Bài học cuối cùng của đời người

Đối diện với sinh tử

Cái chết không đáng sợ

Phật giáo cho rằng cuộc đời có các loại đau khổ như sinh, lão, bệnh, tử. Mọi người rất dễ hiểu lầm cho rằng đó là phát tán chủ nghĩa bi quan. Trên thực tế, trong quan niệm của Phật giáo, sự thay đổi của sinh lão bệnh tử trên cơ thể chẳng qua chỉ là giả tướng mà thôi, học tập và thực hành phương pháp vượt qua những giả tướng này mới là trọng tâm của giáo nghĩa Phật giáo.

Phật Thích Ca Mâu Ni có thể trở thành Phật là vì Ngài quan sát và thể nghiệm được sinh lão bệnh tử mà tất cả con người không thể vượt qua. Có sinh thì ắt có tử, sinh và tử là hai giai đoạn của một thể, lúc bắt đầu là sinh, khi kết thúc là tử. Hơn nữa có sinh mệnh thì ắt sẽ phải già, quá trình của sinh mệnh là một dãy hiện tượng lão hóa. Đồng thời với lão hóa còn sản sinh rất nhiều bệnh tật trên cơ thể và tâm lý, cho tới khi chết đi, không ai có thể tránh được.

Chúng sinh ở thế gian là để chịu khổ chịu nạn, chứ không phải hưởng phước hưởng lạc. Cho dù có những lúc cảm thấy hạnh phúc thì cũng là khổ nhiều vui ít, mà còn rất ngắn ngủi, không thể nào duy trì vĩnh viễn. Ví dụ, để có được một bữa ăn, chúng ta bắt buộc cần phải mất một thời gian dài để chuẩn bị công việc nấu nướng thì mới có thể có được những món ăn phong phú, nhưng thời gian hưởng thụ món ăn ngon thì lại quá ngắn, nhắm mắt một cái đã qua mất rồi, cho nên hạnh phúc rất ngắn ngủi.

Hơn nữa cái khổ và cái vui giống như hai kẻ sinh đôi không thể rời xa nhau, bản thân của cái vui là kết quả của cái khổ, và nó cũng là sự bắt đầu của một nỗi khổ khác. Ở giữa hai đầu của cái đau khổ là cái vui, điều đó giống như ở trước và ở sau đều là lửa, phần giữa tuy chưa bị lửa thiêu cháy nhưng đã bị hai mặt bịt lại và vẫn phải chịu sự uy hiếp. Cho nên, người hàng xóm của vui chính là khổ, tục ngữ có câu “lạc cực sinh bi”, khi đang hưởng sự vui vẻ thì lại đang đi về hướng của đau khổ.

Không bị vấn đề sinh tử bó buộc

Nếu chúng ta muốn vượt qua sự đau khổ của sinh mệnh, thì cần phải học tập để không bị các vấn đề của sinh tử phiền nhiễu hoặc bó buộc. Sinh tử đều có nguyên nhân, sinh không hề vui mừng, tử cũng chẳng cần đau khổ bi ai. Tham sống sợ chết đều chẳng có tác dụng gì, bởi vì chúng ta đều đang ở trong biển khổ luân hồi sinh tử, mỗi một con người đều sẽ phải đối diện với cái chết, quá tình của sinh mệnh đều như vậy, đó là hiện tượng tự nhiên. Cho nên không cần phải tham sống sợ chết, điều đó chỉ có tạo thành sự đau khổ và tự tìm đến phiền não mà thôi.

Chúng ta cần biết rằng bản thân cái chết không phải là việc đáng sợ, sau khi chết vẫn còn có một tương lai khác phía trước đang chờ đợi. Giống như buổi sáng đi làm mệt quá, buổi tối không thể không ngủ vậy, sau khi bổ sung giấc ngủ, buổi sáng ngày thứ hai thức dậy lại là một ngày mới.

Ngoài ra, còn có thể nói sinh là một kết quả, lợi dụng kết quả này để có thể chuẩn bị cho cái chết. Sau khi chúng ta chết đi, bất kỳ tài sản, danh lợi nào trên thế gian này đều sẽ không đem đi được, chỉ có nghiệp báo mang theo mà thôi. Cho nên, cái có thể thực sự đem đi được đó là lòng từ bi, trí tuệ và công đức của chúng ta. Bởi thế, không cần phải lo lắng sau khi chết đi chúng ta sẽ đi đến nơi nào, mà phải xem xem hiện tại bản thân mình có “cất chứa sẵn” hay không mới là thật. Lợi dụng sinh mệnh hiện tại để nỗ lực trù bị tinh lực, cần làm nhiều công đức trên thế gian này, để đem đi nhiều những nghiệp báo tốt cho đời sau, thì sẽ không phải lo lắng cái chết nữa. Cũng giống như chúng ta ở dưới quê kiếm nhiều tiền một chút, rồi đi đến thành phố làm việc tình nguyện, đó không phải là việc rất tốt hay sao?

Từ đó có thể biết, Phật giáo tuy nhấn mạnh rằng từ khi sinh đến lúc chết đi đều là khổ, nhưng không phải người bình thường cho rằng đó là tiêu cực, mà ngược lại, điều đó còn có thể giúp cho chúng ta tiêu hóa nỗi lo sợ đối với cái chết. Phật pháp hướng dẫn chúng ta tích cực tích lũy công đức, khi ở nhân gian thì trước hết làm tốt công việc ở nhân gian Tịnh độ, khi vãng sinh mới có thể đem công đức ấy cùng đi về Cực Lạc Tịnh độ, đó mới là chốn đi về tốt nhất của chúng ta, như vậy mới có thể có được hạnh phúc vĩnh hằng, chân thực.

(Trích lục từ “Hạnh phúc thực sự”)

Việc chuẩn bị cho cái chết

Hỏi: Hòa thượng từng khai thị và tin rằng có quá khứ vĩnh viễn, tương lai vĩnh viễn, nên chuẩn bị tốt nhất đối với “cái chết”.

Ngoài ra, có thể thỉnh Hòa thượng khai thị thêm, con người có thể chuẩn bị được những gì cho điểm cuối của cuộc đời?

Đáp: Xử lý công việc sau khi qua đời, đích thực là một việc rất quan trọng, di sản, nghi thức tang lễ cho đến trả nợ vay mượn, song tôi nhận thấy rằng cần phải chuẩn bị tâm lý trước để đối diện với cái chết là điều rất quan trọng.

Xã hội truyền thống ở nông thôn Trung Quốc, những người hơn 50 tuổi đều bắt đầu chuẩn bị cho việc lớn sau khi qua đời, ví dụ như mua trước quần áo mặc cho người chết, quan tài và mồ mả, đó là không muốn nhờ vả người khác, hơn nữa còn để lại cho chính mình một ít tiền để mua quan tài. Thái độ thản nhiên đối diện với cái chết như vậy là vô cùng khỏe mạnh, cũng vô cùng có giá trị để người hiện đại thời nay học tập. Bởi vì người lâm chung không cho rằng cái chết là điều bi thảm, và con cháu cũng không cho rằng ông bà cha mẹ mất đi là việc không thể chịu đựng nổi, mọi người đều có thể làm như vậy, bình tĩnh đón nhận cái ngày ắt sẽ phải đến ấy.

Càng sâu xa là do đã trải qua hơn nửa đời người nên tự mình dự tính tương lai của cái chết, thì sẽ càng hăng hái hoàn thành tâm nguyện của mình, hoặc tích đức tạo phước cho con cháu. Và con cháu cũng sẽ tự mình cảnh giác, nắm chắc thời gian thực hiện đạo hiếu, để tránh tiếc nuối “con muốn nuôi mà cha mẹ không còn”.

Kiến lập có sinh ắt có tử của nhân quả quan

Tiến vào thời đại của đến thế kỷ 21, loài người bình quân tuổi thọ tuy có kéo dài, nhưng việc chuẩn bị cho cái chết thì lại không thản nhiên tự tại hơn xã hội nông nghiệp. Với sự đột phá tiến mạnh của khoa học kỹ thuật y dược, mọi người hầu như phổ biến dự tính “nhân định thắng thiên”, đối với việc tử Thần có thể đến vào bất kỳ thời khắc nào đã mất đi tâm lý chuẩn bị và đối phó, và khi đối diện thì bàng hoàng lo lắng mà không thể tiếp nhận sự thực đối với cái chết.

Nhìn từ bề ngoài, con người thời hiện đại được bảo vệ tốt hơn, tuổi thọ kéo dài hơn, nhưng xác xuất tử vong thực tế cũng không có giảm bớt. Ví dụ, con người thời hiện đại chết vì thiên tai có lẽ giảm xuống; song ngược lại, xác xuất tử vong bởi tai nạn do con người tạo ra thì lại gia tăng. Ví dụ tai nạn sự cố giao thông, tai nạn nghề nghiệp và ô nhiễm môi trường, các vấn đề khai thác quá độ làm hỏng môi trường tự nhiên mà dẫn đến thương tích, chết chóc.

Hình thái đời sống của thời đại khoa học kỹ thuật đã làm giảm đi sự dự tính và chuẩn bị đối với cái chết của mọi người. Việc hoan nghênh một sinh mệnh mới đã phản ánh đầy đủ tâm thái ấy. Cha mẹ thời hiện đại đều đến bệnh viện sinh đẻ, nguyên nhân không ngoài việc bệnh viện an toàn hơn, nếu lỡ sảy ra tình huống gì thì có thể lập tức được cứu hộ và trị liệu tốt nhất. Nhưng kỹ thuật, thiết bị trị liệu tiên tiến thực sự có thể đảm bảo nhất định sự bình an vô sự không? Dường như cho đến ngày nay, vẫn là điều không thể thực hiện!

Nhìn từ một góc độ khác thì chức năng của bệnh viện có hai mặt quan trọng, một mặt tiếp nhận sinh và một mặt cũng tiễn đưa tử. Trên thực tế mỗi một sinh mệnh mới trong quá trình mang thai, ra đời, đều luôn phải đối diện với thách thức của bệnh tật và tử vong, nói gần hơn, con người một khi được sinh ra đời cũng tức là đi cùng với cái chết. Nếu có thể sớm nhận thức rõ quan hệ nhân quả có sinh ắt có tử, thì sẽ dễ dàng khắc phục lo lắng đối với cái chết hơn và sẽ thản nhiên tiếp nhận cái chết.

Kế hoạch và sự chuẩn bị cho cái chết

Từ xa xưa, xã hội hưng khởi làn sóng cải cách “kế hoạch sinh nhai”, từ việc cải cách này tiến triển thành rất nhiều học thuyết, lý luận nóng hổi, bao gồm bồi dưỡng chuyên môn thứ hai, hướng trắc định, nhận biết nhân cách, xử lý quan hệ giao tiếp, quản lý thời gian, xây dựng thêm sự nghiệp trong đời, thậm chí quản lý tài chính .v.v. Những tri thức này đích thực có thể giúp cho rất nhiều người thích ứng hoặc nắm bắt được thời đại mới không ngừng biến động, nhưng rất đáng tiếc, cực ít người khi nói đến quy hoạch sinh nhai đưa vào khái niệm “kế hoạch cho cái chết”.

Ngược lại người phương Tây, họ lại thường viết sẵn di trúc khi còn trẻ, sau này xem xét các điều kiện chủ quan và khách quan mà sửa đổi đính chính. Tuy xã hội Đài Loan trước mắt số nhân khẩu đồng ý mua bảo hiểm khi còn khỏe mạnh ngày càng gia tăng và quan niệm đề phòng có sâu hơn hồi trước, nhưng lại không đồng ý với việc tự mình làm kế hoạch sau khi mất khi còn trẻ. Tôi kiến nghị mọi người ở bất kỳ giai đoạn nào của cuộc sống đều cần phải suy nghĩ về vấn đề cái chết, để tránh khi sảy ra việc ngoài ý muốn lại khiến cho người thân bạn thêm bè bi thương và hoang mang.

Thực ra, kế hoạch cho cái chết không cần phải kiêng kị, nó cũng không phức tạp, chủ yếu bao gồm xử lý di thể (nghi thức an táng), tài sản và xử lý nợ nần, đó là sự thể hiện cụ thể về trách nhiệm cuối cùng đối với bản thân và người khác. Những việc này thường được nghe vì không có sự bàn giao rõ ràng, ví dụ tín ngưỡng của con cái khác nhau, nên làm thế nào để cử hành tang lễ, an táng cho cha mẹ, xích mích không thể gỡ rối. Càng có người vì tranh chấp tài sản, vợ chồng, con cái kiện cáo lẫn nhau, bởi vậy mà đưa ra tòa, những việc đó đều không bình an đối với người chết và người còn sống.

Đã từng có một vị học giả nhà Nho họ Đường tự mình chủ trương lấy phương thức “tử, táng chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ” của Nho gia để làm việc hậu sự cho bản thân. Nhưng khi mẹ ông ta qua đời, ông ta lại do dự, bởi vì ông ta nhận thấy nghi thức tang lễ của nhà Nho không phải là điều mà mẹ ông cần. Sau đó, ông ta suy nghĩ mẹ khi con sống có thói quen theo khuynh hướng Phật giáo, thế là ông lấy nghi thức Phật giáo để cử hành tang lễ cho mẹ của mình. Điều thú vị là, khi bản thân ông ta vãng sinh, cũng dùng nghi thức của Phật giáo.

