Thiền cơ trong Vũ đạo—Đối thoại giữa sư phụ Thánh Nghiêm và Lâm Hoài Dân

Thiền cơ trong Vũ đạo

Thời gian: Ngày 03 tháng 03 năm 2000

Địa điểm: Nhà tưởng niệm Quốc phụ Đài Bắc

Chủ trì: Trần Nguyệt Khanh (Giám đốc Phòng kế hoạch Đài truyền hình Trung Hoa)

Người đối thoại:

Trần Nguyệt Khanh:Hai vị ngồi đây, một vị là người có trí tuệ và từ bi thuyết Pháp, truyền Pháp, hoằng dương Phật Pháp, hết lòng tịnh hóa nhân tâm, tịnh hóa xã hội; một vị là người học múa, khiêu vũ, biên đạo múa, không ngừng tìm tòi cái mới, tận lực nâng cao văn hóa Vũ đạo của Đài Loan. Ông Lâm Hoài Dân nói rằng lĩnh vực của ông là “điên đảo mộng tưởng”, và tán thán Pháp sư Thánh Nghiêm là người “từ bi trí tuệ”, cho nên hôm nay tiêu đề đối thoại cũng có thể được gọi là “từ bi trí tuệ và điên đảo mộng tưởng”; trước hết xin mời hai vị cùng nói về cái nhìn của mình đối với lĩnh vực của nhau?

Pháp sư Thánh Nghiêm: Về ấn tượng chung mà nói, khiêu vũ là loại hình vui chơi giải trí, song Vũ đạo của thầy Lâm là kết hợp các mảng nghệ thuật âm nhạc, hội họa, nhất là có thể kết hợp giữa văn hóa Đông Tây phương với nhau, kế thừa được truyền thống và mở mang điều mới mẻ, là phương thức biểu hiện nghệ thuật vô cùng hiện đại hóa, đủ để thấy được sự thấm nhuần văn hóa thâm sâu của ông. Đồng thời các tác phẩm của ông cũng mang đậm ý nghĩa Tôn giáo, nhất là “Bài hát của kẻ lang thang”, không những mang tâm lý Tôn giáo, càng có ý nghĩa cao về cảnh giới Thiền, điều này rất hiếm có, và cũng khiến tôi cảm thấy khá rung động.

Lâm Hoài Dân: Phật pháp nhấn mạnh “không chấp tướng”, song những biểu diễn mà vũ đạo vận dụng toàn bộ lại đều là sắc tướng. Phật Pháp nói về Thiền định, nội tâm cần yên định, quán không, song các sáng tác của vũ đạo lại luôn là điên đảo mộng tưởng. Nhất là biểu diễn trong nháy mắt rồi kết thúc, có lẽ, vừa vặn có thể chứng minh được cái vô thường mà Phật pháp nói tới! Tuy tôi có sử dụng tài liệu mang tính Tôn giáo, nhưng lại không có nghiên cứu gì về Tôn giáo. Còn nhớ lần đầu tiên tôi đến Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ vào năm 1994, sau khi tôi ngồi thiền dưới gốc cây Bồ Đề, khi từ từ mở mắt ra, thì nhìn thấy ánh nắng từ kẽ lá của cây Bồ Đề chiếu vào, tỏa lên trán của tôi, khiến tôi vô cùng cảm động. Cho nên khi tôi rời khỏi Bồ Đề Đạo Tràng tuy máy bay trễ giờ, nhưng tâm tôi lại không hề có chút thổn thức, lo lắng và sợ hãi nào, mà ngược lại có một cảm giác an định. Tôi không biết đây có phải là thể nghiệm của Tôn giáo hay không, nhưng sau khi quay trở về, thì bèn biên soạn ra “Bài hát của kẻ lang thang”.

Sự cảm động và ngờ vực đối với Tôn giáo

Pháp sư Thánh Nghiêm:Tín ngưỡng Tôn giáo có rất nhiều cấp bậc, người thường là mê tín Tôn giáo, bậc cao hơn thì là thể nghiệm Tôn giáo, ngoài ra còn có lý trí, tri thức, nhận biết Tôn giáo.

Cái gọi là thể nghiệm Tôn giáo, chính là bản thân mình tự nghiệm thấy, cảm nhận được, ví dụ người thường cho rằng Phật, Bồ Tát hoặc Thần Thánh được chúng ta tôn kính, sùng bái, đó là đối tượng mà chúng ta nhận biết, là ở ngoài tâm của chúng ta, chứ không phải ở trong tâm chúng ta; nhưng nếu có thể từ trong nội tâm thể nghiệm được công đức, từ bi và trí tuệ của Phật, thì có thể cảm giác được trên thế giới bất kỳ nơi nào đều có Phật, bất kỳ nơi nào đều có Bồ Tát; Hơn nữa chỉ cần nội tâm yên tĩnh, an định, thì có nghĩa là đang ở bên Phật, cho nên Thiền tông có câu: “Ngày ngày cùng Phật thức dậy, đêm đêm ôm Phật đi ngủ”, đó chính là một kiểu thể nghiệm Tôn giáo, và còn là Tôn giáo của cảnh giới cao.

