Thiền - Hòa bình trong và ngoài

I. Trong và ngoài tâm

Khi chúng ta hướng vào bên trong quan sát nội tâm của chính mình, thường sẽ phát hiện tâm của chúng ta không ở trong mà là ở ngoài, vậy thì nội tại và ngoại tại có trở nên đối lập hay không? Đứng trên quan điểm của Phật giáo, nội tại và ngoại tại là thống nhất chứ không phải đối lập, chỉ cần nội tâm yên tĩnh thanh tịnh, thì những gì nhìn thấy ở thế giới bên ngoài cũng sẽ yên tĩnh thanh tịnh. Song con người chúng ta bởi nội tâm và thế giới bên ngoài có quá nhiều mâu thuẫn và xung đột, mà cảm thấy vô cùng đau khổ. Nếu chúng ta có thể vận dụng quan niệm của Phật giáo và phương pháp tu hành thì có thể giúp trong và ngoài đều được hòa hợp, có như vậy thân tâm của chúng ta tự nhiên có được an lạc và tự tại.

II. Nội tại và ngoại tại mà Phật giáo thấy được

(I) Vũ trụ quan và nhân sinh quan của Phật giáo

Vũ trụ quan của Phật giáo được hoàn thành bởi nội tại của con người, thế giới ngoại tại chỉ phản ứng sự tạo thành của nội tại trong quá khứ, bởi vì nghiệp do tâm khởi mà vạn Pháp là do tâm hiện ra, thế giới nhỏ của cá nhân là nghiệp lực của tự cá nhân đó hiện ra,thế giới bên ngoài là do sự cộng nghiệp của mọi người ứng hiện ra. Phiền não vô minh là nguyên nhân, mà có kết quả là vũ trụ nhân sinh, phiền não vô minh từ vô thủy khiến con người tạo ra hành vi tâm lý và sinh lý, do hành động của thân và tâm đã sản sinh ra sinh mệnh và cuộc sống kế tiếp, khi cùng có được kết quả của sinh mệnh và cuộc sống tiếp theo, lại vì bản năng ghét khổ và cầu lạc mà không ngừng tạo ra hành vi thân tâm mới, như thế từ nhân đến quả, từ quả sinh nhân, liền hình thành hiện tượng sinh mệnh liên tục không ngừng, đó là tam thế lưu chuyển. Nguyên nhân của hiện tượng sinh mệnh này là phiền não vô minh của nội tại, bởi vì nội tâm của cá nhân có phiền não mà không thể yên lặng, khiến cho thế giới ngoại tại cũng không thể ôn hòa.

(II) Thống nhất luận của nội tại và ngoại tại trong Phật giáo

Chỗ khác nhau giữa chúng sinh và Thánh nhân là ở tâm nhiễm hay tịnh, tâm của chúng sinh không thanh tịnh mà có tạp nhiễm, ngược lại tâm của Thánh nhân thanh tịnh mà không có nhiễm, tâm có nhiễm nên vũ trụ mà chúng sinh thấy được cũng không thanh tịnh. Phật giáo chia thế giới thành hai phần: Tinh thần thuộc về Tâm pháp và vật chất thuộc về Sắc pháp, nhân sinh và vũ trụ là do Tâm pháp và Sắc pháp tổ hợp mà thành.Trong hai cái tinh thần và vật chất, lấy tinh thần hay Tâm pháp làm trọng, bởi vì Tâm pháp là động lực của sinh mệnh nội tại, còn Sắc pháp của thế giới ngoại tại là hiện tượng của sinh mệnh, “Tâm” tinh thần cộng với “Sắc” vật chất thì có các loại hiện tượng của vũ trụ nhân sinh. Chúng ta phải dựa vào tinh thần nội tại mới có thể nhận biết được thế giới vật chất ngoại tại, nếu rời xa tinh thần thì thế giới vật chất đối với chúng ta cũng như không tồn tại. Nếu chúng ta hy vọng thế giới hòa bình, trước hết nội tâm cá nhân ta phải tĩnh lặng, song con người chỉ hy vọng thế giới hòa bình mà nội tâm của chính mình không thể yên lặng, vậy thì thế giới này không thể hòa bình được, có người hy vọng thế giới hòa bình mà bản thân lại sân hận chiến tranh, như vậy thì nội tâm của người ấy là không tĩnh lặng. Có hai người tranh luận, trong đó một người chủ trương hòa bình là không cần chiến tranh, còn một người kia lại chủ trương chỉ có chiến tranh mới đạt được mục đích hòa bình. Khi họ đang tranh luận kịch liệt, người chủ trương chiến tranh hỏi người chủ trương hòa bình rằng: “Ông chủ trương hòa bình, vậy tại sao lại tranh luận cùng tôi? Tranh luận tức là không hòa bình.” Giống như hai người này thì ở đâu cũng có.