Một người khi còn sống có tín ngưỡng Tôn giáo, hậu sự của người đó sẽ dễ dàng xử lý, con cháu chỉ cần làm theo tín ngưỡng của người đó là được. Nếu không có tín ngưỡng Tôn giáo, thì di tộc tốt nhất học tập ngài họ Đường đây, đứng trên lập trường của người chết mà suy nghĩ nhiều hơn.

Câu chuyện thực tế về cách đối diện với cái chết.

Tiếp theo, tôi sẽ nói về những câu chuyện có thật, trong những câu chuyện này nói về những ông chủ xử lý tài sản, thái độ đối diện và chuẩn bị cho cái chết, cần phải có những khởi phát và hữu ích đối với nhiều người trong xã hội.

Có một bà lão, khi chồng qua đời có để lại một tài sản rất lớn, con cái của bà lão rất hiếu thuận, thế là bà lão đem toàn bộ tài sản chia cho các con, người con có hiếu an ủi bà, mời bà ở lại nhà của mình.

Hai năm sau bà lão đến gặp tôi, trong lòng rất đau khổ, bà nói các con đáng lẽ đều rất hoan nghênh bà, dần dần, bà cảm thấy sự việc ngày càng không vui. Khi năm hết Tết đến, ba người con trai của bà đều mời bà đến nhà của anh em khác, mà lại không muốn để bà ở nhà mình đón Tết. Nhà cửa của các con rất rộng, bà lão lại ở phòng khách, không có phòng riêng cho bà, bởi vì các con cho rằng bà lão chỉ thỉnh thoảng đến chơi ở một vài hôm, để dành phòng cho bà là gánh nặng lớn ở thành phố đất đai đắt đỏ này. Nhưng mà cuộc sống như vậy khiến cho bà lão thật sự không tiện lợi và không có cảm giác an toàn.

Sau đó, tôi hỏi con trai bà lão, vì sao “không cần” mẹ nữa? Đứa con của bà trả lời, A Di Đà Phật, không phải chúng tôi không cần mẹ, mà là ý kiến của mẹ rất nhiều, lúc nào cũng cằn nhằn, khiến cho người lớn nhỏ trong nhà không được yên tĩnh.

Cuối cùng tôi mời bà lão sống trong chùa, bà lão cho rằng bản thân đã không còn gì trên người, không thể cúng dường Tam Bảo, nên đành phải để cho con cái sắp xếp ở trong bệnh viện dưỡng lão.

Có một bà lão khác, khi xử lý trường hợp giống như vậy thì thể hiện có trí tuệ hơn nhiều, bà lão này sau khi chồng qua đời, thì không đem tài sản chia cho các con. Bà chia tài sản làm bốn phần, một phần đưa cho con cái tự chia nhau, một phần khác chia cho toàn bộ công nhân của chồng mình khi còn sống, phần thứ ba dùng để đầu tư kiếm lợi, phần cuối cùng để bên người để chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày. Hơn nữa, bà lão cũng không sống chung cùng các con, mà một mình cùng người giúp việc sống tại nhà cũ, không có vướng mắc gia đình, sống một cách tự do tự tại.

Mỗi khi ngày rằm lễ Tết, con cháu về nhà cùng đoàn viên tụ họp với bà, bà đều nhất định phát cho mỗi người một bao lì xì, con trai, con dâu, các cháu ai cũng có phần, và đều hoan hỷ. Cho dù ngày thường con cháu cũng thường hỏi thăm vấn an, thăm hỏi bà lão có cần gì hay không, cho tới khi bà qua đời, gia đình này luôn duy trì quan hệ viên mãn hòa hợp. Mà các con của bà xử lý hậu sự cho bà cũng rất tận tâm, bố thí, làm Phật sự, từng việc làm tuân thủ theo lễ nghĩa. Tôi nghĩ, bà lão này vẫn còn có hai phần tài sản, vì vậy mà có thể là nguyên nhân khiến cho gia đình hòa hợp. Đó không phải nói con cái của bà chỉ vì tham tiền mới có hiếu, cái cốt lõi ở đây là con người khi về già tốt nhất cần học tập tự lo cho bản thân mình, đừng bao giờ nghĩ ỷ lại vào con cháu.

Đương nhiên, xã hội không phải ai cũng đều có một khoản tài sản để dành khi về già, nếu bản thân mình không có chút tích lũy, thì cần phải kết thiện duyên rộng rãi.

Chùa Nông Thiền trước đây có một vị cư sĩ nam, ông ta không có tiền, nhưng dường như ngày nào cũng đến chùa làm công quả, làm thợ mộc giúp làm những sản phẩm nho nhỏ, và cũng có tham gia đoàn trợ niệm và trở thành người trợ niệm cho người lâm chung. Sau khi ông ta qua đời, chúng tôi dùng nghi lễ của hành giả Tăng đoàn (cư sĩ tại gia phát tâm xuất gia, sống trong chùa học tập cuộc sống tu hành của người xuất gia, chuẩn bị khi nhân duyên đầy đủ thì xuống tóc đi tu) sắp xếp hậu sự cho ông ta, có rất nhiều tín chúng và bạn bè cũng cùng đến trợ niệm cho ông ta. Việc này có khi còn làm tốt hơn là con cháu đầy nhà làm cho ông ta, và cũng viên mãn hơn những người tuy giàu có mà lại ít kết nhân duyên với Phật pháp.

Cho nên, có tài phúc còn cần có trí tuệ để vận dụng, nhưng nếu không có vạn quán gia tài thì cần phải hiểu được kết duyên rộng rãi, điểm này rất quan trọng. Vị nam cư sĩ này không những yên tâm đón nhận cái chết mà còn cống hiến năm tháng cho Tôn giáo, người cống hiến như vậy có thể ung dung đối diện với cái chết, ông ta không chỉ làm việc lợi người khi còn sống, mà còn thái độ đối với chết đó cũng có lợi ích đối với người đi sau. Bởi vì người lâm chung có thể không sợ không hãi đi đến điểm cuối của cuộc đời, tinh thần bình tĩnh ấy cũng đã làm ảnh hưởng người thân và bạn bè xung quanh, khiến cho họ không đến nỗi rơi vào tình trạng bi thương.

Câu chuyện về Bồ Tát Cổ Chùy

Ngoài ra còn có một câu chuyện kỳ diệu khác, đó là câu chuyện của sư Quả Triệu đệ tử của tôi và bà mẹ của ông ấy. Cha của sư Quả Triệu qua đời rất sớm, chị em cũng đều có gia đình riêng, trước khi sư Quả Triệu xuất gia, luôn sống chung với mẹ 17 năm. Hai mẹ con dựa vào nhau mà sống, tình cảm vô cùng thâm sau. Khi sư Quả Triệu đề xuất việc muốn xuất gia tu hành, thì bà mẹ không hề ngăn cản, tinh thần cởi mở, rộng lòng đó thực sự là rất hiếm có.

Sau khi sư Quả Triệu đến chùa Nông Thiền, bà mẹ cũng đến nhà bếp của chùa Nông Thiền làm công quả, tham gia các hoạt động tu hành trong chùa, thứ bảy niệm Phật cộng tu, mỗi năm hai lần Phật thất bà mẹ đều không vắng mặt. Cho đến khi bà qua đời, tổng cộng đã tham gia 13 lần Phật thất. Bà mẹ hơn 70 tuổi không vì già, mà trong Thiền đường của Thiền thất, Thiền tam, Thiền nhất cũng thường thấy hình bóng của bà, vô cùng tinh tấn. Bà là người vui vẻ, nhân duyên cực tốt, mọi người đều gọi bà là “Bồ Tát Cổ Chùy”.

Bà ấy qua đời vào tháng giêng (năm 1998, bà lão thọ 76 tuổi), tôi vừa từ Mỹ trở về Đài Loan, gặp bà lão trong chùa, tôi thấy dáng đi của bà thì cảm thấy hình như cơ thể bà không được tốt, liền hỏi bà: “Bà có khỏe không?”

Bà lão liền đưa ngón tay cả lên nói: “Khỏe lắm ạ!” Thực ra, ở trong chùa mấy ngày hôm đó, cơ thể của bà đã không thoải mái, nhưng đều không muốn khiến cho sư Quả Triệu biết tình hình của bà có chút nghiêm trọng. Hai ngày trước ngày bảo vệ môi trường, tình hình sức khỏe của bà đã rất tồi, nhưng bởi vì đã đồng ý với các đồng tu khác đến khu Bắc Đầu để gói bánh trưng, hấp bánh đúc, thế là cố gắng hết sức gói một nghìn chiếc bánh trưng trước ngày hội Viên Du. Chưa tới ba giờ sáng ngày hôm đó, bà đã thức dậy hấp xong bánh trưng, và đưa đến công viên Lập Nông sắp xếp xong chỗ ngồi, sau đó mới thỉnh sư Quả Triệu đưa đến bệnh viện Trường Canh Đài Bắc để khám bệnh. Buổi tối hôm đó, tình hình sức khỏe xấu đi, chuyển đến bệnh viện Trường Canh tại Lâm Khẩu cấp cứu.

Sau đó, bà lão hôn mê sáu ngày, sư Quả Triệu luôn nhắc bà lão công phu thường ngày niệm Phật bây giờ cần dùng đến. Giai đoạn này, nếu bà lão còn tỉnh thì thường niệm Phật hoặc trì “chú Đại Bị” để đề khởi chính niệm vãng sinh Phật quốc. Bởi bà đã có kinh nghiệm tham gia hơn 10 lần Phật thất và thứ bảy hàng tuần tham gia niệm Phật cộng tu, vô cùng rõ tiết tấu của danh hiệu Phật, cho nên thường dùng nhịp tay đánh lên giường làm tiếng mõ, dùng niệm Phật để đề kháng với cái đau của bệnh tật và hôn mê.

Đến ngày thứ sáu, biểu hiện của bà ấy có chút buồn bực và muốn về nhà. sư Quả Triệu mời sư Quả Đông khai thị cho bà, sư Quả Đông yêu cầu bà buông bỏ tâm xuống, lấy lại khí phách hào phóng đối diện với thời khắc quan trọng nhất. Sau khi buông bỏ vạn duyên, trải qua khoảng nửa tiếng đồng hồ, bà lão an tường vãng sinh.

Theo lời sư Quả Triệu, khi bà lão bị bệnh, bởi vì tay được truyền nước, lỗ mũi, miệng đều có cắm ống dẫn, cơ thể cứng đờ, sắc mặt xanh xao. Sau khi vãng sinh, dưới sự trợ niệm của Sư và liên hữu Pháp Cổ Sơn, giúp bà lão lấy lại chính niệm. Khi thay áo, cơ thể bà trở lên mềm mại, nét mặt trở lên hồng hào. Lúc bình thường bà ngủ thường hay ngáy, miệng mở ra, nhưng khi vãng sinh, mắt và miệng đều khép lại, hai bên khóe miệng còn mỉm cười.

Sáng ngày thứ hai sau khi bà lão vãng sinh, tôi nói chuyện với các đệ tử xuất gia của mình như thế này: Bà lão này còn có đạo tâm nhiều hơn những người xuất gia chúng ta, tuy cơ thể có bệnh nhưng lại bình tĩnh, tinh tấn như vậy, còn phát tâm làm việc công quả. Bà lão không cho rằng bệnh của mình nặng, bởi thế cho nên mà kết thúc sinh tử, nhất tâm bất loạn niệm Phật, bà đã cống hiến như thường cho tới lúc cuối cùng.

Có nhiều người bị bệnh, thì nằm trên giường dưỡng bệnh (đặc biệt là người già), lúc đó tinh thần của họ rất dễ buồn phiền, khó tránh khỏi than thở, thậm chí còn trách móc con cháu, người thân bạn bè, những người chăm sóc mình, phiền não cực nặng. Cho dù là người xuất gia cũng không thể trăm phần trăm không khởi vô minh này (vì ngu si mà sinh phiền não), thế là trách cứ Tăng đoàn rất “máu lạnh”, hoặc than phiền sư huynh đệ không có tình nghĩa. Có thể giống như bà lão của sư Quả Triệu vãng sinh như thế, thực là phước báo, biết rõ phiền não của bà ít, có thể trút bỏ, có thể rời đi thanh thản. Đó không chỉ là khởi thị cho đại chúng xã hội, mà đến người xuất gia chúng ta cũng có thể học tập.

Làm bố thí, lợi ích cho đại chúng và xã hội

Cuối cùng sẽ nói đến câu chuyện của một vị cư sĩ nữ, làm thế nào để dùng hai ba ngày cuối cùng của cuộc đời kết thúc viên mãn sinh mệnh của mình. Vị nữ Phật tử này sau khi người chồng qua đời đã từng nói với tôi rằng, sau này khi cô ta qua đời không định giữ lại tài sản cho con gái độc của mình, mà muốn quyên góp cho tôi. Tôi khuyên cô ta, tuổi tác của chúng ta giống nhau, ai đi tới Tây Phương trước chẳng thể biết được, chưa chắc tôi sẽ đi trước một bước, quyên góp tài sản cho tôi không phải là biện pháp tốt. Thế là cô ta quyết định đem tài sản quyên góp cho Pháp Cổ Sơn. Tôi nói, điều đó là đúng. Pháp Cổ Sơn là đạo tràng của thập phương, thông qua đạo tràng để làm bố thí, lợi ích cho chúng sinh, công đức này là rất lớn. Đáng lẽ tôi không dự định sự việc sẽ đến nhanh như vậy, nhưng nó thực sự nói đến là đến.

