật. Một khi quán tưởng thành công quang minh, thì không phải ngủ trong môi trường mơ hồ, mà ngủ trong tự tại thanh mát của thế giới quang minh. Và còn rất dễ tiêu trừ mệt mỏi, và giúp cho tinh thần sảng khoái, thân tâm vui vẻ. Nếu như vây khi tỉnh dậy có thể làm chủ, khi ngủ cũng có thể làm chủ. Nếu niệm Phật như thế, thì sao lại không thể sinh Tịnh Độ được?

(III) Người niệm Phật có ba loại

Người niệm Phật có 3 loại: Loại người thứ nhất là muốn thay đổi vận mệnh của bản thân, hoặc muốn cho người nhà khai trí tuệ và được bình an. Đó là tiêu tai cầu phúc, giải oán cắt kết.

Loại người thứ hai, là vì bởi khổ nhiều vui ít, sinh mệnh yếu đuối, cho nên cầu nguyện vãng sinh thế giới Tây Phương Cực Lạc. Đợi đến khi vị trí không lùi, lại nhập ta bà, quảng độ chúng sinh, thành tựu vô thượng Phật quả.

Loại người thứ ba, tin vào tự tính có phật, tâm là Tịnh Độ, như Đại sư Đạo Tín Tổ thứ tư của Thiền Tông có nói: “Nếu biết tâm không sinh không diệt, cứu kính thanh tịnh, tức là thanh tịnh Phật quốc, càng không cần hướng Tây phương”. Các Đại sư thuộc môn đồ của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn, thì dùng nhiều “nhanh chóng niệm danh hiệu Phật, khiến cho tịnh tâm”. Họ niệm Phật đều không nghĩ đến cầu sinh về Tây phương, nhưng mỗi một lần niệm Phật thì đều cảm thấy thân tâm tĩnh tại, phiền não giảm bớt, và tâm lực của bản thân ngày càng tương ứng với nguyện lực từ bi của Phật. Đó chính là sự thể hiện như trong “Kinh Quán Vô Lượng Thọ” nói là: tâm làm Phật, tâm là Phật. Loại người này trong cuộc sống đời thường, không những có thể đạt được lợi ích cho bản than mà những người có liên quan khác cũng có thể bởi người đó mà đạt được phúc lợi. Đó là vì niệm Phật không ngừng, cuối cũng ắt sẽ đạt được niệm Phật tam muội, nhất định sẽ phát nguyện hành từ bi và trí tuệ. Loại người này không cầu sinh về Tịnh Độ, song cũng không thể không sinh về tịnh độ. Khi đạt được niệm Phật tam muội, ngoài tâm không có Phật, ngoài Phật không có tâm, không một cũng không hai, lúc đó mọi lúc mọi nơi đều có thể thấy Phật đang thuyết Pháp, mọi lúc mọi nơi đều là thế giới Cực Lạc.

Theo Phật Pháp mà nói, loại người thứ nhất vẫn thuộc nhân thiên thiện pháp, là trình độ tín ngưỡng của nhân gian. Loại người thứ hai là Phật tử chính tín. Loại người thứ ba thì là căn cơ sắc bén thượng Thừa. Bởi nghiệp chướng của chúng sinh vô cùng nặng nề, khi tu hành tịnh nghiệp, khi mới bắt đầu mà thực hành theo loại thứ ba là không an toàn và cũng không sát thực tế. Tuy nhiên chỉ đứng từ lập trường của loại người thứ nhất để niệm Phật, thì những điều cầu nguyện lại quá ít. Dùng cấp bậc thứ hai để làm Pháp môn tu niệm Phật, là sát thực tế đáng tin cậy nhất, vừa có thể bồi đắp thiện căn để tu pháp thượng Thừa, lại vừa có thẻ đạt được lợi ích tiêu tai hưởng phước trong đời hiện tại.