III. Mục đích của Phật giáo là sự hòa hợp giữa trong và ngoài

(I) Sự thật thế gian là khổ

1. Đối lập và xung đột giữa tự ngã và ngoại tại

Thế giới này của chúng ta đầy dẫy những đau khổ, mà nguyên nhân của khổ là bắt nguồn từ bản thân đối lập và xung đột với môi trường tự nhiên bên ngoài và môi trường xã hội, trong xã hội thường thấy giữa con người với nhau luôn có sự xung đột, đấu tranh giữa cha con, đối lập giữa người nhà, bạn bè, thậm chí tranh đấu là hiện tượng vô cùng phổ biến, quý vị có bao giờ thấy vợ chồng sau khi kết hôn chưa từng cãi nhau không? Khi hai vợ chồng cãi vã, luôn cảm thấy đối phương sai, và bởi vì đối phương sai, nên tự đem lại cho mình đau khổ vô hạn.

Có một người vợ thường cãi nhau với chồng, rồi cảm thấy phiền não vô cùng, khi tôi hỏi vì sao cô ta phiền não như vậy thì cô ta trả lời rằng: “Bản thân con không có phiền não, mà là chồng con đem phiền não vô tận đến cho con.”

2. Xung đột mâu thuẫn giữa tự ngã và nội tại

⑴Xung đột giữa cho và nhận, lợi và hại: Khi chúng ta đối diện với sự lựa chọn, giữa cho và nhận luôn khó nghĩ, sau khi quyết định thì lại sợ được mất.

Một hôm, có một vị nữ đệ tử quy y hỏi tôi rằng cô ta kết hôn có tốt không? Tôi trả lời: “Rất tốt, cô muốn kết hôn vì sao lại hỏi tôi?” Cô ta nói: “Con có 3 người theo đuổi, nhưng con không biết nên kết hôn với ai mới tốt, bởi vì con không thể chọn một trong ba người, nên mới thỉnh giáo sư phụ.” Thế là tôi mời nữ đệ tử ấy chọn một trong ba người yêu đến gặp tôi, sau một ngày cô ta dẫn một người bạn trai đến gặp tôi, tôi liền nói với cô ta: “Vị này tốt nhất!” Cô ta trả lời: “Nhưng sư phụ chưa gặp qua hai người kia, họ cũng rất tốt!” Tôi nói: “Vậy thì cô bốc thăm quyết định được rồi, nhưng cô nên biết, cô đưa người này đến trước, tất có nguyên nhân của mình.” Kết quả cô ta kết hôn với người mà cô ta dẫn đến gặp tôi.

⑵Xung đột giữa lý trí và tình cảm: Con người thường dùng lý trí xử lý việc của người khác, nhưng lại dùng tình cảm xử lý việc của mình, cũng chính vì thế mà người ta gọi là “Người trong cuộc mê hồ”.

Có một vị bác sĩ nổi tiếng, khi con trai của ông ta bị bệnh, luôn mời bác sĩ khác trị bệnh cho con trai mình, có người hiếu kỳ hỏi vị bác sĩ này: “Ông là một vị bác sĩ nổi tiếng, tại sao không thể trị bệnh cho con trai của chính mình?” Ông ta trả lời: “Chính bởi vì đó là con trai tôi, tôi sợ mình không thể chẩn đoán và trị liệu một cách lý trí, mà vì thế có thể gây ra hậu qua sai lầm. Bác sĩ khác không có quan hệ thân tình với con trai tôi, ông ta sẽ bình tĩnh dùng lý trí chẩn đoán và trị liệu một cách chính xác cho con trai tôi.” Như vậy có thể biết được rằng, nếu chúng ta dùng tình cảm xử lý sự việc, thì rất dễ gây ra sai lầm.