Cách đó không lâu, khi tôi đang ở Mỹ thì nhận được cú điện thoại nói rằng cô ta sắp qua đời, tôi rất ngạc nhiên, an ủi cô ta không được hoang mang suy nghĩ lung tung. Nhưng cô ta nói:

“Sư phụ, con hiện đang ở bệnh viện thương binh, không ngừng nôn ra máu, con sắp chết rồi”.

“Sao lại như vậy? Giọng của cô nghe có vẻ còn rất khỏe mà”.

“Bác sĩ cũng nói con sắp chết, con muốn xin ra viện”.

“Nếu bệnh đã nghiêm trọng như vậy thì sao lại muốn ra viện?”

“Con muốn ra viện để đi đăng ký sang tên tài sản, Thỉnh sư phụ cử đệ tử cùng con đi đăng ký”. Thế là tôi yêu cầu hai đệ tử quản lý tài chính của chùa cùng đi đăng ký. Vị nữ Phật tử này bận rộn cả ngày, trông sức khỏe có vẻ còn rất tốt, và hai vị sư đi cùng cô ta thì không tin là cô ta là người bệnh sắp lâm chung. Sau khi đã đăng ký xong, cô ta trở lại bệnh viện đến ngày thứ hai thì vãng sinh.

Sau sự việc này chúng tôi cũng an táng cô ta giống thân phận của “hành giả”, người nhà của cô cũng vui mừng tiếp nhận những sắp xếp hậu sự của cô ta. Sau đó, Pháp Cổ Sơn dùng tài sản của cô để thành lập Trung tâm quảng bá giáo dục Phật giáo, còn dùng tài sản mà cô để lại thiết lập quỹ học bổng kỷ niệm vĩnh cửu.

Thái độ đối diện khi sinh mệnh kết thúc như thế thực là trang nghiêm và an tường.

Buông xuống và trợ niệm

Hỏi: Hòa thượng vừa khai thị những câu chuyện có liên quan đến việc chuẩn bị tâm lý lúc bình thường, vậy thì mấy ngày hoặc thời khắc cực ngắn trước khi lâm chung, người lâm chung và người thân bạn bè phải làm những gì?

Đáp: Khi lâm chung, nếu ý thức vẫn còn minh mẫn tỉnh táo, thì lúc đó cần phải hoàn toàn buông bỏ mọi việc, không được khiến họ để bụng bất kỳ việc gì, tránh tăng thêm phiền não cho mọi người.

Đứng trên lập trường Tôn giáo, khích lệ người lâm chung niệm Phật và trợ niệm cho họ là một đại sự rất có công đức. Đối với người lâm chung đã không còn ý thức, tuy họ không thể nói, nhưng trong lòng vẫn có thể cảm nhận được thông tin từ phía bên ngoài, đặc biệt là đối với cảm ứng của người thân là rất mạnh, cho nên thành tâm của người trợ niệm vẫn có thể truyền đạt đến họ.

Trợ niệm chính là dùng âm thanh mềm mại, lòng từ bị, tín niệm kiên định, tụng niệm danh hiệu A Di Đà Phật bên người vãng sinh.

Ý nghĩa của trợ niệm có 4 loại: Một là, cá nhân đối với cá nhân, gia đình đối với gia đình, chuyển hóa những gì không thể, không có chỗ dựa thành hệ thống khuyến khích hỗ trợ. Bảy, tám năm trước Pháp Cổ Sơn đã thành lập đoàn trợ niệm (biên ấn: thành lập vào năm 1993), lúc đó tôi đã từng nói với đoàn viên của đoàn trợ niệm, sau khi trợ niệm, đại đa số gia đình sẽ tặng “phong bì” để cảm tạ. Nhưng chúng ta tuyệt đối không được nhận tiền, mà cần thu “người”. Bởi vì người nhà mời người trợ niệm, họ nhất định biết được lợi ích của trợ niệm, hơn nữa cũng đã thừa nhận lợi ích ấy. Nếu đã như vậy, thì cần phải gia nhập đoàn trợ niệm, giúp đỡ người khác. Đó chính là truyền bá tinh thần tương thân tương ái và hỗ trợ lẫn nhau.

Thứ hai, giúp người chết vãng sinh thế giới Tây phương Cực Lạc. Người thân bạn bè và người bên cạnh trợ niệm có thể khiến cho thần thức của người lâm chung niệm Phật theo, sẽ được Tây Phương Tam Thánh (A Di Đà Phật, Đại Thế Chí Bồ Tát, Quan Thế Âm Bồ Tát) tiếp dẫn. Cho dù người chết bởi phước tuệ của bản thân không đủ thâm sâu, hoặc nhân duyên chưa chín muồi, ý nguyện chưa thiết tha, không thể vãng sinh Tây Phương Phật quốc, nhưng cũng nhất định có thể vãng sinh đến nơi tốt hơn.

Thứ ba, giúp cho gia quyến người chết thân tâm được an định. Bởi tiếng danh hiệu Phật trầm bổng vốn có sức an định, có thể giảm nhẹ tinh thần tạp loạn bi thương và lo sợ.

Cuối cùng, trợ niệm cũng là một loại phương pháp tu hành của bản thân người trợ niệm, cũng có công đức hoằng Pháp. Kinh nghiệm trợ niệm càng nhiều, lòng tin vãng sinh Tây Phương càng kiên định, nếu như tự mình có thể niệm đến nhất tâm bất loạn, thì công đức vô cùng viên mãn.

Khi còn sống nếu có thói quen niệm Phật và ý nguyện vãng sinh Tây phương mãnh liệt, thì sẽ đảm bảo tốt hơn rất nhiều so với người bình thường không niệm Phật, đến khi lâm chung mới mời người đến trợ niệm. Cho nên, ngày thường cần phải chuẩn bị trước, để tránh “nước đến chân mới nhảy” rối loạn tâm trí.

Tây phương tịnh độ là chốn về tốt nhất

Hỏi: Niệm danh hiệu Phật tức là mời người chết đi về Tây phương tịnh độ không ? Tín đồ Phật giáo của các Tông phái ở Trung Quốc cũng đều lấy thế giới Tây phương cực lạc làm nơi đến cuối cùng phải không?

Đáp: Đại bộ phận các Tông phái Phật giáo ở Trung Quốc đều phát nguyện như thế, chỉ có tín đồ Phật giáo của Thiền tông hoặc Nam Á là ngoại lệ. Nếu không đi Tây phương cực lạc thì vẫn còn có thể đi các Phật quốc khác, hoặc chuyển thế tái sinh làm người tu hành, hoằng Pháp, cũng đều rất tốt.

Đối với đại chúng mà nói thường ngày hoặc trước khi lâm chung, phát nguyện vãng sinh thế giới Tây Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà là nơi về tốt nhất. Có rất nhiều người không có tín ngưỡng Tôn giáo, thường nhật chẳng nghĩ đến việc sau khi chết sẽ đi về đâu, cũng chẳng quan tâm là đi về đâu, nếu người thân có thể làm Phật sự lớn, làm bố thí cho người đó, thì người đó vẫn có cơ hội vãng sinh về Tây Phương cực lạc. Bởi vì sau khi chết con người khó tránh khỏi bàng hoàng không có nơi nương tựa, gia thuộc bất luận bái sám, tụng Kinh, trì trú, đều là chỉ dẫn phương hướng cho người chết, nói cho họ biết nên “đi về đâu” (vãng sinh Tây Phương) để có thể thoát khổ được vui, còn vong linh thông thường đều tiếp nhận sự chỉ dẫn, bởi vì họ cũng không biết có thể đi về đâu. Nếu khi còn sống không có định kiến, sau khi chết đi cũng không có người chỉ dẫn phương pháp tu hành, hơn nữa nếu không phải là người đại thiện (sinh lên cõi trời), cũng không phải là người đại ác (đọa xuống địa ngục), thì người chết ấy thông thường tái sinh làm người ở nhân gian.

Hỏi: Thế giới Tây phương Cực Lạc dễ đi hay không? Có phải chỉ có người tu hành đến trình độ nhất định mới có thể vãng sinh không?

Đáp: Rất nhiều người cho rằng Phật quốc rất xa xôi, ngồi tên lửa cũng chẳng thể đến được, thực tế chỉ cần một niệm tương ứng là đến được rồi, cho nên Kinh Phật nói: “Khuất thân tý khoảnh đáo liên trì” Nghĩa là: chỉ cần lòng tin kiên định, khoảng cách giữa người và Phật độ, chỉ còn là thời gian của cái giơ tay và co tay là có thể đến được. Đó còn là chậm, thực tế một suy nghĩ tương ứng với Phật là có thể đến được rồi.

Hơn nữa, Phật giáo cho rằng các Tôn giáo đều có thiên đường của mình, tín đồ có lòng tin kiên định đều có thể vãng sinh vào Thiên quốc của Tôn giáo mình. Nhìn từ góc độ này, đối với người lâm chung mà nói, có hay không có tín ngưỡng Tôn giáo, thì sự khác biệt là rất lớn.

(Trích lục từ “Hoan hỷ nhìn sinh tử”)

Việc lớn cuối cùng trong đời

Cái chết của con người có hai trường hợp, một loại là chết già, một loại là chết do ngoài ý muốn. Nói chung cho rằng chết già là khi già nua, nằm trên giường chết một cách tự nhiên, hoặc mắc bệnh nằm trong bệnh viện, sau đó sắc thân suy thoái dần, cho đến khi sức sống suy kiệt. Thực tế người trẻ tuổi nếu có thể biết trước thời gian của cái chết, ví dụ mắc bệnh ung thư, đã chuẩn bị tinh thần đối mặt với cái chết, bắt đầu niệm Phật, đó cũng là chết già.

Chết do ngoài ý muốn là chết bất thình lình mà mọi người thường nói, ví dụ như tai nạn xe cộ, thiên tai mà thời gian phát sinh thông thường rất ngắn, có thể không kịp niệm Phật, hoặc hoàn toàn không biết cần niệm Phật, điều này cần dựa vào việc chuẩn bị đối diện với cái chết lúc bình thường.

Nếu bình thường không chuẩn bị, đột nhiên chết đi, người thân, quyến thuộc cần phải làm Phật sự cho người đó, làm siêu độ và bố thí. Giả dụ gia quyến cũng không có tu hành, thì có thể mời đoàn trợ niệm đến giúp đỡ.

Nếu trong gia đình người thân của quý vị có người qua đời, mà bên cạnh quý vị lúc đó lại không có các cư sĩ Liên Hữu của đoàn trợ niệm để giúp đỡ, với tiền đề là người nhà của người vãng sinh có thể chấp nhận, quý vị có thể an ủi họ trước tiên, hỗ trợ xử lý hậu sự. Trong gia đình có người đột nhiên vãng sinh, nhất định sẽ rất bối rối, quý vị có thể hỏi họ xem có cần niệm Phật không, nói cho họ biết: “Tôi tín ngưỡng Phật giáo, vào thời điểm này niệm Phật đối với người vãng sinh là rất có tác dụng, tâm lý của người ấy sẽ được bình an. Nếu quý vị cùng tôi niệm Phật, quý vị cũng sẽ bình an, và cũng sẽ ảnh hưởng đến người vãng sinh, mà khiến họ được vãng sinh một cách bình an”.

Quá trình vãng sinh

Bất luận là chết già hay chết đột ngột đều không phải cái chết tức thời, mà vẫn còn có một chút thần thức, sau đó dần dần tiêu tan, cho đến khi không còn cảm giác.

Quá trình tiêu tan là tứ đại và ngũ uẩn phối hợp với nhau dần dần ly tán, tứ đại là địa, thủy, hỏa, phong trong cơ thể, thứ tự ly tán được phân thành địa đại, thủy đại, hỏa đại và cuối cùng là phong đại.

Khi địa đại ly tán, hơi thở cuối cùng sẽ dứt, cơ thể bắt đầu không nghe theo mệnh lệnh, dần dần cứng đờ, sau đó đau nhức đến tột cùng, đau đến cuối cùng đến cảm giác đau cũng không còn nữa, giống như “rùa sống thoát vỏ”. Thiết tưởng lột vỏ của một con rùa còn sống, thì còn đau khổ hơn là lột da đến mấy trăm lần. Sau khi hết đau, cơ thể bắt đầu cảm thấy nặng trĩu, giống như trăm nghìn vạn hòn đá hay hòn núi đè lên người vậy. Đó là vì địa đại bắt đầu ly tán, cũng chính là lúc chức năng của sắc uẩn dần dần tiêu tan.

Tiếp theo là thủy đại. Khi thủy đại ly tán, cảm giác của thọ uẩn vô cùng mạnh mẽ, cảm giác về trọng lượng cơ thể vẫn còn, miệng vẫn có cảm giác vô cùng khát, bình thường gọi là thoát nước, cũng chính là phần nước trong cơ thể bắt đầu đông lại, huyết dịch đã không còn chảy nữa, cho dù rất khát cũng không thể uống nước. Lúc này miệng bắt đầu đen, sắc mặt trở lên trắng bệch, bởi vì huyết dịch dần dần đông lại.

Sau đó là hỏa đại. Khi hỏa đại ly tán, cơ thể giống như vào trong miệng núi lửa, đầu tiên là nóng, đột nhiên lại trở nên lạnh. Bởi vì nhiệt lượng, nhiệt năng của cơ thể cuối cùng đều tập trung vào đầu chúng ta, cơ thể đã không còn hỏa, cảm giác vô cùng lạnh. Lúc này tướng uẩn cũng bắt đầu dần tiêu tan, tư tưởng và sự ghi nhớ trong đầu óc dần dần trở lên mơ hồ, không còn biết điều gì nữa, đó là hỏa đại ly tán.