(Ngày 22 tháng 03 năm 1986, khai thị Hội niệm Phật Phước Tuệ tại chùa Nông Thiền, cư sĩ Trần Minh Hà ghi âm chỉnh lý, bài viết này hiện được ghi chép trong “Phật giáo nhập môn”)

II. Cấp bậc của pháp môn niệm Phật

Pháp môn tu học niệm Phật được chia làm hai loại cấp bậc: Loại thứ nhất là cầu cảm ứng, loại thứ hai là không cầu cảm ứng. Nhưng, nếu không bắt đầu từ loại thứ nhất, mà trực tiếp tu học phương pháp thứ hai, có thể có nhiều người sẽ không dễ làm được. Hôm nay có người hỏi tôi: “ Đại sư Lục Tổ Huệ Năng của Thiền Tông trong “Lục Tổ Đàm Kinh” có nói: “Người ở phương Đông niệm Phật cầu sinh Tây phương, người ở Tây phương niệm Phật để được đi về đâu?” Câu nói này phải chăng là phản đối Tịnh Độ?” Tôi trả lời: “Không phải vậy, bởi vì Pháp môn Tịnh Độ là dành cho người căn cơ phổ thông, người có trình độ thấp tu học, còn người có trình độ cao hơn, căn cơ thâm sâu hơn thì tu học Tịnh Độ chỉ là thái độ khác nhau mà thôi”.

Người mới bắt đầu học Phật, nếu không cầu cảm ứng, bởi chưa đủ lòng tin sẽ rất dễ lùi bước, chưa tu học được bao lâu thì sẽ nói “không có Tịnh Độ, nên không muốn sinh Tịnh Độ”, và cũng không muốn tiếp tục tu hành. Nếu nói cho họ biết Tịnh Độ Phật quốc là có thật, những lời nói trong Kinh Phật đều tuyệt đối đáng tin cậy, đặc biệt là sức bản nguyện của Phật A Di Đà độ hết thảy chúng sinh là điều đáng tin nhất, phàm tin vào Pháp môn Di Đà, trì niệm danh hiệu Di Đà, nguyện sinh Phật Đà quốc thổ, thì sau này ắt sẽ vãng sinh về bờ bên kia. Giả dụ một người không có sức tự chủ về sinh tử, thậm chí đến sức điều chỉnh chính mình đều rất yếu ớt, nếu nắm chắc và đạt đến trình độ của Lục Tổ Thiền Tông, thì người này tuy lòng tin có nhiều, nhưng thật đáng tiếc lại không có lòng tin thực chứng, chỉ là sự kiêu ngạo, kiêu căng, không sát thực tế mà thôi. Cho nên khuyên răn người mới học Phật, đối với Pháp môn tu niệm Phật Tịnh Độ, cầu sinh về Tây phương Tịnh độ theo nguyện lực của A Di Đà là an toàn và đáng tin nhất.

Có những người trẻ tuổi, hiểu nhầm rằng niệm Phật là Pháp môn dành cho người già, còn người trẻ tuổi đang chuẩn bị làm rất nhiều việc trên thế giới này thì chưa rời khỏi thế gian này nhanh chóng, thì cần gì gấp gáp niệm Phật cầu sinh về Tịnh Độ? Nhưng, ai có thể biết chắc mình sống đến bao nhiêu tuổi? Hơn thế nữa, cầu sinh về Tây phương chỉ là một trong những nguyện vọng, ai nói là người niệm Phật nhất định sẽ chết sớm? Sinh về Tây phương Tịnh Độ là mục tiêu cuối cùng, nhưng lại không phải là bây giờ niệm Phật thì có thể đi ngay lập tức, đợi cho đến ngày cần đi mới niệm Phật, thì e rằng đã không còn sức niệm Phật nữa rồi, cho nên những ngày thường sớm cần phải chuẩn bị tốt.

Hơn nữa, thường ngày niệm Phật, tâm hướng về Tây phương Tịnh Độ, cũng sẽ có thể đạt được lợi ích trong đời này. A Di Đà là dịch âm chữ Phạn, nghĩa là vộ lượng thọ và vô lượng quang. Cho nên “Kinh Quán Vô Lượng Thọ” có nói: “Nếu người niệm Phật, nếu biết người này, là phân đà lợi hoa (liên hoa) trong loài người”. Lại nói “quang minh của Phật chiếu sáng khắp mười phương thế giới, chúng sinh niệm Phật, duy trì không rời”. Nếu một lòng xưng niệm danh hiệu Phật và đắc niệm Phật tam muội, thì sẽ giống như trong “Đại Trí Độ Luận” nói: “Niệm Phật tam muội có thể trừ tất cả phiền não và tội thế trước đây”. Niệm Phật không chỉ cầu vãng sinh Tịnh Độ khi lâm chung, mà còn có thể tiêu trừ các loại phiền não đời này và các tội chướng của đời trước, mà đạt được hết thẩy lợi ích.