Ngoài ra còn một kiểu cảm nhận các cảnh giới của tâm, đó là tương ứng với cảnh giới của Thiền. Thiền bao gồm hai yếu tố, một là “định”, một là “tuệ”. Định có nghĩa là bất động, đó chính là tâm dừng tại một cảnh, cứ tiếp tục duy trì như vậy gọi là định; tuệ thì có nghĩa là không chịu sự cám dỗ, kích thích, quấy rối của môi trường bên ngoài, và có thể không bị ảnh hưởng một cách rất rõ ràng.

Lâm Hoài Dân: Còn có một ấn tượng khá sâu sắc khác khi tôi ở Bồ Đề Đạo Tràng, đó là khi ở trong một ngôi chùa trang nghiêm nọ , tôi cảm thấy thân tâm mình mát mẻ, nhưng khi ra khỏi cửa, thì lại nhìn thấy 2-3 trăm kẻ ăn xin, thậm chí những người mắc bệnh hủi cũng đang ở đó xin ăn. Một hôm tôi buồn quá quỳ trước Phật, trong lòng nói với Phật Đà rằng: “Ngài đã Niết bàn hơn hai nghìn năm trăm năm rồi, tại sao nhân dân của Ngài vẫn sống khổ cực như vậy?”

Đau thương nhất thời khiến tôi không thể cầm nén được và òa lên khóc một trận, nhưng cũng trong phút giây ấy, tôi bỗng nhiên thể nghiệm được sự vĩ đại của Phật Đà. Ngài vĩ đại ở chỗ chẳng phải bởi vì Ngài là Thần Thánh, mà là không nhẫn tâm nhìn thấy cái khổ của chúng sinh, rồi phát đại nguyện độ chúng sinh. Tôi nghĩ sự cảm động trong giây phút ấy khiến tôi trở thành một tín đồ Phật giáo.

Trên thực tế, không chỉ ở Ấn Độ, trong môi trường của chúng ta, cũng thường bắt gặp những vấn đề tương tự, khi quý vị đi trên đường, có thể gặp kẻ ăn mày giơ tay xin ăn, tuy có nhiều lúc chúng ta có thể giúp đỡ họ, nhưng nếu có thật nhiều đôi tay giơ ra cùng một lúc, hy vọng có được sự cứu trợ, thực sự trông thấy là không nỡ lòng, nhưng ngược lại không biết phải giúp đỡ như thế nào?

Pháp sư Thánh Nghiêm: Các vấn đề sinh, lão, bệnh, tử, nghèo khổ từ trước đến nay đều vậy, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni hiểu rất rõ về môi trường xã hội của Ấn Độ thời đó, cách làm của Phật Đà là, nếu khi đi khất thực nhận được nhiều đồ ăn, thì sẽ chia cho những kẻ ăn xin, nếu như không đủ, hoặc không có, đương nhiên cũng không thể cho được.

Song sự giúp đỡ chủ yếu nhất của Phật Đà, vẫn là bố thí Phật Pháp, bởi vì tất cả chúng sinh trên thế gian đều đang ở trong sự nghèo khó, người thì nghèo khó về vật chất, người thì nghèo khó về tinh thần, mà nghèo khó về tinh thần thì luôn đau khổ hơn là nghèo khó về vật chất.

Ghi chép trong Kinh Phật nói rằng, có một người ăn mày cầm một cái bát sứt, xin được một bát dầu để cúng dường Phật đốt đèn, sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni biết được liền nói với đệ tử tôn giả A Nan rằng, công đức đốt đèn của những người khác đều không lớn bằng công đức của người ăn xin này, bởi vì người ăn xin đó tuy nghèo khó, chẳng có thứ gì, nhưng lại có một tấm lòng thành kính cúng dường Phật, đó chính là công đức vô cùng to lớn.

Xem xét Trí tuệ và Bát nhã

Trần Nguyệt Khanh: Tôi cũng đã từng đi Ấn Độ, cũng đã nhìn thấy tình cảnh tương tự như vậy, ngoài đau buồn, thì cũng không biết có thể làm được gì. Nghe xong lời khai thị của Pháp sư, mới biết rằng hóa ra Pháp Phật dạy, ngoài từ bi ra còn có trí tuệ.