Cuối cùng là phong đại. Khi phong đại ly tán, hơi thở nhỏ dần dần và không còn nữa, hơi thở mà bình thường chúng ta cần phải hít vào thở ra đều đặn, nhưng khi phong đại thì là lúc ly tán, dần dần chỉ còn lại thở ra mà không còn sức để hít khí vào, càng hít thì khí càng không vào, giống như bánh xe bị trọc một lỗ thủng và trên bề mặt ép nghìn cân gạch đá, khí chỉ có thể ra mà không thể vào. Tuy lúc này rất muốn hít khí, nhưng không có khí, cuối cùng đến một chút khí cũng đều không còn, thì là lúc ngừng thở đi vào cái chết, đó là phong đại ly tán.

Khi phong đại ly tán sự chấp chước “cơ thể là của tôi” vẫn còn, nhưng đã không thể điều khiển cơ thể nữa, trong giai đoạn này, quý vị chỉ có thể chấp chước, trong đầu đã không còn bất kỳ thứ gì nữa, chỉ là một đống hỗn độn, bởi vì tưởng uẩn, cho nên những ghi nhớ trong đầu đã không còn nữa, chỉ còn lại thức uẩn cuối cùng. Thức uẩn chính là sự tồn tại của một sự hồ đồ.

Sức quyết định của vãng sinh

Phật giáo cho rằng sau khi con người qua đời, là dựa vào 4 loại nguyên tắc để quyết định nơi đến của người ấy. Một là tùy trọng vãng sinh, là tùy theo các nghiệp thiện ác lớn nhất khi người đó còn sống đã làm, đi thọ báo trước. Hai là tùy tập vãng sinh, là tùy theo thói quen khó bỏ trong đời sống hàng ngày của người đó mà đến đầu thai vào môi trường tương dẫn cùng loại. Ba là tùy niệm vãng sinh, là tùy theo tâm nguyện muốn đi đến đâu khi lâm chung, thiện niệm sẽ chuyển sinh vào nhân gian, trên trời, còn ác niệm thì chuyển sinh vào trong ba đường ác. Bốn là tùy nguyện vãng sinh, phát nguyện học Phật thì vãng sinh Phật quốc tịnh độ, hoặc chuyển sinh vào nhân gian để tiếp tục tu hành.

Người tu hành học Phật biết cần phát nguyện có thể tùy nguyện vãng sinh, người không học Phật nói chung không biết phát nguyện thì sẽ tùy trọng nghiệp mà vãng sinh. Nghiệp có nghiệp nặng và nghiệp nhẹ, tùy trọng là lấy nghiệp nặng làm ưu tiên vãng sinh hàng đầu, nếu trên trời nghiệp nặng, thì sẽ sinh lên cõi trời, nếu nghiệp địa ngục đặc biệt nặng, thì sẽ đọa xuống địa ngục. Trong Kinh Phật nói, đọa xuống địa ngục nhanh như tên bắn, một khi ngừng thở liền vào địa ngục, đến giai đoạn thân trung ấm cũng không có, đó là nghiệp nặng của thập ác ngũ nghịch.

Thực ra vãng sinh thế giới Tây phương Cực Lạc cũng là nghiệp nặng, khi lâm chung có thể nhìn thấy một vầng hào quang màu vàng, đó là ánh sáng vô lượng. Trong ánh sáng có Phật, Bồ Tát, tay cầm kim đài đến tiếp dẫn, quý vị thản nhiên bước lên đài sen, rất nhanh có thể đến được thế giới Cực Lạc. Có người trước khi ngừng thở có thể nhìn thấy các tướng đẹp ánh sáng của Phật và Bồ Tát, thậm chí cũng có một số trường hợp đến người nhà cũng có thể nhìn thấy.

Mười ba năm trước ở Đài Bắc có một vị y sĩ họ Ngô, cha ông ta là y sĩ cung đình của thời Thanh, một đời chuyên niệm Phật. Khi cha ông vãng sinh, cả nhà vây quanh giường niệm Phật, khi vãng sinh vô cùng an tường. Khi đó ông ta nhìn thấy trên tường trong phòng cha mình phóng ra ánh sáng, cả phòng sáng rực, sau đó trên tường xuất hiện hình tượng của Phật và Bồ Tát, hơn nữa rất chân thật, không phải là vẽ ra, mọi người tại hiện trường đều quỳ hết xuống.

Khi lâm chung, nếu nguyện lực rất mạnh thì tâm niệm sẽ tương ứng với nguyện lực, nếu nguyệp lực rất mạnh, thì tâm niệm sẽ tương ứng với nghiệp lực, đó là tùy nguyện và tùy trọng.

Tùy niệm, tùy tập vãng sinh

Nếu không có trọng nghiệp và cũng không có phát nguyện thì sẽ tùy niệm vãng sinh. Người học Phật chúng ta tuy biết cần phát nguyện, hơn nữa trước khi vãng sinh đã phát nguyện, nhưng nếu bình thường không thiết tha, không hình thành thói quen, chỉ khi tham gia Phật thất hoặc cộng tu mới niệm theo mọi người, thì hoàn toàn không hiểu được phát nguyện là gì, đó chỉ là trồng thiện căn. Khi lâm chung rất dễ quên mất, và nguyện lực không tương ứng, có thể đến thời gian và cơ hội niệm Phật cũng không còn, tới khi đó thì tùy vào suy nghĩ khi sắp lâm chung mà vãng sinh.

Khi lâm chung, nếu lòng tham vô cùng mạnh mẽ, đầu tiên có thể sẽ sinh vào đường súc sinh, rồi đến đường ngã quỷ, nếu lòng sân hận rất mạnh thì trước tiên có thể là đường súc sinh, sau đó là đường địa ngục. Bởi thế, những ý nghĩ khi vãng sinh là vô cùng quan trọng.

Những ý nghĩ khi lâm chung có thể có liên quan đến thói quen của quý vị, lúc đó sẽ tùy tập vãng sinh. Tập tức là thói quen thường ngày, khi chết đi sẽ sinh ra sức mạnh rất lớn, vô cùng đáng sợ.

Cho nên bình thường chúng ta cần dưỡng thành thói quen niệm A Di Đà Phật, một khi phiền não xuất hiện liền niệm A Di Đà Phật, luôn luôn duy trì chính niệm của bản thân. Vọng niệm, tà niệm, ác niệm xuất hiện, cần phải xấu hổ, sám hối, niệm A Di Đà Phật, không ngừng cải thiện bản thân, như thể khi giao tiếp với người tự nhiên sẽ sinh khởi lòng từ bi, và coi tất cả mọi người đều là Bồ Tát, đối đãi với lòng cảm ơn và cảm tạ. Ngoài ra, còn cần luôn nghĩ đến tứ phước: tri phước, quý trọng phước, bồi dưỡng phước, trồng phước, và còn tứ yếu: cần dùng không nhiều, mong muốn rất nhiều, cần thiết và nên dùng cần thì mới có thể mong muốn, không thể mong và không nên mong thì tuyệt đối không được mong. Nếu không khi lâm chung, mà vẫn còn suy nghĩ những thứ này thứ kia, thì là điều không nên, những thứ không được cần mà vẫn cần thì hoàn toàn không thể khởi tâm niệm Phật.

Có người thấy con trai, con dâu không hiếu thuận, không thể bỏ tiền cho chúng, nên khóa tiền trong két sắt, khi lâm chung còn nắm chắc chìa khóa của két sắt trong tay. Lúc này đến cơ thể đã không thể dùng, thì cần cái thứ kia để làm gì? Đó là bởi khi sống dưỡng thành thói quen làm nô tài tiền bạc, cho nên khi chết không thể buông bỏ.

Khi còn sống nuôi dưỡng thành nhiều thói quen thì khi lâm chung sẽ vô cùng phiền phức, cho nên, chúng ta cần cảnh tỉnh kiểm điểm lại thói quen của chính mình vào mọi lúc, cố gắng chuyển biến nó thành tâm niệm Phật, tâm từ bi, tâm bố thí, tâm kết nhân duyên và tâm không sinh phiền não, hơn nữa luôn cần có tâm sám hối và hổ thẹn. Một khi dưỡng thành thói quen như vậy, khi lâm chung tự nhiên sẽ sinh khởi tâm từ bi, tâm sám hối, cho dù có xuất hiện suy nghĩ sân hận hoặc tham muốn thì cũng sẽ niệm một câu A Di Đà Phật. Lúc đó cho dù đã sắp đến địa ngục hoặc đã bước vào trong địa ngục, nếu vẫn còn đề khởi một câu danh hiệu Phật, thì lập tức có thể rời khỏi địa ngục. Niệm Phật chính là sám hối, chỉ cần xấu hổ, sám hối, nhất định rời khỏi ba đường ác, cũng có nghĩa là sẽ không ở trong ba đường ác, bởi thế chúng ta bình thường cần bỏ ra công phu tu hành là vô cùng quan trọng.

Trước kia có một ông lão làm công quả trong chùa Nông Thiền, sau đó bởi vì cơ thể không được tốt, kiên quyết rời ra ngoài. Tuy rời ra ngoài, nhưng vẫn thường trở lại làm công quả. Trong tâm ông lão này chỉ có Phật, khi đó có người khuyên: “Ông là người Trung Quốc, nên đi Trung Quốc chơi thăm quan một chuyến.” Ông nói: “A Di Đà Phật! Tôi muốn đến thế giới Tây Phương Cực Lạc, đi Trung Quốc không thể giúp tôi đi Tây Phương, thì đi có tác dụng gì? Tôi đã đem toàn bộ tiền bạc làm công đức rồi”.

Có một hôm, có người thông báo cho chúng tôi rằng ông ta ngã trên đường và đã vãng sinh, trước mắt hiện được đưa vào nhà tang lễ, không có cơ hội thuyết Pháp cho ông ta, nhưng người giống như ông ta đảm bảo được vãng sinh Tây Phương. Bởi vì khi còn sống ông ta tin tưởng tha thiết là có thể đến Tây Phương, muốn đi đến Tây Phương, tùy nguyện và tùy tập đương nhiên là đi Tây Phương rồi. Hơn nữa hậu sự của ông ta do chúng tôi thay thế niệm Phật, làm công đức, nhất định có thể đi đến Tây Phương cực lạc, không cần phải lo lắng rằng ông ta sẽ bị đọa lạc.

Khi vãng sinh qua trọng là cần duy trì chính niệm.

Sau khi hiểu rõ quá trình của cái chết và sức dẫn của vãng sinh, có thể biết rằng khi chết cái quan trọng nhất là chính niệm rõ ràng. Tuy có nhiều đau khổ, hơn nữa bởi vì không thể hít thở, đầu óc thiếu khí oxy, thần kinh trong bộ não, tế bào não cũng bị tuyên bố tử vong, trong đầu không còn suy nghĩ gì nữa, lúc này duy nhất có thể nương tựa đó chính là niệm lực và nguyện lực.

Đừng quá lo lắng, đừng quá sợ hãi, cũng đừng quá lưu luyến con cháu, tiền bạc cổ phiếu, nhà cửa tài sản, nếu không thể buông bỏ mọi thứ thì cũng sẽ không thể buông bỏ được thân thể. Khi chết còn nói: “Tôi không cam tâm! Tôi không muốn chết sớm như vậy, tuy đã sống đến 90 tuổi, nhưng có người sống đến 100 tuổi, vì sao tôi không thể sống đến 100 tuổi chứ?” Đó là những suy nghĩ tôi không cam nguyện, tôi không mốn chết và tôi muốn sống thêm một chút, khiến cho tâm nguyện vãng sinh Tây phương không thể phát ra và chính niệm cũng không thể gợi lên được, vậy thì sẽ Tùy trọng hoặc Tùy niệm, Tùy tập mà vãng sinh.

Nếu trong quá trình vãng sinh có thể duy trì “chiếu kiến ngũ uẩn giai không”, cảm thấy cơ thể ngũ uẩn hòa hợp đều là không, bất luận xuất hiện cảm giác gì cũng đều không để ý đến nó, dù sao thì cái chết nó là như vậy, cần giống như tôi thường nói: Đối diện với nó, tiếp nhận nó, xử lý nó và buông bỏ nó. Nếu có thể dùng thái độ ấy thì đó chính là trí tuệ Bát nhã.

Thế giới sau khi vãng sinh

Thế giới sau khi vãng sinh rốt cục như thế nào?

Có một đôi vợ chồng vô cùng yêu thương nhau, ngày nào cũng đều “thề non hẹn biển”. Một hôm, người vợ đột nhiên mắc bệnh qua đời, người chồng vô cùng buồn bã, đêm ngày thương nhớ lại mơ không thấy vợ của mình, thế là đi khắp nơi để hỏi, cuối cùng gặp một vị cao tăng có thần thông, vị cao tăng ấy khuyên ông ta: “Người đã chết rồi, bà ấy có thế giới riêng, ông có thế giới riêng, đừng nhớ đến bà ấy làm gì, tốt nhất chăm chỉ niệm Phật tu hành!” Người chồng không chịu, cố yêu cầu vị cao tăng giúp đỡ, vị cao tăng không có cách nào khác, chỉ nói với ông ta rằng: “Nếu đã như vậy, thì tôi sẽ đưa ông đến một nơi”.