Người niệm Phật như liên hoa trong loài người, thì sao không vui khi đạt được các lợi ích như khỏe mạnh trường thọ, hạnh phúc hòa lạc, cát tường như ý, được mọi người tôn kính? Đó là bởi do người niệm Phật một lòng hướng về Phật, mà có thân tâm tịnh hóa, sức mạnh của môi trường trang nghiêm. Nguyện thứ 25 trong “Kinh Đại A Di Đà” nói: “Quang minh chiếu sáng khắp mọi nơi trên trời dưới đất cho đến địa phủ, đều được ánh sáng trí tuệ lớn, ……thấy quang minh của ta, đều có tâm từ bi mà làm thiện.” Lại còn nguyện thứ 46: “Nghe thấy danh hiệu của ta, quy y tinh tấn, đều nhanh chóng đạt được tam muội, thậm chí thành Phật, thường thấy vô số chư Phật không thể nghĩ bàn”. Tiếp tục không ngừng niệm Phật, nếu có thể niệm đến trình độ không niệm mà tự niệm, niệm đến khi bản thân mình và Phật A Di Đà cùng hòa quyện, không phân chia người và ta, tuy chưa chết, nhưng trên thực tế đã ở tại Thế giới Cực Lạc rồi.

Thế giới Cực Lạc ở đâu? Trong Kinh có nói: Từ đây về hướng Tây phương, khoảng cách mười vạn tỷ Phật Độ. Nhưng khi chúng ta niệm Phật niệm đến vô cùng thuần thục thì trong tự tâm sẽ hiện ra Cực Lạc quốc thổ của Phật A Di Đà. Như trong “Kinh Quán Vô Lượng Thọ” có nói: “Trong lúc hiện thân liền đắc niệm Phật tam muội”, “thấy được việc này, tức thấy được mười phương chư Phật”. Có thể thấy, thanh tịnh trang nghiêm, giải thoát tự tại của Phật Di Đà Tịnh Độ đều có thể xuất hiện trong tâm khi chưa qua đời, tuy nhiên 48 nguyện của Phật Di Đà, hơn một nửa là thành tựu ở Cực Lạc quốc thổ của Tây phương, và tiếp dẫn chúng sinh vãng sinh về cõi Tịnh Độ. Cho nên Tịnh Độ tuy chỉ quốc thổ của chư Phật, mà trong các Kinh Đại Thừa, đặc biệt tán dương Di Đà Tịnh Độ là nhiều nhất.

Niệm Phật mà không cầu lợi ích trong đời này, cũng không cầu vãng sinh Tây phương Tịnh Độ, đó nhất định là có phương tiện thù thắng mới được, bằng không niệm Phật mà không có mục đích thì sao cần phải niệm Phật? Thiền sư Tứ tổ Đạo Tín của Thiền Tông, Thiền sư Ngũ tổ Hoằng Nhẫn và đệ tử của ngài là Thiền sư Thần Tú, đều nói đến Pháp môn niệm Phật. “Nhập đạo an tâm yếu phương tiện môn” của Đạo Tín có nói: “Tâm niệm Phật là Phật.” Và dẫn ra “Quán Vô Lượng Thọ Kinh”: “Thị tâm thị Phật, thị tâm tác Phật.” Căn cứ “Truyền Pháp Bảo Kỷ” có nói: “Nhẫn, Như, Đại thông tức Pháp môn đại khởi, không cần biết căn cơ cao thấp, chăm chỉ nhanh chóng niệm danh hiệu Phật, khiến cho tĩnh tâm”. Cũng có nghĩa là các đệ tử của Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn là Pháp Như, Đại Thông (Thần Tú) đều dùng Pháp môn niệm Phật phổ biến tiếp dẫn quần cơ.