⑶Xung đột giữa niệm trước và niệm sau: Suy nghĩ của ngày hôm qua đến hôm nay đã có thay đổi, hôm qua cho rằng là đúng mà hôm nay lại cho rằng là sai, việc được quyết định trong ngày hôm nay, đến ngày mai có thể lại cần thay đổi, có người thay đổi quá nhanh, vì vậy mà sinh ra hoài nghi với quyết định của chính mình. Nếu một người thường thay đổi quyết định của bản thân, thì nội tâm của người ấy nhất định không thể an định, nội tâm không được an định thì cuộc sống của chính người ấy cũng sẽ không thể an định.

⑷Thất vọng của bản thân và theo đuổi mù quáng: Có một người thanh niên, mỗi khi tôi gặp anh ta, anh ta đều đang tức giận, thế là tôi liền hỏi anh ta: “Tại sao anh luôn tức giận vậy?” Anh ta trả lời: “Thế giới này đã trở nên điên cuồng rồi, việc mà con hôm qua đã lên kế hoạch, tình hình hôm nay đã lại có thay đổi, con mãi mãi không thể đuổi kịp thế giới này, cho nên con rất tức giận.” Người này không có mục tiêu mang tính nguyên tắc, mà cứ cuốn theo sóng gió chìm nổi của hoàn cảnh cuộc đời, rồi theo đuổi mù quáng, hôm nay thấy bên Đông tốt thì đi theo bên Đông, ngày mai cảm thấy bên Tây tốt hơn thì lại chạy theo bên Tây, do sự cám dỗ của ngoại cảnh, thay đổi trong tích tắc, sẽ khiến cho nội tâm anh ta bất an và hỗn loạn, bởi thế mà mất đi an định và an toàn.

(II) Dứt khổ được lạc, chính là sự yên tĩnh và hòa bình trong nội tại

1. Dùng lý luận của Phật giáo có thể phá mê khai ngộ cho chúng ta

(1)Nhân quả quan: Tất cả những việc tốt và xấu mà chúng ta gặp phải đều có nguyên nhân của nó, nếu không phải là nhân được tạo ra trong đời này, tất là nhân được tạo ra trong vô lượng kiếp trước. Cho nên gặp được chuyện tốt không được kiêu ngạo, gặp phải chuyện xấu cũng không được buồn phiền, kịp thời nỗ lực cầu tiến bộ, cầu cải thiện thì mới là quyết định tốt nhất.

Sơ Tổ Thiền tông Bồ Đề Đạt Ma từng nói:

① Gặp nghịch cảnh nên tu “Báo oán hạnh”. Tức là nhân ác tự tạo trước đây, bây giờ phải chịu quả ác. Giống như tự mình làm bẩn tay thì mau chóng đi rửa tay, còn oán trách hay tính toán trách nhiệm làm tay bẩn thì là người ngu si.

②Gặp thiện cảnh nên tu “Tùy duyên hạnh”. Tức là nhân thiện tự tạo trước đây, bây giờ sẽ nhận được quả thiện. Giống như tự mình viết chi phiếu đăng ký với ngân hàng để rút ra số tài khoản lớn của chính mình, nếu tưởng rằng đó là tiền tài không chính đáng bay đến mà vui mừng, thì đó chẳng phải là kẻ ngu ngốc sao.

(2) Nhân duyên quan: Hiện tượng thế gian không phải một cá nhân có thể thành tựu được, mà là nhiều duyên hợp thành. Từng có một ông chủ Công ty lớn, rất kiêu ngạo nói với tôi rằng: “Công ty chúng tôi có 3 vạn nhân viên, đều dựa vào tôi sinh sống.” Tôi hỏi ông ta: “Nếu toàn bộ nhân viên đều không làm việc cho Công ty ông hoặc ông không thể tìm đủ nhân viên thích hợp, lúc đó Công ty ông còn có thể tồn tại hay không?” Ông chủ này là người không thể hiểu rõ ví dụ thực tế của nhân duyên quan.

Môi trường mà chúng ta sống đều do các loại nhân duyên hợp thành mà xuất hiện. Nhân duyên thay đổi không ngừng, hiện tượng cũng theo đó mà thay đổi. Cho nên tốt là vô thường, xấu cũng là vô thường, không cần thiết quá vui mừng, không cần phải quá đau buồn, tiếp tục nỗ lực theo hướng tốt mới là quan trọng nhất.