Vị cao tăng đưa ông ta đến ngoại ô, chỉ vào bãi phân trâu bên đường nói: “Ông nhìn thấy hai con côn trùng trong bãi phân này không? Một trong hai con đó là vợ ông”. Chỉ thấy hai con côn trùng một trước một sau, nối tiếp nhau, giống như rất vui vẻ với mùi vị ấy mà bay đi bay lại. Ông ta vui mừng nói: “Vậy thì tôi cũng muốn trở thành côn trùng”. Thế là vị cao tăng liền tạm thời biến ông ta thành một con côn trùng.

Sau khi người chồng biến thành côn trùng, cũng bay vào trong bãi phân, nhưng người vợ không những không nhận ra ông ta mà còn tìm một con côn trùng khác hợp lực đánh ông ta, muốn đuổi ông ta đi. Người chồng liền nói: “Tôi là chồng của cô, cô nói sẽ vĩnh viễn yêu tôi, cho nên tôi đến đây”. Người vợ nói: “Tôi chẳng quen gì ông, tôi và chồng tôi rất đỗi yêu thương nhau, không được nói bừa”. Hai con côn trùng lại hợp lực tấn công ông ta. Cao tăng liền cứu ông ta, đợi khi ông ta hoàn hồn biến trở lại thành người, mới hỏi ông ta: “Ông còn muốn đi không?” Ông ta nói: “Sẽ không bao giờ đi nữa, cô ta mới chết chưa được bao lâu đã không nhận ra tôi rồi, thật là bạc tình bạc nghĩa”.

Trên thế gian này có rất nhiều người ngu si như vậy, đời này sống với nhau thì hy vọng kiếp sau, đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn sống bên nhau, đó là chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng dân gian. Tín ngưỡng dân gian cho rằng con người sau khi chết có thể đoàn tụ, ví dụ người cùng một gia tộc, sau khi chết đều được an táng tại cùng một khu vực, cứ thế các thế hệ và cả gia tộc đều sẽ được đoàn tụ. Nhưng Phật giáo cho rằng, mỗi người có một nhân duyên khác nhau, mỗi người có một quả báo khác nhau, sau khi con người chết đi, nếu có đại phước đức, đại thiện căn thì rất nhanh sẽ sinh lên cõi trời hoặc chuyển sinh vào cõi người, nếu người có nghiệp cực nặng, ví dụ phạm tội thập ác ngũ nghịch, sau khi chết rất nhanh sẽ đọa vào đường ngã quỷ, địa ngục. Nếu vừa có ác nghiệp cũng vừa có thiện nghiệp, thì cần xem nhân duyên gì, loại nào chin muồi trước thì sẽ chuyển sinh vào loại đó.

Giai đoạn thân trung ấm

Giai đoạn từ sau khi chết và trước khi chuyển sinh, cũng có nghĩa là đang đợi nhân duyên, được gọi là thân trung ấm. Giai đoạn thân trung ấm trong vòng 49 ngày, nếu không đầu thai thì sẽ ở đường quỷ. Trong đường quỷ có phước báo thì gần với Thần, tự do hơn, thậm chí trở thành Thần Thánh tại địa phương mang tính chất khu vực, ví dụ Thần Thổ Địa, Thành Hoàng Gia. Không có phước báo thì lấy khí làm thân, chỉ có thể dựa vào cây cỏ, ở đó chờ đợi, ở đó ẩn núp, không có hình thái nhất định. Con người nếu ai có nhân duyên tốt ở nhân gian mới có thể nhìn thấy họ, cho dù là người thân của mình cũng vậy, còn chúng sinh trong đường quỷ muốn chuyển sinh thì bắt buộc phải chờ đợi nhân duyên chín muồi.

Người có thiện căn sâu dày có thể chuyển sinh thành người, thiện căn không nhiều thì có thể biến thành súc sinh, khi chuyển sinh không hề biết sẽ đi vào đường súc sinh, nhưng khi biến thành súc sinh thì lại đã quên bản thân mình là gì, cho nên giai đoạn thân trung ấm cần phải siêu độ. Siêu độ đích thực rất có công hiệu, họ đến nghe danh hiệu Phật, có thể tùy niệm mà cũng có thể chỉ cần nghe, chỉ cần nghe thôi, đối với họ cũng đã rất có tác dụng. Ví dụ tôi hiện tại đang khai thị, quý vị chăm chú nghe, do bởi tâm quý vị đang nghe, những người có duyên với quý vị như tổ tiên, người thân bạn bè đã qua đời hoặc oán gia trái chủ, cũng vì có quan hệ với quý vị mà có được sức mạnh. Còn nội dung bài nói chuyện, người có thiện căn sâu dày có thể nghe hiểu, còn người thiện căn không sâu tuy nghe không hiểu, nhưng do quan hệ giữa quý vị và họ, thì vẫn có thể có được sực mạnh vậy. Cho dù có người chỉ viết bài vị, không đến niệm Phật, nhưng do họ thành kính, có tâm bố thí, tâm cúng dường, thì cũng có tác dụng giống nhau.

Cho dù đã chuyển sinh sang một thế giới khác thì việc siêu độ cũng có tác dụng. Người đã chuyển sinh có thể gia tăng phước đức, sức khỏe và thiện duyên của họ, người đã vãng sinh thế giới Tây phương Cực Lạc thì sức mạnh của hoa sen sẽ có thể mạnh hơn một chút, cũng có thể sớm gặp được Phật, người đã sinh thiên thì thiên phước cũng sẽ dài hơn và lớn thêm. Còn người đã đọa xuống địa ngục thì muốn siêu độ là rất khó, đến Tôn giả Mục Liên là A La Hán có thần thông hàng đầu mà muốn cứu mẹ mình còn khó, huống hồ là người bình thường chúng ta. Nhưng căn cứ theo “Kinh Vu Lan Bồn”, nếu cúng dường lớn, bố thí lớn, đặc biệt là cúng dàng chúng Tăng, cúng dàng Tam bảo, cộng thêm tự mình đại tu hành, thì vẫn còn có một chút lợi ích.

Chuẩn bị trước khi vãng sinh

Nhưng tốt nhất vẫn là khi còn sống tự mình tu hành vì sau khi chết đợi người khác siêu độ cho mình thì cơ hội rất xa xăm và cũng rất không đáng tin cậy. Thứ nhất sinh tử rốt cục hai bên ngăn cách, người thân làm công đức cho quý vị nhưng không dễ kết hợp với tâm của quý vị thì sức mạnh cũng chỉ có hạn. Thứ hai con cháu và người thân của quý vị cũng chưa chắc đã biết siêu độ cho quý vị, bởi vì người thân vãng sinh, là lúc mọi người đang bối rối, rất dễ tùy theo tập tục cúng mấy bát rau, đốt tiền vàng để thể hiện tâm ý.

Chúng ta không chỉ cần tự mình niệm Phật mà còn khuyên người khác cùng tu hành, đặc biệt là cha mẹ, có như thế khi vãng sinh, nội tâm mới tương ứng với Phật, nếu cộng thêm người thân cùng niệm thì nhất định có thể tương ứng với Phật, và vãng sinh về thế giới Tây Phương Cực Lạc. Khuyên cha mẹ niệm Phật là hiếu thuận nhất cũng là điều tốt nhất, là món quà cung kính nhất, điều đó còn hơn từ sáng đến tối đều hỏi thăm hoặc còn tốt hơn nhiều là cho cha mẹ ăn sơn hào hải vị, bởi vì niệm Phật là việc lâu dài.

Cho nên, quý vị tham gia niệm Phật cộng tu, bất luận là cả ngày niệm hoặc chỉ niệm trong vòng một nén hương, tức là trong một nén hương niệm theo mọi người dù chỉ niệm vài câu danh hiệu Phật, đều có vô lượng công đức. Song vẫn còn cần cố gắng nghĩ cách niệm nhiều hơn, đừng lãng phí một giây phút nào, chuyên tâm nhất ý niệm Phật, dưỡng thành thói quen, sau đó tự nhiên sẽ niệm Phật vào bất kỳ thời gian nào. Khi lâm chung, bất luận là trong tình huống chết như thế nào, tâm của quý vị đều sẽ khởi sinh được danh hiệu Phật, và sẽ tương ứng với Phật, đảm bảo có thể đến Tây Phương Phật quốc.

Ở Ấn Độ có một vị Thánh Hùng Cam Địa, ông ta bị ám sát và tử vong, khi bị giết, ông ta niệm hai tiếng tên Thần linh tối cao mà mình tín ngưỡng, đó chính là thể hiện lòng tín ngưỡng. Ông ta thành khẩn cung kính như vậy, bình thường đã hợp làm một với tín ngưỡng của chính mình, tương ứng từng giờ từng phút, cho nên cái chết ở thời điểm nào đối với ông ta mà nói đều giống nhau cả.

Phật thất là thời gian tốt nhất để dưỡng thành thói quen niệm Phật, nhưng không nên khi kết thúc Phật thất thì không niệm nữa, quả thực nếu được như vậy thì càng không cần nói đến khi lâm chung. Cho nên, quý vị cần phải nhắc nhở bản thân niệm Phật mọi lúc, niệm Phật mọi nơi, niệm niệm không ngừng, bất luận là miệng niệm hay không niệm, trong tâm không được quên danh hiệu Phật. Bất luận vào thời gian nào hay phát sinh tình huống ra sao, một khi mở miệng là một câu danh hiệu Phật, đó là điều đảm bảo nhất, nếu không phải chết thì có thể gặp hung hóa cát, nếu thọ mệnh đã tận, thì cũng sẽ vãng sinh thế giới Tây phương Cực Lạc.

Có những người rất kỳ, nghe nói niệm A Di Đà Phật rất tốt, liền chạy đến niệm A Di Đà Phật, ngày mai nghe nói niệm Địa Tạng Bồ Tát có lợi ích thì lại đi niệm Địa Tạng Bồ Tát, ngày kia nghe nói niệm Dược Sư Phật mới có thể trị bệnh, liền đi niệm Dược Sư Phật, sau đó nghe nói có vị Lạt Ma, Phật sống tới, họ có Pháp gì, có trú gì, sau khi niệm sẽ ra sao, kết quả lại chạy đi tu hành Pháp đó. Như thế sẽ làm cho bản thân mình phức tạp, đối với bất kỳ một Pháp môn nào cũng đều không thành thục, khi lâm chung không biết phải niệm gì. Lúc thì muốn niệm Dược Sư Phật cầu thọ, lúc lại muốn niệm A Di Đà Phật để cầu Phật tiếp dẫn, lúc lại lo lắng sau khi chết đọa vào địa ngục, lại muốn niệm Địa Tạng Bồ Tát, cuối cùng có thể một câu cũng không niệm ra nổi. Cần phải dưỡng thành thói quen mọi lúc mọi nơi đều có thể mở miệng là nói ra câu “A Di Đà Phật”.

(Trích lục từ “Hòa thượng Thánh Nghiêm dạy Pháp môn tịnh độ”)

Đi về sinh tử

Không chờ chết, không sợ chết như thế nào.

Hỏi: Có nhiều người vì không kịp dặn dò kỹ lưỡng con cháu giúp mình làm hậu sự trước khi vãng sinh, khiến cho người thân xử lý lễ tang bi thương, ngoài ra còn nghĩ cách tránh người bên ngoài nói này nói kia hoặc cầu tâm an, thì chọn phương pháp cầu Thần bói quẻ. Rốt cuộc có những vấn đề gì mà chúng ta cần chuẩn bị trước khi còn sống thì mới có thể tránh được những phát sinh không vui vẻ?

Đáp: Hiểu rõ cái chết thì không sợ chết. Cần phải làm được rằng không đợi chết, không sợ chết, với tiền đề là cần nhận thức chính xác cái chết, và chuẩn bị tốt cho cái chết mọi lúc. Cuộc đời của chúng ta phải đối diện với cái chết, cái chết đã đến chúng ta chạy cũng không thoát, chỉ có điều có người sớm chết hơn một chút, có người chết muộn hơn một chút.

Nên hoàn thành sớm những việc cần làm, hoặc một năm viết một lần di trúc, dặn dò rõ ràng về phương thức xử lý tài sài, tang lễ và di nguyện .v.v. để người thân được biết, mới không để lại một đống câu hỏi cho người còn sống sau khi mình đã qua đời sẽ giảm phiền phức cho người thân.

Chuẩn bị cho cái chết tức là chuẩn bị kết thúc hành trình đoạn đường của đời này, triển khai một đoạn hành trình tiếp theo. Nếu có thể bình an rời khỏi hành trình của giai đoạn này, thì có thể an nhiên đến được giai đoạn sau, điều đó là tốt nhất.

Làm thế nào để giúp người thân lâm chung

Hỏi: Cố gắng an ủi lý giải tâm linh và Phật pháp, song đối diện với đau thương khi người thân vãng sinh khiến người ta khó có thể chịu đựng được, mà luôn hy vọng có thể cố gắng giúp đỡ người thân vãng sinh, giúp cho họ “thượng lộ bình an”. Là người thân quyến thuộc nên phải làm thế nào để đối diện với việc này mới là chính xác?

Đáp: Khi đối diện với người thân vãng sinh, có thể duy trì tinh thần bình tĩnh là việc rất khó, nhất định sẽ đau thương khóc lóc, đó là điều dễ hiểu, khó tránh khỏi. Tình thân khó quên, làm được không đau buồn rơi nước mắt thật sự là điều không dễ, song hy vọng khi khóc có thể nhẫn nại một chút, khóc thầm, đừng khóc lóc thảm thiết.