Cho đến “Kinh Đàm” của Lục Tổ Huệ Năng, chủ trương “vô niệm” của “không nhiễm vạn cảnh mà thường tự tại”, thực tế nghĩa là biểu hiện của “tâm niệm Phật là Phật” mà Tứ Tổ đã nêu. Song, không cần xưng danh niệm Phật mà có thể làm được tâm “không nhiễm vạn cảnh mà thường tự tại” quả thật là không dễ dàng. Cho nên dưới sự hướng dẫn của tổ Hoằng Nhẫn, Trí Tiên (609-702) tại chùa Tịnh Chúng Tứ Xuyên, cùng đệ tử của Ngài là Xứ Tịch (?-732), tam truyền tân la vô tướng, dạy người phương pháp tu hành có 3 bước: một là Dẫn thanh (hết một hơi) niệm Phật, hai là Khai thị. Ba là Tọa thiền (xem “Lịch đại Tam bảo ký”). Ngoài ra còn có cùng là Tuyên Thập Tứ Xuyên môn hạ của Ngài Hoằng Nhẫn, “Viên Giác Kinh Đại Sơ Sao” quyển ba hạ phẩm của Quế Phong tông mật, gọi là “Nam sơn niệm Phật môn Thiền tông”.

Lấy “niệm một chữ Phật” làm phương tiện “tịnh tâm”, Thiền sư Ấn Thuận chỉ ra rằng, đó là từ “niệm một danh hiệu Phật” của “Kinh Văn Thù Thuyết Bát Nhã” mà có (Lịch sử Thiền Tông Trung Quốc trang 156). Đây đều là những nhân vật Thiền môn cùng thời đại của Lục Tổ Huệ Năng và các đệ tử Nhị truyền, Tam truyền. Chỉ có Mã Tổ Đạo Nhất, sư Thạch Đầu Hy Thiên và Thiền sư của các hệ phái, không niệm Phật mà đề xướng Pháp môn “kiến bản tính vi thiền”. Duy có dễ sinh từ phàm thành Thánh, hỗn nhiễm vi tịnh. Có năm cửa phương tiện của niệm Phật trong “Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao” của Tứ Tổ Thanh Lương Trình Quán (738-838) của Hoa Nghiêm Tông; “Hạnh nguyện phẩm sớ sao” của Quế Phong Tông Mật Ngũ Tổ (780-841) của Hoa Nghiêm cũng đưa ra bốn loại Pháp môn niệm Phật; “Vạn thiện đồng quy tập” của sư Vĩnh Minh Diên Thọ (904-975) của Thiền Tông, lấy Pháp môn niệm Phật làm tổng nhiếp của vạn thiện chúng hạnh, khuyên đại chúng thực hành song tu, không hữu cùng thụ, thích hợp với tất cả căn cơ, sau này thiền sư khai sơn Tịnh Nhất tận tâm quảng bá Pháp môn rộng rãi.

Người niệm Phật mà tán tâm, có thể mượn nguyện lực của Phật Di Đà cầu sinh Lạc Bang, người chuyên tâm niệm Phật mà đắc tam muội chính định, tức là có thể từ tâm mình mà hiện ra Cực Lạc Phật quốc. Người tuy có các căn cơ khác nhau, song đều có trình độ từ tán tâm niệm Phật cho đến “vô niệm, vô tướng, vô trụ” mà Đại sư Đạt Huệ đã nói. Nhưng nếu chưa thể đạt đến trình độ “bất nhiễm vạn cảnh nhĩ thường tự tại”, mà phản đối Pháp môn niệm Phật, hoặc từ chối tu Pháp môn niệm Phật, thậm chí nói rằng “không có Phật để niệm, không có Tịnh độ để sinh”, thì thực sự không sát thực tế, mà còn cũng không biết cái từ bi rộng lớn của Pháp môn niệm Phật Tịnh độ.

Bởi thế, tôi muốn khuyên răn các vị, quá trình học Phật của Pháp môn tu niệm Phật, tốt nhất vẫn là từng bước hướng về phía trước. Người mới học nhất định cần phải tin rằng có Thế giới Cực Lạc, nhất định cần phải phát nguyện vãng sinh về Tây phương Cực Lạc, có như vậy mới không hai bên đều chẳng nhận được gì, Tịnh độ của tự tâm chưa thấy được, thì vẫn còn có Tây phương Tịnh độ có thể đi, đó chẳng phải là biện pháp an toàn và đáng tin hay sao?