Phật giáo thường có câu “Phước huệ song tu”, vậy có thể có được trí tuệ nhờ thông qua tu hành hay không? Nếu có thể, thì phải tu hành như thế nào?

Ngoài ra, thầy Lâm sáng lập Vân Môn từ năm 1972, trong 27, 28 năm qua, biên soạn hơn 60 bài vũ đạo, với hơn 1100 lần biểu diễn, số lượng tác phẩm không những vô cùng phong phú, mà đề tài còn mang nhiều tính biến hóa, không ngừng chắt lọc đổi mới, sáng tạo ra nhiều phong cách khác nhau, rất nhiều người cho rằng đó là kết tinh trí tuệ của ông, xin hỏi thầy Lâm, trí tuệ và cảm hứng của ông có được từ đâu?

Pháp sư Thánh Nghiêm: Trí tuệ có thể được nhìn nhận từ hai góc độ, một là từ quan niệm triết học, triết học trong tiếng Anh là philosophy, có nghĩa là theo đuổi trí tuệ; một loại khoác là danh từ trong Phật học, gọi là “Bát nhã”. Hai loại này không hề giống nhau.

Trí tuệ trong triết học, hoặc trí tuệ mà mọi người thường nói tới, có thể có được từ việc đọc sách, học tập, ví dụ học một biết mười, thấy một biết trăm, đọc lướt qua đã được mười hàng, những cảm hứng hay sự thông minh ấy cũng có thể được coi là trí tuệ, có thể có được từ việc tập luyện; Khổng Phu Tử cũng nói có ba loại biết: Sinh ra là biết rồi, nhờ học tập mới biết được, trong khó khăn mới biết được, là chỉ định trí tuệ mà mọi người thường nói đến.

Còn trí tuệ trong Phật Pháp, cũng có nghĩa là Bát nhã, là sự trút bỏ tất cả những quan niệm như tự cho mình là trung tâm, truy cầu, chấp trước hoặc không tính toán đến lợi ích của cá nhân mình; đây không chỉ là khách quan như mọi người thường nói đến, mà còn vượt qua cả khách quan và chủ quan, Phật giáo gọi đó là “Trung quán”, hoặc “Không quán”, cũng được gọi là "Không tuệ", cái trí tuệ tương ứng với không này chính là Bát nhã.

Loại trí tuệ Bát nhã này không phải người thường ai cũng có thể đạt được, vì đó là trí tuệ của Phật; cho đến ngày hôm nay, tôi cũng không có, tôi chỉ mượn dùng trí tuệ của Phật để giúp đỡ chính mình, hỗ trợ người khác mà thôi.

Lâm Hoài Dân: Tôi chẳng hề cho rằng bản thân mình có trí tuệ, thậm chí cũng thường không có cảm hứng, nguồn sáng tác của tôi đều được lấy từ những việc nhỏ nhặc trong cuộc sống, những thể nghiệm của cuộc sống được ấp ủ trong nội tâm sau khi được đúc kết, nó giục giã muốn được trở thành một loại biểu đạt, chứ không phải tìm từ bên ngoài. Trên thực tế, trong suốt quá trình biên soạn, tôi chẳng qua chỉ là người môi giới mà thôi, bởi thế cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn đang đi tìm một loại trí tuệ trong việc sáng tác vũ đạo.

Từ bi đúng mức đúng chỗ

Trần Nguyệt Khanh: Phật Pháp không chỉ nói về trí tuệ, mà cũng nhấn mạnh từ bi, từ hai vị đây, chúng ta đều có thể cảm nhận được sức mạnh của từ bi. Đối với thầy Lâm mà nói, ông đã từng khởi phát các hoạt động văn hóa nghệ thuật về miền quê, biểu diễn vũ đạo Vân Môn tại các miền thôn quê hẻo lánh, giúp cho hết thảy công chúng trong xã hội đều có thể xem và thưởng thức được, những rung động và ảnh hưởng của ông đem lại là rất lớn, những điều mà thầy Lâm đã cố gắng ấy, chính là sự thể hiện của từ bi.

Lâm Hoài Dân: Đó chỉ là cố gắng làm tròn bổn phận của tôi, mà điểm xuất phát là lòng cảm ơn và muốn báo đáp. Còn nhớ khi tôi còn nhỏ, những lần xem biểu diễn múa kịch trước miếu đình đã mang lại cho tôi những hứng thú và sáng tác đối với vũ đạo, về cơ bản tôi thấy rằng những sáng tác của tôi và múa kịch là giống nhau về bản chất. Là người làm công tác biểu diễn nghệ thuật, nếu có thể chia sẽ cùng công chúng, thì tôi sẽ phải cố gắng làm thật tốt.