Ngoài ra, tốt nhất là lập tức quán tưởng có Phật A Di Đà đến tiếp dẫn người vãng sinh, nếu có thể nghĩ như vậy, nỗi đau trong lòng sẽ nhẹ hơn nhiều, bởi vì nếu đã có Phật A Di Đà đến tiếp dẫn người nhà của quý vị thì trong lòng sẽ cảm thấy rất yên tâm.

Khi người nhà còn đang hấp hối, tôt nhất nhắc nhở người ấy đừng quan tâm đến bất kỳ ảo cảnh nào, chỉ cần Phật A Di Đà đến tiếp dẫn. Một mặt có thể an ủi người sắp vãng sinh, một mặt cầu Phật tiếp dẫn người ấy, sức mạnh này rất có tác dụng, hơn nữa cũng rất quan trọng.

Hỏi: Khi người thân sắp vãng sinh, trên tinh thần chúng ta cầu Phật, quán tưởng Phật đến tiếp dẫn người ấy, trên thực tế cơ thể xê dịch như thế nào mới tốt?

Đáp: Cái chết thực sự là: thọ (sinh mệnh), noãn (hơi ấm của cơ thể), thức (tâm thức) 3 cái toàn bộ rời khỏi cơ thể. Có người vãng sinh có thể thọ mệnh không còn nữa, hơi ấm cũng không còn nữa, nhưng vẫn còn chấp chước vào cơ thể, không muốn người khác đụng vào họ. Còn nữa, khi hơi ấm còn, cảm giác thần kinh của người vãng sinh có thể vẫn còn, vẫn còn cảm thấy đau đớn hoặc không thoải mái, nếu đụng chạm vào cơ thể sẽ khiến họ sản sinh lòng sân hận.

Bởi thế, nguyên nhân không được đụng chạm vào cơ thể người vãng sinh, chính là vì không muốn khiến cho họ sản sinh tâm sân hận, không vui, không thoải mái, phẫn nộ, thông thường cần trải qua 8 tiếng đồng hồ, sau đó mới được di rời cơ thể của họ.

Không lo sợ cái chết

Hỏi: Truyền thống của người Hoa luôn hy vọng người lâm chung có thể kết thúc hơi thở cuối cùng tại nhà riêng, suy nghĩ này có đúng hay không?

Đáp: Trên truyền thống, người Hoa đều hy vọng vãng sinh tại nhà riêng, rốt cuộc có ý nghĩa gì? Thực tế đó là quan niệm của thế tục, luôn cảm thấy con người khi chết ở trong nhà là tốt hơn, Phật giáo không nhấn mạnh suy nghĩ này.

Trên thực tế, hiện tại nhiều nước Âu Mỹ, thậm chí Đài Loan hiện nay, đại đa số vãng sinh ở bệnh viện, từ bệnh viện đưa trực tiếp đến nhà an táng, sau đó đưa vào lò thiêu để hỏa táng, không nhất định phải về nhà.

Có người sau khi chết lập tức rời đi, như những người nghiệp lực đặc biệt nặng lập tức xuống địa ngục, người có phước báo hoặc tu hành đặc biệt thâm dày thì lập tức sinh lên cõi trời hoặc sinh về Phật quốc. Cho nên, có chờ về đến nhà để kết thúc hơi thở cuối cùng hay không là điều không quan trọng.

Hỏi: Từ thiên cổ trở lại cho đến nay, cái chết đối với sinh mệnh con người không hề nhẹ và luôn là một câu hỏi khó. Kim tự tháp Ai Cập, Trung Quốc thời Tần có Binh Mã Dũng (đội quân đất nung) đều do đế vương cổ đại hao phí thời gian hàng chục năm, chuẩn bị rất tinh tế việc hậu sự cho mình với một cái lăng mộ thật rộng lớn và chôn cất các bảo vật, muốn hỏi: “Loài người vì sao lại sợ chết vậy?”

Đáp: Mọi người sợ hãi cái chết là bởi vì không biết sau khi chết đi “mình” còn tồn tại hay không. Nếu có thể biết được sau khi chết bản thân có nơi đi về, hơn nữa nơi đi về ấy có thể sẽ tốt đẹp hơn hiện tại, thì sao lại sợ chết? Hoặc là sau khi chết có một hiện tượng cuộc sống khác đang đợi chúng ta ra đời, thì sao lại phải sợ chết?

Cuộc đời giống như một giai đoạn lữ hành, giống như tôi đi du lịch từ Đài Bắc đến nước Mỹ, tôi ở nhà tại Đài Bắc thì bộ dạng như thế này, sau khi đến nước Mỹ lại trở lên khác đi. Nếu chúng ta coi cái chết như sự kết thúc của một giai đoạn, thì sau đó sẽ lại tiếp tục đi đến nơi khác để du lịch, hơn nữa là nơi mà bản thân chúng ta mong muốn, hy vọng được đi đến, nếu có thể nghĩ như vậy thì cái chết chẳng có chút gì là đáng sợ cả.

Đặc biệt là người có tín ngưỡng Tôn giáo, cái chết là để đạt thành tâm nguyện của bản thân, nguyện đến Phật quốc tịnh độ. Nếu đã đến được Phật quốc tịnh độ, thì nơi đó tốt hơn thế giới này rất nhiều, sao lại phải sợ cái chết? Nếu bởi nguyện lực mà sinh ở nhân gian để độ chúng sinh, hơn nữa cần đến nơi nghèo khổ nhất, tai nạn nhiều nhất, để giúp đỡ những người nghèo khổ, khó khăn, cùng quẫn và không có người quan tâm chăm sóc, thừa nguyện mà cứu tế chúng sinh, tuy cuộc sống rất vất vả thì cũng cam tâm như ban đầu. toàn bộ mọi việc còn phải xem tâm chúng ta nghĩ như thế nào? Nếu đi về nơi bản thân muốn đi thì chẳng còn gì đáng để lo sợ nữa cả.

(Trích lục từ “Sinh tử đều tự tại – Hòa thượng Thánh Nghiêm nói chuyện về trí tuệ của cuộc sống”)

Việc hậu sự phải làm thế nào?

Hỏi: Trong truyền thống người Hoa có những kiêng kỵ đối với “tử tướng”, ví dụ cho rằng già chết là tốt, chết do tai nạn là không tốt. Sự phân biệt này có ý nghĩa gì không?

Đáp: “Chết thảm” khiến người ta cảm thấy đáng sợ, “chết già” thì là điều mà mọi người đều hy vọng. Trên thực tế, chết là chết, bản chất hoàn toàn giống nhau, chẳng có phân biệt thiện chung (lâm chung) tốt hơn hay hung tử (chết do tai họa) không tốt.

Hoặc chúng ta cảm thấy hung tử rất thảm, nhưng có những cái chết dữ đến rất nhanh, sự đau đớn lại rất ngắn, có những cái chết thiện thì lại bệnh tật triền miên hàng mấy năm, không những làm mệt mỏi người nhà, mà bản than người bệnh còn rất đau khổ, tưởng trừng chết thiện là tốt, thực tế có phải đang chịu khổ hay không?

Tuy tín đồ Phật giáo hy vọng bản thân khi lâm chung được an nhiên tự tại, nhưng tín đồ Phật giáo nhìn cái chết là bình đẳng. Trong “Kinh Dược Sư” có nói đến “chín loại chết oan” như cái chết do tai nạn, cái chết do thiên tai hoặc cái chết hung hiểm .v.v., nhưng có những cái chết do thiên tai hay cái chết hung hiểm là vì cứu người, họ thị hiện Bồ Tát, chịu khổ thay cho chúng sinh, khiến cho người sau biết để cảnh tỉnh, và làm gương cho thế nhân sau này, đó cũng là một loại giáo dục, vì sao nhất định phải cho rằng họ chết một cách đáng thương? Bất luận là những người lâm nạn trong động đất ngày 21 tháng 09, sóng thần Nam Á hay là động đất lớn tại Văn Xuyên, tỉnh Tứ Xuyên, đều cần coi những người chịu khổ chịu nạn là “đại Bồ Tát”.

Chúc phúc cho người chết như thế nào

Hỏi: Tập tục làm lễ an tang của nhân gian, từ “7 ngày giỗ đầu” làm đến “bảy lần bảy”, thân trung ấm trong 49 ngày này đang chờ đợi thời của duyên và nghiệp lực. Trong 49 ngày quan trọng này, ngoại trừ chúc phúc cho người chết, người sống chúng ta còn có thể giúp đỡ được gì cho tương lai của người chết?

Đáp: Trong 49 ngày này tốt nhất là có thể giúp người chết làm các Phật sự như siêu độ, bố thí cùng dường và tụng Kinh, niệm Phật. Sau khi trải qua 49 ngày, người chết có thể đã đầu thai, công đức mà chúng ta giúp người ấy, hiệu quả vẫn còn, chỉ có điều không có tác dụng lớn như trong 49 ngày.

Đáng tiếc là đại đa số tín ngưỡng dân gian hiện nay của chúng ta làm cho người sống xem, đối với người vãng sinh chẳng có chút ý nghĩa gì. Ví dụ trong nhà có người vãng sinh, vẫn đang làm tang lễ, mọi người vẫn cứ ăn uống linh đình, thịt cá đầy bàn, sát sinh, lãng phí, điều này đối với người vãng sinh là một việc làm tổn phước, chứ không phải là trồng phước. Bởi thế, cần phải làm nhiều bố thí, lấy chi phí tang lễ tiết kiệm dùng để tài trợ hoạt động từ tiện, hoặc người nhà đi làm công quả, làm một số việc có ý nghĩa.

Đương nhiên, gia quyến của người chết tốt nhất là giúp người vãng sinh tiếp tục tụng Kinh, niệm Phật và lễ Phật, khiến cho người chết cảm ứng và cùng niệm, chí ít người chết sau khi nghe thấy có thể mở lòng hiểu rõ mà chuyển sinh vào đường tốt, chuyển sinh làm người hoặc lên cõi trời hoặc đến Tịnh Độ Phật quốc. Người nhà nên làm những việc đó cho người vãng sinh.

Hỏi: Trợ niệm cho người chết là chúc phúc người chết chuyển niệm siêu sinh, cũng khiến cho người sống yên tâm không còn vướng bận. Nhưng có một số người khi còn sống nếu làm nhiều nghiệp ác cực nặng, sau khi chết người nhà trợ niệm cho người đó còn có tác dụng không?

Đáp: Người tạo đại ác nghiệp một khi chết đi liền đọa xuống địa ngục, còn người tạo đại thiện nghiệp thì liền sinh lên cõi trời. Người tinh tấn học Phật, cũng có nghĩa là người tu hành Tịnh độ một cách sâu dày, sau khi chết liền được vãng sinh về tịnh độ Phật quốc.

Cho nên trước khi lâm chung, người nhà bạn bè cần phải bắt đầu trợ niệm, niệm danh hiệu Phật cho người vãng sinh. Bất luận niệm danh hiệu “A Di Đà Phật” hoặc “Quan Âm Bồ Tát” đều có thể giúp cho người chết đi về thế giới Tây Phương Cực Lạc một cách thuận lợi.

Người làm việc ác khi lâm chung càng cần phải có người khác trợ niệm, dụng ý của trợ niệm là giúp người vãng sinh chuyển niệm, chuyển niệm có thể giúp cho họ không vì nghiệp ác quá nặng mà đọa vào địa ngục. Cho nên, cho dù người tạo ác nghiệp, trợ niệm vẫn có thể giúp cho người vãng sinh có cơ hội chuyển biến. Cho dù thế nào, trong vòng 8 tiếng đồng hồ sau khi lâm chung, người nhà tiếp tục tụng niệm danh hiệu Phật, nhất định có thể an ủi người chết.

Còn con người hiện đại thường tự mình không niệm, hoặc mời người khác niệm hộ, hoặc mở đài phát âm danh hiệu Phật, những điều đó không có sức mạnh bằng người nhà đích thân trợ niệm.

Hỏi: Xin hỏi Hòa thượng, cái nhìn của Ngài đối với một số việc như dẫn dắt vong hồn của nhân gian là như thế nào? Pháp hội mà Phật giáo cử hành đối với người chết có lợi ích như thế nào?

Đáp: Có rất nhiều người sau khi người thân vãng sinh, do bởi trong lòng đau buồn, nên nhờ phương pháp dân tộc như cử hành dẫn dắt vong hồn hoặc gọi hồn, chỉ để cầu nhìn thấy người thân đã khuất lần cuối. Những điều này thực ra chỉ là một trò chơi, con người sau khi chết đi có thể đang trong giai đoạn thân trung ấm hoặc đã đi đầu thai, có người sinh lên cõi trời, có người thì vãng sinh Phật quốc, hoặc đi vào đường quỷ, đọa vào địa ngục, hoàn toàn không thể thoát ra. Cho nên thành phần thực tế của dẫn dắt vong hồn hay gọi vong là không nhiều, đại đa số đều là giả.

Đối với việc tử vong, các dân tộc trên thế giới có các truyền thuyết tâm linh khác nhau. Trên thực tế, con người sau khi vãng sinh đại đa số đều tồn tại đơn độc, trừ phi là ở một nơi nào đó đang làm Phật sự, siêu độ, tụng Kinh, hồi hướng, cúng dường, các linh thể nhận được ảnh hưởng của Phật Pháp mới tập trung đến, họ không phải có tổ chức mà chỉ là tạm thời tập hợp lại mà thôi.