Tịnh độ là chốn về của tất cả các Pháp môn. Tuy nhiên các đại thiện tri thức của các Tông phái trong lịch sử, đối với việc nhận biết và giải thích về Tịnh độ, mỗi cái đều có trình độ khác nhau, nhưng rốt cục thì cũng không rời khỏi Tịnh độ. Tương truyền “Ngũ phương tiện Pháp môn niệm Phật” do Đại sư Thiên Đài Trí Giả chọn có đề cập tới: 1. Vãng sinh xưng danh niệm Phật, 2. Quán tướng diệt tội niệm Phật, 3. Chư kính duy tâm niệm Phật, 4. Tâm kính cự ly niệm Phật, 5. Tính khởi viên thông niệm Phật. Bốn loại Pháp môn niệm Phật được Đại sư Tông Mật Ngũ Tổ của Hoa Nghiêm là: 1. Xưng danh, 2. Quán tượng, 3. Quán tưởng, 4. Thực tướng. Tri Lễ của triều Tống chủ trương “ước tâm quán Phật”. Hai vị sư Đại Hạnh và Đạo Kính nhấn mạnh “tín tâm niệm Phật”. Sư Pháp Chiếu chủ trương “lớn tiếng niệm Phật”; các sư Đạo Xước, Thiện Đạo, Từ Mẫn đều chủ trương tọa Thiền, tụng Kinh, sám hối, niệm Phật xưng danh hiệu thập niệm. Trì danh niệm Phật của Đại sư Liên Trì cuối triều Minh, chia làm hai loại là xưng danh sự trì và thể cứu lý trì. Đại sư Ngẫu Ích chia việc niệm Phật làm 3 loại: 1. Niệm tha Phật, 2. Niệm tự Phật, 3. Cự niệm tự tha Phật. Ngài cũng nói trì danh niệm Phật có sự trì và lý trì: Sự trì như con nhớ mẹ, quyết trí cầu sinh Tây phương Tịnh Độ, lý trì là tin rằng Tây phương Di Đà là ở tâm ta, là tâm ta tạo ra.

Tịnh Độ Phật quốc cũng có nhiều loại cấp bậc, “Thành duy thức luận” đề xuất 4 loại: 1. Lý thổ vô sắc vô tướng, 2. Báo độ đích thực Phật tự thụ, 3. Phật vì sơ địa Bồ Tát trở lên hiện ra Báo độ, 4. Phật vì phàm phu Tiểu Thừa và Địa Tiền Bồ Tát mà hiện ra hóa độ. Thiên Đài Tông cũng nói có tứ độ: 1. Phàm Thánh đồng cư độ, Ta bà là đồng cư uế độ, Cực Lạc là đồng cư Tịnh độ. 2. Phương tiện hữu dư độ, là nơi của Thánh giả Tiểu Thừa; 3. Thực báo vô chướng ngại độ, là nơi của Bồ Tát Pháp thân tự chứng; 4. Thường tịch quang Tịnh độ, là Pháp tịnh độ mà chỉ có Phật mới chứng được. Tịnh độ Di Đà cứu kính thuộc cấp bậc nào? Cát tạng học giả Tuệ Viễn, Tam luận của chùa Tịnh Ảnh, lấy Thế giới Cực Lạc làm ứng hóa độ. Các sư của học phái nhiếp luận, theo kiến giải nhiếp luận chủ trương Tịnh độ Di Đà là Báo độ. Thiên Đài Tông thì lấy Tịnh độ làm nơi phàm Thánh đồng cư. Đại sư Ngẫu Ích chủ trương căn cứ trì danh niệm Phật cắt bỏ nghi ngờ được bao nhiêu, thì sẽ sinh lên bốn loại Tịnh độ khác nhau, cũng có nghĩa là, Tịnh độ Di Đà chia làm 4 loại, do trì danh mà đem nghi ngờ vãng sinh và đoạn nghi ngờ vãng sinh hai loại khác nhau, thì sẽ sinh đến Tịnh độ khác nhau. Từ đó có thể thấy được, Pháp môn niệm Phật có nông sâu, cấp bậc của Tịnh độ cũng có cao thấp. Ai dám nói học Phật mà không niêm Phật, lại có ai dám nói rằng tu hành mà không sinh Tịnh độ?