2. Dùng phương pháp tu hành để đạt được yên tĩnh trong nội tâm

Phương pháp tu hành có rất nhiều, ví dụ tụng Kinh, trì chú, lễ bái, niệm danh hiệu Phật và niệm Thánh hiệu Bồ Tát, đều là phương pháp tu hành. Nhưng nói chung, phương pháp tu hành ngồi thiền đạt được hiệu quả nội tâm yên tĩnh tốt nhất. Đương nhiên khi ngồi thiền, đầu tiên cần có tư thế ngồi chính xác và phương pháp hít thở, sau khi thư giãn toàn thân, dùng phương pháp điều tâm tập trung tâm tán loạn, rồi do tâm cảnh đã được tập trung tiến đến đạt được sự thống nhất giữa niệm trước và niệm sau.

Vì thế trong quá trình đạt đến nội tâm thống nhất, gồm có 3 giai đoạn:

(1) Thống nhất thân và tâm: Lúc này chúng ta sẽ quên đi sự tồn tại của cơ thể, đồng thời sẽ cảm thấy vô cùng nhẹ nhàng.

(2) Thống nhất nội tâm và ngoại cảnh: Khi quý vị đạt đến cảnh giới này, quý vị sẽ cảm thấy môi trường bên ngoài và thân tâm của bản thân là một thể. Cho nên thứ lớn nhất không ở ngoài, thứ sâu nhất cũng không ở trong, lúc này nội tâm và ngoại cảnh thống nhất mà thành một thể, thể nghiệm được “thiên địa với ta cùng căn, vạn vật với ta một thể”. Cho nên có thể có tâm lượng “thương người yêu vật”. Khi quý vị có được kinh nghiệm như vậy, đối với sự tốt hư đẹp xấu của thế gian không những không có sự phân biệt mà còn cảm thấy tất cả đều vô cùng đáng yêu.

(3) Thống nhất niệm trước và niệm sau: Khi quý vị đạt đến cảnh giới này, cảm giác về thời gian và khái niệm về không gian đã không tồn tại, bởi vì đối với quý vị mà nói trước và sau không còn khác biệt, đó được gọi là nhập định. Khi nhập định, thân tâm, thế giới, thời gian, không gian, đều không còn sự khác biệt, chỉ là sự tồn tại của hiện thực. Đối với quý vị mà nói, toàn bộ vũ trụ đều chỉ có một cái toàn thể tồn tại. Người có được kinh nghiệm như vậy, sau khi xuất định, vẫn sẽ có một thời gian cảm nhận đang dừng tại sự thống nhất của trong và ngoài.

IV. Phương pháp tham thiền

(I) “Kinh Duy Ma” nói: “Tùy thành tựu chúng sinh tắc Phật độ tịnh” lại nói: “Tùy kỳ tâm tịnh tắc Phật độ tịnh.”

Nếu có thể phát nguyện cứu giúp tất cả chúng sinh, thì có thể không oán không hờn, thì có thể đạt được sự yên tĩnh của nội tâm và thế giới hòa bình. Nếu vạn sự không vì bản thân mà chỉ vì chúng sinh, người như vậy sẽ sinh khởi tâm từ bi, người có tâm từ bi tất có thể tương ứng với trí tuệ, người có trí tuệ tất có thể tương ứng với giải thoát tự tại. Thế giới hiện thực mà mắt của chư Phật nhìn thấy đều thanh tịnh, nhìn tất cả chúng sinh đều bình đẳng. Chỉ vì tâm chúng sinh không yên tĩnh, tâm không thanh tịnh, tâm có tạp nhiễm, nên thế giới mà chúng sinh nhìn thấy đều không yên tĩnh và không thanh tịnh, nhìn chúng sinh cũng không thể bình đẳng.

(II) Pháp an tâm của Thiền tông

Thiền tông nói: “Tham thiền không ở đùi.” Có nghĩa là, tham thiền không nhất định là ngồi thiền, mà khai ngộ cũng không nhất định là bởi tu hành, chỉ cần tâm bình an, vạn sự có thể dễ dàng giải quyết.