Ví dụ khi đạo tràng trong chùa đang lễ Lương Hoàng bảo sám, thủy sám hoặc là cử hành Pháp hội thủy lục, phóng diễm khẩu, thì sẽ tập hợp rất nhiều linh thể. Khi còn sống họ không học Phật, sau khi chết bởi thiện căn và sự siêu độ của Phật Bồ Tát, khi đi qua nơi làm Phật sự, ít nhiều đều có cảm ứng mà đến lắng nghe Phật pháp.

Những linh thể này có thể sẽ dừng lại một thời gian, cũng có thể chỉ nghe qua, có được một chút lợi ích rồi rời đi. Nghe Phật Pháp có thể khiến cho họ trút bỏ ưu sầu, oán hận, sau khi rời đi có thể đã đi chuyển sinh.

Tang lễ long trọng trang nghiêm làm chính

Hỏi: Người Hoa trước đây có thói quen thổ táng, bây giờ đã dần dần tiếp nhận phương thức tang lễ khác là hỏa táng. Mọi người đối với trình tự tang lễ vẫn duy trì những tập tục dân gian, rốt cục làm thế nào để người sống và người vãng sinh mới có lợi ích thích hợp nhất?

Đáp: Tang lễ lấy long trọng nghiêm trang làm nguyên tắc hàng đầu, song cũng cần phải đơn giản khiến cho người vãng sinh có được tôn nghiêm. Người tham dự tang lễ cảm giác thấy sự tôn nghiêm của người vãng sinh, và cũng khiến cho người thân bạn bè của người vãng sinh cũng có tôn nghiêm, đó chính là một loại tang lễ tốt nhất.

Long trọng trang nghiêm có nghĩa là gì? Chính là có thể cảm thấy người vãng sinh thật an ổn, cát tường và bình tĩnh vãng sinh về Tây Phương Cực Lạc, người thân bạn bè tập trung lại cùng nhau tưởng nhớ người ấy, mà người ấy cũng chỉ cáo biệt với mọi người, thông báo với mọi người đi đến một quốc độ khác, triển khai một giai đoạn, một hành trình tiếp theo.

Khi chúng ta cử hành tang lễ cho người chết, cần phải duy trì tinh thần chúc phúc, coi như cử hành nghi lễ tiễn đưa vậy.

Tang lễ phù hợp với bảo vệ môi trường.

Hỏi: Trong tự nhiên, hoa cỏ, động vật sau khi chết, đều trở về với tự nhiên, trở thành dưỡng chất nuôi dưỡng vạn vật. Hòa thượng những năm gần đây đã tích cực đề xướng tang lễ phù hợp với việc bảo vệ môi trường, có thể mời Hòa thượng nói rõ chi tiết không ạ?

Đáp: Tang lễ của các nước trên thế giới, có thể chia thành các hình thức như thổ táng, hỏa táng, thủy táng, thiên tang, thiên táng là cho chim thú ăn, thủy táng là vứt xuống sông, xuống hồ, xuống biển.

Người hiện đại ngày này thường thấy có hai cách làm, một là hỏa táng, lấy hài cốt đã được thiêu vào trong chum đựng cốt, loại thứ hai là thổ táng, nói chung sau ba năm sẽ tiến hành nhặt xương, đem xương cho vào chum đựng cốt, rồi để trong tháp linh cốt. Ở Đài Loan có một hiện tượng văn hóa khá đặc biệt, rất nhiều người không chỉ mua cho mình vị trí trong tháp, mà còn mua cho người thân bạn bè, thậm chí còn coi là đầu tư để vận hành.

Còn ở Ấn Độ, sau khi hỏa táng thông thường sẽ đem hài cốt rắc ra biển hoặc ra sông Hằng, cũng có trường hợp rắc lên núi. Sau khi hài cốt của Phật Thích Ca Mâu Ni được hỏa táng, thì tro và xá lợi được rắc tại hai bên bờ sông Hằng, cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni không có cái gọi là toàn thây được an táng ở đâu, chỉ có điều sau này mọi người lấy xá lợi đem đi cúng dường.

Xá lợi là một loại vật kỷ niệm, bởi vì Phật đã Niết Bàn, không biết phải tưởng nhớ Ngài như thế nào, nên lấy xá lợi của Phật cúng dường, cho nên đến ngày nay vẫn cứ có thói quen cúng dường xá lợi.

Ngoài ra ở Trung Quốc, sau khi người xuất gia vãng sinh cần ngồi trong chum, nhập tháp, đưa người ấy vào trong chum theo tư thế ngồi thiền ban đầu của người ấy, bên trên đặt một cái chum khác, miệng của hai cái chum úp lại với nhau và phong kín, sau đó có người thì dùng phương pháp thổ táng chôn dưới đất, có người thì xây tháp để trong tháp, ví dụ như sư Từ Hàng được chôn cất với phương thức như vậy.

Trung Quốc còn có có một loại Thụ táng, tức là người sau khi chết, lấy tro của người ấy chôn dưới đất, bên trên trồng một cây xanh, coi cây này là vật kỷ niệm của người vãng sinh. Nhưng làm như thế sẽ có một vấn đề, đó là lỡ cây mà chết thì làm sao” Hoặc là sau khi trồng cây, sẽ không được chôn thêm người khác, tro của mỗi người đều cần chiếm một khoản không gian, như vậy cũng không được lý tưởng cho lắm. Cũng có người được hoa táng, nghĩa là bên trên trồng hoa, vậy thì khu đất này về sau vĩnh viễn trồng hoa, dường như cũng sẽ có vấn đề.

Còn bây giờ đang đề xướng rắc táng, nghĩa là đem tro rắc lên đất hoặc rắc ra biển, Thực táng thì nghĩa là đem tro trồng vào trong đất, để nó tự phân giải, trở về với vòng tay của đại địa. Phương thức Thực táng là nghiền tro thành bột nhỏ mịn sau đó xúc khoét một cái lỗ nhỏ dưới đất cho xuống và lấp đất vào, trải qua một thời gian sau khi tự nhiên phân giải, bột tro sẽ hoàn toàn tan vào trong đất, trở về với thiên nhiên. Sau khi trải qua cải tạo lại, khu đất này lại có thể lại được dùng để Thực táng, cách làm này là kinh tế nhất, không chiếm diện tích nhất, và có thể vĩnh viễn tái sử dụng.

(Trích lục từ “Sinh tử đều tự tại – Hòa thượng Thánh Nghiêm nói chuyện về trí tuệ của cuộc sống”)

Làm bạn với sinh tử

Bình tĩnh đối diện với tai nạn

Mỗi khi phát sinh thiên tai nhân họa, làm thành tai nạn thương vong, đương nhiên sẽ khiến cho con người đau buồn, nhưng người còn sống ngoại trừ than khóc và giận trời trách người ra, thì vẫn còn có rất nhiều việc đang chờ đợi để hoàn thành.

Đối diện với sinh ly tử biệt, mọi người đau buồn như vậy, chủ yếu là bởi không hiểu rõ con người vì sao mà được sinh ra. Theo nhận biết của Phật Pháp, con người đến thế gian này, có hai nhiệm vụ: Một là trả nợ thọ báo, hoàn trả nợ nần của ân oán tình thù trong nhiều kiếp đã qua, tiếp nhận phước báo và khổ báo. Hai là hoàn thành tâm nguyện, mọi người trong vô số kiếp trước đây đã từng phát tâm nguyện, bắt buộc phải từng bước hoàn thành, khi vừa thọ báo vừa hoàn thành tâm nguyện, cũng có thể tiếp tục phát nguyện. Khi đã trả nợ và hoàn thành tâm nguyện trong đời này song, thì coi như nhiệm vụ đã kết thúc, thì có thể yên tâm rời khỏi thế gian này.

Buông bỏ chấp chước đối với tai nạn

Những người khác nhau khi hoàn thành nhiệm vụ của một cuộc đời trong giai đoạn khác nhau, có người còn trẻ đã qua đời, có người đến 80~90 tuổi, thậm chí sống thọ hơn. Khó có thể yên tâm là người vãng sinh do tai nạn sự cố, người ngoài cho rằng việc đó rất đỗi thể thảm, trong “Kinh Dược Sư” được gọi là một trong chín loại “chết oan”, nhưng đối với bản thân người đương sự mà nói, có lẽ sẽ ít phải chịu đựng quá trình đau đớn bệnh tật hơn và không phải nến mùi những việc không tốt của ngoại cảnh. Đương nhiên, những người ấy đi rất đột ngột, có lẽ vẫn chưa kịp dặn dò gì với người thân bạn bè, nhưng cho dù có chút tiếc nuối nhưng nhiệm vụ trong đời này của họ cuối cùng cùng đã kết thúc.

Đã từng có người nhà của người vãng sinh trong tai nạn hàng không tâm sự, vong linh đã từng xuất hiện trong mộng và nói với người nhà rằng, họ bị ngâm trong nước rất lạnh. Tình hình như vậy là bởi người chết quá chấp chước vào di thể của mình, hiểu lầm rằng di thể bị ngâm trong nước kia vẫn là bản thân mình, di thể lạnh toát, nên cho rằng bản thân mình rất lạnh. Thực chất, di thể sau khi chết đã không còn thần kinh cảm giác, sẽ không cảm nhận được nóng lạnh. Trường hợp sau khi chết mà vẫn cảm thấy đông lạnh, thường xuất hiện ở trường hợp người nhảy sông tự sát và người chết do tai nạn hàng không, họ không biết mình đã chết, lại quá chấp chước vào di thể đang bị ngâm trong nước kia. Lúc này người nhà cần phải hướng dẫn người vãng sinh, nói cho họ rằng: Nếu đã chết, thì không cần để ý đến nóng lạnh của di thể.

Chuẩn bị tốt cho việc sinh và việc tử

Đối với người nhà của người vãng sinh mà nói, khó tránh khỏi đau thương, nhưng càng cần phải giúp người vãng sinh tụng Kinh, niệm Phật, làm việc thiện, dùng từng tiếng danh hiệu Phật, cầu xin, giúp cho người chết vãng sinh về Tây Phương Phật quốc, cũng có thể khiến cho tâm linh của gia thuộc đạt được bình tĩnh. Dù sao tai nạn cũng đã phát sinh rồi, không thể quay trở lại, người nhà nhất định cần phải chuyển tâm tình bi thương thành sức mạnh trí tuệ, thăm hỏi, khích lệ những người vãng sinh này, giúp cho họ vãng sinh về Tây Phương Phật quốc, có như vậy mới là sự trợ giúp lớn nhất đối với họ.

Trong những ngày thường, mọi người thường cho rằng sự việc không may này chắc chắn sẽ không sảy ra với mình hoặc người thân, suy nghĩ như vậy không chính xác. Thực chất, mọi người tốt nhất đều phải có tâm lý chuẩn bị điều xấu nhất có thể sảy ra, sau khi mỗi lần ra khỏi cửa, có thể bình an trở về nhà hay không, có tạo thành sinh ly tử biệt hay không, mới biết được chuẩn bị đối diện với cái chết mọi lúc mọi nơi như thế nào, khi gặp phải tai nạn mới không đến nỗi qua hoang mang mà không biết phải làm sao. Đương nhiên, sự sống vô cùng đáng quý, ngoại trừ phải chuẩn bị điều tồi tệ nhất có thể sảy ra, thì cũng phải tính toán sống đến trăm tuổi thì mới không đến nỗi phụ sinh mệnh của đời này.

(Trích lục từ “Thế giới nhân gian”)

Cảm ơn Bồ Tát hiện tướng bệnh ung thư

Nhân loại sinh tồn trong xã hội hiện đại, khả năng mắc bệnh ung thư là vô cùng cao, bởi thế mỗi một người đều phải chuẩn bị tâm lý mắc bệnh và cảnh giác cao độ. Đây không phải trù ải bất kỳ ai, mà là đề phòng nguy cơ thì mới có thể lâm nguy bất loạn. Song, cũng không nên trách người than trời, có quá nhiều lo lắng và ưu tư chỉ làm giảm sức miễn dịch của cơ thể, có hại cho sức khỏe. Nguyên nhân mắc ung thư có rất nhiều, có cái cũng chưa rõ ràng, cần phải kiểm tra sức khỏe định kỳ, để sớm phát hiện bệnh và sớm điều trị. Lúc bình thường thì phải duy trì chế độ ăn uống bình thường, thói quen bình thường, tâm lý ổn định, cộng thêm tu dưỡng tinh thần Thiền tu, khả năng mắc ung thư sẽ giảm đi khá nhiều.

Một khi mắc phải bệnh ung thư thì phải làm sao? Chỉ có thể đối diện với thực tế, tích cực trị liệu, thử cách thả lỏng thân tâm của bản thân để đối diện và tiếp nhận sự thực về ung thư. Nếu có thể làm được điều này, người bệnh sẽ thoải mái hơn nhiều, cũng không khiến cho người nhà rơi vào tình trạng lo sợ, đau khổ. Tôi thường khuyên người bệnh mắc bệnh nặng rằng: “Giao bệnh cho bác sĩ, giao mệnh cho Phật, Bồ Tát (hoặc là tín ngưỡng Tôn giáo của mình), làm như vậy, bản thân là người khỏe mạnh không có việc gì cả.” Hơn nữa tôi khuyến khích người phát hiện mắc bệnh ung thư, muốn làm việc có ý nghĩa gì, muốn học điều gì thú vị, thì cứ đi làm, cứ đi học, chỉ cần không quá miễn cưỡng với thể lực của bản thân.