Cuối cùng, tôi vẫn khuyên mọi người chăm chỉ niệm Phật, bất luận trình độ như thế nào, tốt nhất là coi bản thân mình ở trình độ căn cơ thấp kém, nếu tâm kiêu ngạo thì sẽ không sát thực tế, rõ ràng là phàm phu mà lại luôn cho mình ở vị trị của Thánh nhân, không chỉ là tăng thượng mạn, mà còn có thể là sự lừa dối to lớn. Bởi thế mới nói, Pháp môn niệm Phật đều phù hợp với 3 loại căn cơ, sắc cùn đều chấp nhận, tuyệt đối không phải là lời nói dối. Cầu mong các vị Liên hữu có thể chăm chỉ niệm Phật, cầu sinh Tây phương Tịnh Độ, thứ bảy hàng tuần đều đến tham gia cộng tu của Hội niệm Phật, đồng thời còn có thể đưa người nhà bạn bè cùng đến tu hành, khiến cho hoa sen trong hồ Thất Bảo ngày càng nhiều.

Liên hoa chia làm cửu phẩm, hy vọng mọi người đều có thể thăng cao theo từng phẩm, đều đạt được thượng phẩm thượng sinh, niệm Phật phải tinh tấn không ngừng, liên hoa mới ngày càng nở to, không chỉ niệm Phật khi cộng tu, ngày thường cũng cần niệm Phật. Niệm Phật khi cộng tu có thể tập trung sức mạnh của mọi người trở thành sức mạnh tinh tấn cổ vũ cho mỗi một người, cho nên rất quan trọng, niệm Phật vào ngày thường, thì có thể tiếp tục tăng trưởng lòng tin, tâm nguyện, lòng tin sâu sắc của quý vị.

(Ngày 8 tháng 3 năm 1986, khai thị tại Hội niệm Phật Phước Tuệ của chùa Nông Thiền, cư sĩ Trần Quả Ích chỉnh lý, bài viết này hiện được ghi chép tại “Phật giáo nhập môn”).

III. Ý nghĩa của “Báo ân Phật thất”

Gần đây tôi nhận được một bức thư gửi đến từ nước Pháp, đó là bức thư của một vị giáo sư viết, ông ta cho rằng tôi bận rộn như vậy mà vẫn có thể viết sách, xuất bản sách, nhất định là người có cơ thể rất khỏe mạnh, đầy đủ tinh thần. Tôi viết thư trả lời ông ta, tôi từ nhỏ là đứa trẻ có nhiều bệnh tật, không có khi nào là không đau ốm, chỉ vì báo đáp ân huệ của Tam Bảo, mà tôi vẫn sử dụng cơ thể đầy bệnh tật này để hoàn trả “tiền mua giầy đan bằng cỏ” của tôi. “Tiền mua giầy đan bằng cỏ” có nghĩa là trong quá trình tu hành có được sự giúp đỡ của mọi người và hộ trì của Tam bảo. Để báo đáp những ân huệ này, tôi cố gắng tự mình nỗ lực cố gắng, đó chính là “báo ơn”.

Chỉ cần chúng ta đạt được một chút thọ dụng từ trong Phật Pháp, thì cần phải “báo ân”, bởi vì cần phải có được lợi ích của Phật Pháp, còn đáng quý hơn tất cả các tri thức học vấn, vật chất tài phúc trên thế gian. Bởi thế chúng ta cần lợi dụng thời gian chăm chỉ “tu hành”, để báo đáp ân đức của Tam bảo.

Tu hành như thế nào để báo ân? Tu hành có thể dùng tâm lực tiến về phía trước phổ cập đến mỗi một chúng sinh. Nếu không tu hành, thì tâm của quý vị sẽ biết sự tương ứng của ba đạo ác tham sân si, ngược lại, chỉ cần chịu tu hành, tâm của quý vị sẽ gần với giới định tuệ của Phật Pháp. Một là quang minh diện, một là hắc ám diện, thế giới này của chúng ta chỉ cần có một người biết cái đáng quý của “Phật, Pháp, Tăng”, chịu đi tu hành, thì xã hội này sẽ tồn tại quang minh, huống chi thế giới của chúng ta bây giờ có nhiều người đang tinh tấn tu hành “bảy ngày”.