Khi Nhị Tổ Thiền tông Tuệ Khả gặp Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, hy vọng Sơ Tổ giúp mình an tâm, Bồ Đề Đạt Ma nói: “Đem tâm lại đây, ta an tâm cho.” Kết quả Tuệ Khả tìm tâm không có. Đạt Ma liền nói: “Ta đã an tâm cho ông rồi.” Tâm tức là niệm, khảo sát mỗi một ý niệm, nếu không thuộc quá khứ thì là thuộc tương lai. Quá khứ đã đi qua, tương lai chưa xuất hiện, cho nên vĩnh viễn cũng không tìm thấy ý niệm hiện tại.

Ngưu Đầu Pháp Dung là đồng môn của Ngũ Tổ Thiền tông Hoằng Nhẫn, khi Ngài gặp Tứ Tổ Đạo TÍn, Tứ Tổ hỏi Ngài: “Ai đang quán tâm? Tâm là vật gì?” Nhị Tổ Tuệ Khả tìm không ra tâm, đương nhiên Ngưu Đầu Pháp Dung cũng không tìm được tâm, bởi thế Ngưu Đầu nghe xong câu hỏi của Tứ Tổ thì liền khai ngộ.

“Lục Tổ Đàn Kinh” nói: “thương ghét không quan tâm, duỗi dài hai chân nằm.” Khi yêu và ghét đều không liên quan đến quý vị, quý vị có thể duỗi dài hai chân và ngủ một cách ngon lành. Đó không có nghĩa là người khai ngộ không có việc để làm, mà là nói trong tâm không có việc để buồn phiền. Ví dụ khi Thiền sư Vân Nham hỏi Đại sư Bách Trượng rằng: “suốt ngày ông vì ai mà bận rộn?” Bách Trượng trả lời: “Bởi vì bản thân tôi đã hết việc để làm, cho nên chuyên vì người cần ông ta mà bận rộn.”

Nếu chúng ta có thể dùng quan niệm của Phật giáo và phương pháp tu hành khiến cho nội tâm của chính mình thăng bằng, an định, thì thế giới ngoại tại mà chúng ta thấy được tất cũng sẽ hòa bình. Chúng ta càng phải nỗ lực giúp đỡ người khác, giúp cho những người có duyên với Phật Pháp cũng có thể đạt được sự yên tĩnh và hòa bình trong tâm và ngoài tâm, vậy thì các tranh chấp trên thế giới cũng sẽ vì thế mà ngày càng được giảm bớt đi.

(Ngày 29 tháng 10 năm 1990, giảng tại Ukiah Sarwa Dharma của Bắc California, thuộc đoàn thể người phương Tây của hệ thống Bạch giáo Tây Tạng, đề mục tiếng Anh : “Inner Peace and Outer Peace”, do bà Dr. Loni Baur Tiến sĩ âm nhạc đại học Harvard đảm nhiệm phiên dịch tiếng Anh. Sau đó được cư sĩ Cam Quế Huệ chỉnh lý riêng thành bài viết Trung Anh theo đại cương diễn giảng của tôi và băng ghi âm)

Giới thiệu về Pháp Cổ Sơn

“Phật pháp tuyệt vời như thế mà người biết đến thì quá ít, ngược lại số người hiểu sai Phật pháp thì lại quá nhiều.” Đây là hạnh nguyện mấy chục năm khổ tu, khổ học, quyết chí hoằng dương Phật pháp của Hòa thượng Thánh Nghiêm. Kiến tạo Pháp Cổ Sơn là muốn tiếp nối gánh vác sứ mệnh của chư Phật chư Tổ, giúp cho chúng sanh xa rời đau khổ và đạt được an lạc giải thoát.

Năm 1989, Hòa thượng Thánh Nghiêm đã tìm được một mảnh đất rừng thuộc xã Kim Sơn, huyện Đài Bắc lúc bấy giờ, và đặt tên gọi là “Pháp Cổ Sơn”, với tâm nguyện muốn kiến tạo một cơ sở để hoằng truyền Phật giáo Hán truyền, đẩy mạnh “khu vườn giáo dục Phật giáo thế giới” trong hệ thống giáo dục lúc bấy giờ. Trải qua mười sáu năm xây dựng và hoàn thành, vào tháng 10 năm 2005 đã tiến hành lễ khánh thành một cách trọng thể và trang nghiêm.