Sau khi làm vậy, chúng tôi cũng bởi thế mà có được càng nhiều sự giao lưu tình cảm với người xem, việc giao lưu ấy đối bới chúng tôi mà nói, là một sức mạnh giúp chúng tôi có thể tiếp tục bước tiếp lên.

Pháp sư Thánh Nghiêm: Đây đích thực là biểu hiện của lòng từ bi! Không chỉ chứa đựng tấm lòng cảm ơn, mà còn cho rằng vũ đạo được biểu diễn và múa kịch giống nhau về bản chất, cho nên đem đến cho người xem, chính là điều mà mọi người cần; không phải vì để thể hiện bản thân mà biểu diễn, mới có thể thực sự đứng trên lập trường của người xem, cho nên được người địa phương tiếp nhận một cách rất tự nhiên.

Thể hiện lòng từ bi, là phải đứng ở lập trường của đối phương, lấy đối phương làm điểm xuất phát, là sự cho đi theo như nhu cầu của đối phương; trong quá trình giao lưu với nhau, khiến cho mọi người đều cảm thấy vui vẻ, bình an và hy vọng, đó chính là từ bi..

Trần Nguyệt Khanh: Những ảnh hưởng khi thầy Lâm sáng lập Nhà hát kịch Vân Môn đối với xã hội thực sự vô cùng sâu rộng, tôi rất thích những biểu diễn ngoài trời của Vân Môn, bởi vì con gái tôi còn nhỏ không được vào trong Viện kịch Quốc gia, nên tôi dẫn bé đi xem biểu diễn ngoài trời, mọi người ngồi chen nhau, rất chăm chú theo dõi, hiện trường vô cùng yên tĩnh, tôi cảm thấy không khí ấy thật là tuyệt, tôi tin rằng Đài Loan sẽ là một xã hội có phẩm chất văn hóa.

Tìm ra niềm hy vọng trong tương lai

Pháp sư Thánh Nghiêm: Đài Loan là một nơi rất tốt, chỉ có điều trong giai đoạn hiện tại thiếu mất đời sống tinh thần, văn hóa. Rất nhiều người khi nghĩ tới Tôn giáo thì nghĩ sai Tôn giáo là mê tín, liền liên tưởng tới việc chạy xô hội đình, chạy xô Pháp hội; đương nhiên, đó cũng là một cấp bậc của Tôn giáo, nhưng Tôn giáo còn có một cấp bậc sâu sắc hơn, thuộc về việc mở mang phát triển tinh thần, thể nghiệm tinh thần, đời sống tinh thần, đó cũng chính là điều mà xã hội Đài Loan đang thiếu.

Thông thường mà nói, đại đa số con người đều nông cạn, chỉ mưu cầu cái niềm vui, bình an trước mắt; còn đối với các vấn đề của toàn xã hội hoặc thế giới trong tương lai, người quan tâm thì lại rất ít. Người thực sự có suy nghĩ sâu sắc và cái nhìn sâu xa, nhất định có định hướng tương lai và quan điểm quốc tế, có thể từ trong kinh nghiệm trong quá khứ, dựa trên sự thật hiện tại, rồi dẫn dắt mọi người đi về phía trước. Nhưng trong xã hội hiện tại của chúng ta, người có được cái nhìn sâu xa như vậy chưa nhiều.

Lâm Hoài Dân: Cái căn bản nhất trong vấn đề văn hóa của chúng ta là ở chỗ thiếu thứ văn hóa “chú trọng cái Đức”. Chúng ta thấy những người có sức ảnh hưởng trên thông tin truyền hình, dùng ngôn ngữ văn hóa và hành vi văn hóa nông cạn, lại sai sử nếp sống xã hội. Song tôi vẫn có lòng tin đối với tương lai của Đài Loan, bởi vì nhiều năm trở lại đây, xuất hiện rất nhiều sự cống hiến của Phật giáo, đoàn thể công ích đối với xã hội, có nhiều cống hiến của người tình nguyện, đó chính là tài sản văn hóa rất quan trọng của Đài Loan.

Pháp sư Thánh Nghiêm: Đối với tương lai tôi chưa hề thất vọng, mà tràn đầy hy vọng. Những sự nghiệp mà bản thân tôi hoặc Pháp Cổ Sơn có thể làm được cho cộng đồng xã hội chưa nhiều, nhưng chúng tôi sẽ bắt tay từ những việc nhỏ, lấy tinh thần “trăm năm trồng người” thực hiện từng bước từng bước một.

Cái gọi là “Nhân gian tịnh độ” được làm nên từ sự thanh tịnh trong nội tâm của bản thân mình, bản thân không khởi phiền não, tiếp thêm là ảnh hưởng người khác giảm bớt phiền não, cứ như thế người này ảnh hưởng người kia, sức mạnh được phát huy sẽ là vô cùng.