Báo ân đối với Phật Pháp có 4 loại: 1. Ơn Tam Bảo, 2. Ơn quốc gia, 3. Ơn cha mẹ, 4. Ơn chúng sinh.

Loại thứ nhất là “Ơn Tam Bảo”: Thực ra ơn Tam Bảo không thể báo đáp, mà bản thân Tam Bảo cũng không cần chúng ta báo ơn, chỉ là chúng ta lấy “báo ơn” làm mục tiêu để tu hành.

Loại thứ hai là “ơn quốc gia”: Hôm nay chúng ta có thể an cư lạc nghiệp, đó đều là ơn huệ mà quốc gia ban cho, nếu quốc gia không an định, chúng ta làm sao có thể bình an sinh sống? Cho nên, chúng ta hy vọng nhân dân không được làm phạm tội, gây náo loạn, cũng không có xâm chiếm và xâm lược từ nước ngoài, cầu nguyện cho Chính phủ có quan viên hiền minh lãnh đạo, nhân dân ai nấy đều được mạnh khỏe, xã hội nơi nơi đều an định, những điều đó chúng ta đều có thể dùng “tu hành” để cầu nguyện, khiến cho quốc gia của chúng ta phong hòa gió thuận, quốc thái dân an. Đó là phương pháp mà chúng ta báo đáp ơn quốc gia.

Loại thứ ba là “ơn cha mẹ”: Cha mẹ có cha mẹ đời này và cha mẹ đời trước. Chúng ta không thể biết được cha mẹ đời trước, nhưng những người đời này cho dù là kẻ mồ côi thì cũng được cha mẹ sinh ra và có người chăm sóc nuôi nấng. Cho nên, cần phải báo đáp ơn cha mẹ.

Người bình thường chỉ khi cha mẹ mất đi mới nuối tiếc, khi cha mẹ còn sống thì chưa cố gắng làm tròn đạo hiếu, khi cha mẹ còn khỏe mạnh hoặc khi cha mẹ đã già yếu và gần đất xa trời, người chăm sóc và hiếu thuận với cha mẹ thực sự rất ít. Cho nên “Phật thất báo ân tiết thanh minh”, ngoài việc siêu độ cha mẹ đời trước ra, cũng cần cầu chúc cho cha mẹ đời này được mạnh khỏe. Chúng ta có thể dùng sức mạnh của Tam Bảo và cộng tu để cầu chúc cho cha mẹ, việc này có thể làm được.

Một người tu hành cũng giống như một sợi tơ, rất dễ đứt, nếu có nhiều người cùng tu hành thì giống như nhiều sợi tơ kết lại với nhau, nó sẽ trở thành sợi thừng rắn chắc, sức mạnh ấy là rất lớn. Trong đó mỗi một người đều có thể bởi thế mà có được sức mạnh tổng thể. Bởi thế, chúng ta báo ân cha mẹ thì vẫn dùng phương thức “cộng tu”, công đức này là thù thắng nhất.

Loại thứ tư là “ơn chúng sinh”: “Chúng sinh” là ai? Có thể là con cái, người thân bạn bè, cấp dưới của quý vị, thậm chí là oan gia và những người khác, phàm là những người có sự giúp đỡ trong quá trình sinh sống của chúng ta thì đều là chúng sinh. Chúng ta thường nghe thấy người ta nói rằng: “Gặp được quý nhân.” Vậy thì “quý nhân” ở đây luôn chỉ là người bình thường, chỉ cần họ đã từng giúp quý vị giải quyết vấn đề, dẫn dắt quý vị, cho đến chuyển đổi vận mệnh của quý vị, họ đều là quý nhân của quý vị. Bởi thế, chúng ta cần báo đáp “ơn chúng sinh”, cần phải coi tất cả mọi người đều là ân nhân.