Pháp Cổ Sơn lấy “Bảo vệ môi trường tâm linh” làm trung tâm, làm ngọn cờ đầu của hệ thống giáo dục. Đồng thời, Pháp Cổ Sơn còn là một đoàn thể giáo dục đời sống, không ngừng ra sức thúc đẩy vận động mở mang tinh thần, đề xướng “bốn loại bảo vệ môi trường” như: Tâm linh, lễ nghi, đời sống và tự nhiên, chuyển hóa tinh thần và nội hàm của Phật pháp thành “tâm ngũ tứ vận động”(vận động năm điều bốn về tâm, như Bốn an: an tâm, an thân, an gia, an nghiệp; Bốn yếu: Nhu yếu, muốn, có thể muốn, nên muốn; Bốn nó: Đối diện nó, tiếp thọ nó, xử lý nó, buông bỏ nó; Bốn cảm: Cảm hóa, cảm động, cảm ơn, cảm tạ; Bốn phước: Biết phước, tích phước, bồi phước, trồng phước.) một cách cụ thể và dễ thực hành. Ngoài ra, còn chú trọng lấy ba phạm trù lớn trong giáo dục “Đại học viện, đại phổ hóa, đại quan hoài” làm lý tưởng để thực hiện việc “tăng phẩm chất của con người, xây dựng tịnh độ nhân gian”, đồng thời, thông qua sự hợp tác giao lưu trong việc hoằng hóa ra phạm vi quốc tế, công trình Pháp Cổ Sơn đã trở thành điểm nhấn để cho toàn nhân loại chú ý, trở thành công trình kiến thiết Tịnh hóa và Tâm linh của thế giới.

Pháp Cổ Sơn còn phục vụ nhu cầu của thời đại, lấy Thiền Phật giáo Hán truyền làm lập trường, sau đó dung hợp các tông phái để mở ra “Thiền tông Pháp Cổ của Trung Hoa”, với việc hướng dẫn và thúc đẩy quan niệm cũng như tư tưởng hiện đại, đưa Phật pháp đi vào trong cuộc sống, hy vọng tiếng trống từ bi và trí tuệ của Phật pháp có thể khiến cho mọi người được an lạc, biến xã hội con người thành cõi Cực lạc, với sự thanh tịnh và giải thoát.

Giới thiệu sơ lược về quỹ giáo dục Thánh Nghiêm

Quỹ giáo dục Thánh Nghiêm được Bộ giáo dục phê chuẩn và cấp giấy phép thành lập vào ngày 18 tháng 01 năm 2006. Tông chỉ của Qũy này là lấy việc thúc đẩy lý tưởng “tăng phẩm chất con người, kiến tạo tịnh độ nhân gian” do Hòa thượng Thánh Nghiêm đề xướng để làm sự nghiệp giáo dục nhằm tịnh hóa lòng người, tịnh hóa xã hội. Lý tưởng của Hòa thượng Thánh Nghiêm là chú trọng đến việc thực hiện xiển dương tịnh độ nhân gian. Suốt cả cuộc đời Ngài luôn hướng đến mục đích đưa Phật pháp đi vào trong đời sống hiện đại, dùng Phật pháp để nâng cao đời sống cũng như phẩm chất của người hiện đại. Hy vọng rằng các nhân sỹ trong giới tôn giáo học thuật hoặc những ai có hứng thú, có tâm nguyện, đều hướng đến tham thảo, nghiên cứu cũng như thực hiện rộng rãi phương diện này.

Qũy sẽ dựa vào tông chỉ này để thúc đẩy các công việc như sau:

1, Chủ yếu là thu thập, chỉnh lý, nghiên cứu, phân thứ lớp, phân loại, phiên dịch, in ấn, chế tác, phát hành, mở rộng, hoằng dương, phổ biến những tài liệu do Hòa thượng Thánh Nghiêm trước tác như sách vở, tạp chí, băng đĩa, các văn hiến văn vật vân vân, tặng đến các giai tầng trong xã hội, với kỳ vọng sẽ làm tăng thêm phẩm chất con người, nơi nơi đều thực hiện việc biến nhân gian thành cõi tịnh độ giải thoát.

2, Thứ nữa là tán dương và trợ lực cho các hạng mục trong công tác giáo dục, khế hợp với lý tưởng của Hòa thượng Thánh Nghiêm như: Thúc đẩy giáo dục Phật giáo; nghiên cứu học thuật Phật giáo; xuất bản các tác phẩm Phật giáo; tịnh hóa nhân tâm và tịnh hóa xã hội vân vân.