Đối diện với sự thật về bệnh tật một cách đúng hướng.

Từng có một bác sĩ tín ngưỡng Phật giáo mắc phải bệnh ung thư, ông ta không những không vì thế mà trầm tư, mà ngược lại gọi những tế bào ung thư trên cơ thể là “Bồ Tát ung thư”. Có nghĩa là, bệnh ung thư giúp cho ông ta càng tích cực tu hành Bồ Tát đạo, bồi dưỡng lòng từ bi và trí tuệ sâu dày hơn. Bởi trong quá trình tiếp nhận trị liệu hóa học, ông ta hiểu sâu sắc sự đau đớn của bệnh tật, bởi thế mà sinh khởi lòng từ bi, sau khi trị liệu ông ta trở lại vị trí làm việc, đối đãi với tất cả các người bệnh với lòng từ bi vô ngã, sửa đổi tính khí gấp gáp của mình, và trở lên thân thiện hiền từ, sẵn sàng chủ động chăm sóc người bệnh.

Mắc bệnh ung thư hoàn toàn không phải là việc tốt, nếu nhìn từ góc độ tích cực, cũng có thể thiện dụng cơ hội bệnh tật để làm lợi mình và lợi người. Vì sao lại nói vậy? Bởi vì có thể dự đoán trước được cái chết, cho nên có thể trong sinh mệnh có hạn này cố gắng làm nhiều việc thiện tịnh hóa bản thân. Trong suốt đời người, nói ra những lời tốt đẹp thường không nhiều, làm những việc tốt cũng không nhiều, nhưng lại vẫn cho rằng mình là người tốt, nhưng trong quá trình mắc bệnh, nhân sinh quan của người bệnh đại đa số đều thay đổi, thái độ sẽ chuyển hóa, tâm linh sẽ trở lên thanh tịnh. Tuy cơ thể mắc bệnh, nhưng tố chất của con người lại được nâng cao. Huống hồ mắc bệnh ung thư, cho dù đã bị bác sĩ thông báo chuẩn bị hậu sự, chỉ cần không sợ chết cũng không chờ chết nói không chừng lại có điều kỳ diệu xuất hiện. Cho nên, không ít người đều nói cảm tạ Bồ Tát ung thư khiến cho họ hiểu được đời người, cũng độ cho họ vào cửa Phật.

Ung thư là Bồ Tát, người bệnh cũng là Bồ Tát

Nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta vui trong bệnh tật, mà là khích lệ người mắc bệnh ung thư và người nhà của bệnh nhân cần phải có suy nghĩ chính diện. Đối với người nhà mà nói, cho dù trong gia đình có người mắc bệnh là sự thật, thì cần phải thản nhiên tiếp nhận điều đó, ngoại trừ tận tâm chăm sóc, bản thân không được cấp tập theo mà đổ bệnh.

Sinh lão bệnh tử là bốn cái khổ lớn của đời người, nhưng bình thường lại rất ít chú ý đến, nếu bất đắc dĩ mắc bệnh ung thư, hoặc trong gia đình có người đã mắc bệnh ung thư, tuy là việc không may mắn, nhưng có thể coi việc đó thành Bồ Tát hiện thân thuyết Pháp! Ung thư là Bồ Tát, người bệnh cũng là Bồ Tát, là đang cùng tuyên thuyết vô thượng Phật Pháp “Khổ Thánh Đế”. Cần phải xử lý, trị liệu, nhưng không được oán hận phẫn nộ, không nên ưu sầu khổ não.

(Trích lục từ “Thế giới nhân gian”)

Chịu trách nhiệm với cuộc đời của mình

Hỏi: Gần đây thường có tin tức về vấn đề tự sát, có người bởi vì cuộc sống khó khăn, bệnh tật, nợ nần, sự nghiệp thất bại, tình cảm tan vỡ .v.v.. có những lúc tiếp tục sống thực không dễ dàng! Người đối diện chịu khổ, không muốn sống, chúng ta nên khuyên họ thế nào thì tốt hơn?

Đáp: Tự sát là một trong những nguyên nhân tử vong đứng trong hạng 10 ở Đài Loan liên tục vài năm gần đây. Bình quân mấy tiếng lại có một người tự sát, điều này là tổn thất rất lớn cho xã hội. Nguyên nhân dẫn đến tự sát rất nhiều, có người nói giới truyền thông không tốt, đưa các tin tức quá chi tiết, khiến cho xã hội bắt chước tự sát, cũng có người nói chính trị quá loạn, khiến nhân dân buồn bực, cũng có người trách cứ môi trường xã hội xuống cấp, khiến con người mất đi cân bằng tâm linh, giá trị quan của nội tâm hỗn loạn .v.v.

Thực ra, đại đa số tự sát có liên quan đến bệnh tâm lý, tinh thần, ưu sầu, lo sợ, vọng tưởng. Đã từng có người nói với tôi, cứ có người nói chuyện bên tai anh ta, kêu anh ta đi chết.

“Nhưng tôi chẳng hề muốn chết”. Anh ta đối thoại với giọng nói kia.

“Không được, anh mau đi chết đi!” Giọng nói đó cứ mệnh lệnh anh ta. Tôi khuyên anh ta đi khám bác sĩ, ngoan ngoãn uống thuốc, sau đó giọng nói đó không còn nữa.

Có lúc, tôi cũng nói với tín đồ rằng, nếu ngủ không được thì niệm “Quan Thế Âm Bồ Tát”. Nếu niệm danh hiệu Phật Bồ Tát cũng không thể trấn an tâm của quý vị thì cần phải đi khám bác sĩ, không có gì để mà ngại hết cả.

Sự sống vì nhiệm vụ mà đến

Có người nói “sống không bằng chết”, thực ra đó là vì không hiểu rõ giá trị của sự sống. Cuộc đời của một con người là có nhiệm vụ đặc biệt mà đến, cuộc đời là một quá trình, trước cuộc đời này cũng có sự sống, sau cuộc đời này cũng vẫn có sự sống. Nhiệm vụ của cuộc đời này chưa hoàn thành, công việc chưa hoàn thành, quý vị không thể bỏ đi, nếu đi thì không có trách nhiệm đối với sự sống, cho dù có cố chạy đi, thì kiếp sau vẫn phải tiếp tục hoàn thành.

Trong cuộc đời, mỗi một người chúng ta đều tự có bài học cần phải hoàn thành, có cái cần chúng ta cống hiến, điều đó không thể trốn tránh, bằng không thì chỉ là kéo dài đến kiếp sau mà thôi. Tín đồ Phật giáo mượn tín ngưỡng sinh và tử này để lý giải khổ nạn của đời người, như thế sẽ hiểu được “tự sát không phải là kết thúc cho xong”. Vấn đề trong cuộc đời vẫn là vấn đề, quý vị chỉ tạm thời lấy cái chết để trốn tránh, cuối cùng vẫn phải đối diện với nó.

Tôi tin rằng, mỗi một giai đoạn sự sống của con người đều có kịch bản khác nhau, những khó khăn sẽ lặp lại, tự sát là hủy ước đối với sinh mệnh, bởi vì quý vị chạy chốn giữa trừng, không diễn xuất theo kịch bản.

Có người thường nói: “Sinh mệnh vô giá.” Khuyên mọi người cần quý trọng sinh mệnh, tuy có lý, nhưng tôi nhận thấy vẫn chưa đủ sức thuyết phục. Sinh mệnh không phải dùng giá trị để đắn đo, mà là nghĩa vụ. Cuộc sống có khổ hơn nữa thì cũng vẫn phải trải qua cho đến khi kết thúc, đó là đối diện nó, tiếp nhận nó, xử lý nó, cuối cùng là buông bỏ nó.

(Trích lục từ “Đứng ngoài xem hồng trần”)

Giới thiệu về Pháp Cổ Sơn

“Phật pháp tuyệt vời như thế mà người biết đến thì quá ít, ngược lại số người hiểu sai Phật pháp thì lại quá nhiều.” Đây là hạnh nguyện mấy chục năm khổ tu, khổ học, quyết chí hoằng dương Phật pháp của Hòa thượng Thánh Nghiêm. Kiến tạo Pháp Cổ Sơn là muốn tiếp nối gánh vác sứ mệnh của chư Phật chư Tổ, giúp cho chúng sanh xa rời đau khổ và đạt được an lạc giải thoát.

Năm 1989, Hòa thượng Thánh Nghiêm đã tìm được một mảnh đất rừng thuộc xã Kim Sơn, huyện Đài Bắc lúc bấy giờ, và đặt tên gọi là “Pháp Cổ Sơn”, với tâm nguyện muốn kiến tạo một cơ sở để hoằng truyền Phật giáo Hán truyền, đẩy mạnh “khu vườn giáo dục Phật giáo thế giới” trong hệ thống giáo dục lúc bấy giờ. Trải qua mười sáu năm xây dựng và hoàn thành, vào tháng 10 năm 2005 đã tiến hành lễ khánh thành một cách trọng thể và trang nghiêm.

Pháp Cổ Sơn lấy “Bảo vệ môi trường tâm linh” làm trung tâm, làm ngọn cờ đầu của hệ thống giáo dục. Đồng thời, Pháp Cổ Sơn còn là một đoàn thể giáo dục đời sống, không ngừng ra sức thúc đẩy vận động mở mang tinh thần, đề xướng “bốn loại bảo vệ môi trường” như: Tâm linh, lễ nghi, đời sống và tự nhiên, chuyển hóa tinh thần và nội hàm của Phật pháp thành “tâm ngũ tứ vận động”(vận động năm điều bốn về tâm, như Bốn an: an tâm, an thân, an gia, an nghiệp; Bốn yếu: Nhu yếu, muốn, có thể muốn, nên muốn; Bốn nó: Đối diện nó, tiếp thọ nó, xử lý nó, buông bỏ nó; Bốn cảm: Cảm hóa, cảm động, cảm ơn, cảm tạ; Bốn phước: Biết phước, tích phước, bồi phước, trồng phước.) một cách cụ thể và dễ thực hành. Ngoài ra, còn chú trọng lấy ba phạm trù lớn trong giáo dục “Đại học viện, đại phổ hóa, đại quan hoài” làm lý tưởng để thực hiện việc “tăng phẩm chất của con người, xây dựng tịnh độ nhân gian”, đồng thời, thông qua sự hợp tác giao lưu trong việc hoằng hóa ra phạm vi quốc tế, công trình Pháp Cổ Sơn đã trở thành điểm nhấn để cho toàn nhân loại chú ý, trở thành công trình kiến thiết Tịnh hóa và Tâm linh của thế giới.

Pháp Cổ Sơn còn phục vụ nhu cầu của thời đại, lấy Thiền Phật giáo Hán truyền làm lập trường, sau đó dung hợp các tông phái để mở ra “Thiền tông Pháp Cổ của Trung Hoa”, với việc hướng dẫn và thúc đẩy quan niệm cũng như tư tưởng hiện đại, đưa Phật pháp đi vào trong cuộc sống, hy vọng tiếng trống từ bi và trí tuệ của Phật pháp có thể khiến cho mọi người được an lạc, biến xã hội con người thành cõi Cực lạc, với sự thanh tịnh và giải thoát.

Giới thiệu sơ lược về quỹ giáo dục Thánh Nghiêm

Quỹ giáo dục Thánh Nghiêm được Bộ giáo dục phê chuẩn và cấp giấy phép thành lập vào ngày 18 tháng 01 năm 2006. Tông chỉ của Qũy này là lấy việc thúc đẩy lý tưởng “tăng phẩm chất con người, kiến tạo tịnh độ nhân gian” do Hòa thượng Thánh Nghiêm đề xướng để làm sự nghiệp giáo dục nhằm tịnh hóa lòng người, tịnh hóa xã hội. Lý tưởng của Hòa thượng Thánh Nghiêm là chú trọng đến việc thực hiện xiển dương tịnh độ nhân gian. Suốt cả cuộc đời Ngài luôn hướng đến mục đích đưa Phật pháp đi vào trong đời sống hiện đại, dùng Phật pháp để nâng cao đời sống cũng như phẩm chất của người hiện đại. Hy vọng rằng các nhân sỹ trong giới tôn giáo học thuật hoặc những ai có hứng thú, có tâm nguyện, đều hướng đến tham thảo, nghiên cứu cũng như thực hiện rộng rãi phương diện này.

Qũy sẽ dựa vào tông chỉ này để thúc đẩy các công việc như sau:

1, Chủ yếu là thu thập, chỉnh lý, nghiên cứu, phân thứ lớp, phân loại, phiên dịch, in ấn, chế tác, phát hành, mở rộng, hoằng dương, phổ biến những tài liệu do Hòa thượng Thánh Nghiêm trước tác như sách vở, tạp chí, băng đĩa, các văn hiến văn vật vân vân, tặng đến các giai tầng trong xã hội, với kỳ vọng sẽ làm tăng thêm phẩm chất con người, nơi nơi đều thực hiện việc biến nhân gian thành cõi tịnh độ giải thoát.

2, Thứ nữa là tán dương và trợ lực cho các hạng mục trong công tác giáo dục, khế hợp với lý tưởng của Hòa thượng Thánh Nghiêm như: Thúc đẩy giáo dục Phật giáo; nghiên cứu học thuật Phật giáo; xuất bản các tác phẩm Phật giáo; tịnh hóa nhân tâm và tịnh hóa xã hội vân vân.