Nghĩ lại từ nhỏ tới lớn chúng ta không biết đã tiếp nhận bao nhiêu ân huệ của bao nhiêu người, trong Phật Pháp có nói: “Nhiều duyên hợp lại mà sinh.” Sự hoàn thành của bất kỳ việc gì đều là sức mạnh kết hợp của rất nhiều người, cá nhân có thể cung cấp thực sự rất có hạn. Cho nên, sau khi dùng cơm chay trong chùa xong, đều cần phải cảm tạ tất cả các thí chủ đã bố thí, và chúc phúc cho họ “có nguyện tất thành”.

Còn các cư sĩ tại gia có thí chủ hay không? Hoặc có người cho rằng tất cả những thứ của họ đều do bản thân họ kiếm tiền mua được, nhưng xã hội loài người là một môi trường tương hỗ, tuy là dùng tiền của bản thân mình để mua, cũng vẫn cần phải có lòng cảm tạ, nếu người khác không bán đồ cho quý vị, quý vị cho dù có tiền thì làm được gì? Nếu mỗi người chúng ta đều đem lòng cảm tạ đối với những gì mà mình có được, thì mỗi một người trên thế giới này đều là thiện nhân và Bồ Tát. Bởi thế, khi báo đáp “ơn chúng sinh”, trong mắt chúng ta chẳng có ai là kẻ thù hoặc người xấu cả. Trên thế gian chỉ có việc xấu, không có người xấu. Con người làm việc xấu, chỉ cần sau đó không được tái phạm thì họ vẫn là người tốt. Bởi thế, Phật Pháp đối với tất cả mọi người đều không thất vọng, đó chính là nguyên nhân coi tất cả chúng sinh như “ân nhân” của mình.

Cuối cùng cần nói đến ý nghĩa của “Phật thất”: Vì sao lại cần đến thời gian “bảy ngày”? Đó là vì có liên quan đến việc vận hành của cả vũ trụ, từ xưa đến nay, bất luận Đông phương hay Tây phương đều lấy “bảy ngày” làm một vòng tuần hoàn vận hành của vũ trụ. Các hoạt động cơ thể và tinh thần của chúng ta đều là sự phối hợp vận hành của cả vũ trụ mà chuyển động, cho nên dùng thời gian bảy ngày để tu hành là thích hợp nhất, cũng giống như chúng ta lấy vũ trụ nhỏ trong thân tâm của bản thân mình phối hợp với đại vũ trụ mà tu hành Pháp môn niệm Phật, nếu bảy ngày không đủ, thì có thể tăng thêm đến 14 ngày, 21 ngày, thậm chí là 49 ngày.

Tham gia tổ tinh tấn, cần phải tu hành ở đây bảy ngày, tùy hỷ thì có thể đến 1 buổi, 2 buổi, thậm chí chỉ tham gia một nén hương hoặc vài nén hương, thì đều tốt hơn tự tu hành ở nhà. Trong Phật Pháp có nói: “Đời người tức là khổ báo.” Cái gọi là “nghiệp không nặng không sinh Ta bà, chướng không nặng thì không phải là phàm phu”. Bình thường chúng ta rất ít cảm nhận dược nghiệp nặng của bản thân, chỉ khi tu hành mới sinh ra “đau như cắt da”, mà cảm nhận được sinh mệnh là “quả khổ” một cách sâu sắc. Cũng chỉ có “biết khổ” mới phát ra đạo tâm thực sự, bởi vì sinh ra làm người đã đau khổ như vậy, thì các chúng sinh ở ba đường ác đạo càng đau khổ hơn. Chúng ta “biết khổ”, cho nên cần phải chăm chỉ tu hành niệm Phật, để cầu “xa rời đau khổ, đạt được an lạc”, bởi vì có thể biết được “khổ”, mới có thể thông cảm với các chúng sinh có những nỗi khổ hơn thế. Bởi thế, muốn được sản sinh tâm từ bi, nhất định phải chịu khổ trước đã, chịu khổ, biết khổ, và thiết thực tu hành thì mới có thể phát ra tâm từ bi chân chính.

(Ngày 02 tháng 04 năm 1985 khai thị báo ân ơn tiết thanh minh, cư sĩ Trần Minh Hà chỉnh lý, bài viết này được ghi chép trong “Phật giáo nhập môn”)