Lợi ích của việc ngồi thiền

I. Phương pháp nhập môn của Thiền

(I) Lời nói đầu

Phương pháp tu hành của Thiền tông Trung Quốc là đi thẳng vào vấn đề, không cần thứ tự, không giống với Yoga Ấn Độ và Phật giáo Đại Tiểu Thừa Ấn Độ, đều rất chú trọng thứ tự và theo từng bước của phương pháp tu hành. Nhất là Mật giáo Đại Thừa thời kỳ sau của Ấn Độ, đặc biệt coi trọng việc truyền thọ của phương pháp tu hành, mà càng tu càng phức tạp. Trên thực tế, phương pháp của Mật giáo Đại Thừa, có rất nhiều điểm tương tự với Pháp môn Yoga mà các Tôn giáo Ấn Độ khác thường dùng, điểm nổi bật là có thể dùng trí không của Phật Pháp hóa giải được sự chấp trước cao nhất về Thần và Thần ngã của Tôn giáo ngoại đạo, khiến tất cả các phương pháp đều trở thành phương pháp để thành Phật, dẫn về biển lớn của Phật Pháp. Nhưng phương pháp tu trì của Mật tông trên cơ bản đương nhiên người người đều có thể tu hành, song càng lên cao, nghi thức học tập và hành trì càng khó, cho nên không phải ai cũng có thời gian và nhân duyên tu trì. Thiền tông của Trung Quốc lấy “Vô môn vi môn”, lấy không có phương pháp làm phương pháp cao nhất, đối với người có căn cơ sâu dày hoặc người tu hành suốt đời mà nói, chỉ cần có thể dần dần hóa giải được ý thức bản thân là trung tâm, sau đó cửa thiền sẽ tự nhiên mở rộng trước mặt họ. Nhưng đối với đại đa số người mà nói, chỉ có thể đứng ngoài cửa thiền tìm hiểu thiền cảnh, hoặc chỉ có thể thưởng thức phong cách tự nhiên tự tại của các vị thiền giả, chứ không thể tự mình trải nghiệm cảnh giới đó. Bởi thế Thiền tông Trung Quốc sau này bị coi là chỉ có người trẻ tuổi căn cơ sắc bén mới có thể tu tập. Thực ra, phương pháp tu hành không có một pháp môn nào là không lấy thiền định làm cơ sở, cũng có thể nói, ngoài thiền định ra, thì không có phương pháp tu hành nào khác. Cho nên bất luận là Phật giáo hay các Tôn giáo khác, thiền định là phương pháp tu hành duy nhất. Bởi thế phàm là chủ trương lấy việc tu hành để đạt đến cải tạo tinh thần và cơ thể, bất luận gọi nó là gì, chúng ta đều cần phải liệt kê vào lĩnh vực của “Thiền” (dhyāna) , cấp bậc tuy khác nhau, song cơ sở thì tương tự.

Tôi xuất thân là Tăng lữ của chùa Thiền tông Trung Quốc, nhưng tôi không cho rằng chỉ có con cháu của Thiền tông mới tu hành phương pháp Thiền, trên thực tế, Tăng lữ xuất gia trong chùa Thiền tông cũng chưa chắc đã có nhiều người tìm hiểu được phương pháp tu hành chủ yếu và thích hợp. Bởi thế thiền Trung Quốc tuy lấy “Vô môn vi môn”, tôi vẫn hy vọng trước tiên cần làm cho những người có tâm tu hành từ hữu môn có thể đi vào bắt đầu học phương pháp căn bản, sau một thời gian tu học hoặc có thể ổn định tâm, thì dạy cho họ tìm kiếm cửa của vô môn. Nếu trước tiên có thể dùng phương pháp tu học thiền định, ổn định tâm, sau đó có học thiền của Thiền tông Trung Quốc hay không thì không có liên quan; gọi nó là Thiền hay không cũng không quan trọng. Quan trọng là có thể tìm thấy phương pháp tu hành thích hợp và có hiệu quả đối với quý vị hay không.

Phương pháp tu hành thiền, trên nguyên tắc không ngoài 3 yếu tố là điều thân, điều tức, điều tâm, mục đích ở chỗ điều hòa thân tâm, quan trọng là không được rời khỏi hơi thở mà nói đến sức khỏe và thống nhất của thân tâm. Dưới đây chúng tôi từ 3 yếu tố này cùng nói về phương pháp cơ bản của tu hành thiền định.

(II) Điều thân

Phương pháp chủ yếu của điều thân nói chung là tư thế ngồi thiền. Nhưng ngoài tư thế ngồi ra, còn có các phương pháp như đi, đứng, nằm; trước khi ngồi và sau khi ngồi cũng cần có phương pháp vận động và xoa bóp; cho tới ăn cơm, đi vệ sinh, đều có phương pháp của nó. Bởi vì thân tâm của chúng ta nếu muốn nó khỏe mạnh thì bắt buộc phải chú ý đến cả hai động và tĩnh, được gọi là trong động có tĩnh, trong tĩnh có động. Trong động có tĩnh tức là dùng phương pháp vận động và xoa bóp khiến cho huyết dịch tuần hoàn thông suốt, mạch khí vận hành nhanh nhẹn, cơ bắp và thần kinh thư giãn, mới có thể làm cho cơ thể thoải mái, tức là khí hòa tâm bình. Cho nên Thiền giả Ấn Độ có thể thao Yoga; Thiền giả Phật giáo Trung Quốc có quyền Pháp của Thiếu Lâm tự; phương pháp vận động của phái Đan đạo Đạo gia, thì có rất nhiều, sau này phát triển thành Thái cực quyền. Trên thực tế, các loại phương pháp vận động của người phương Đông phần lớn đều có quan hệ liên quan với ngồi thiền, hơn nữa là vì nhu cầu ngồi thiền mà có phương pháp vận động, thậm chí phương pháp vận động lúc đầu cũng là do tu hành của Thiền giả, cơ thể tự nhiên phát sinh các động tác vận động có quy luật, mềm mại, cũng giống như nguyên lý châm cứu trong y thuật Trung Quốc đời sau dựa theo vị trí kinh mạch và huyệt đạo của cơ thể, lúc đầu cũng được phát hiện trong khi vận khí ngồi thiền vậy. Bây giờ rất nhiều người chia rời quyền Pháp, châm cứu với tu hành thiền định, điều này không đúng.

Cơ thể thiếu vận động, chức năng sẽ dễ lão hóa và nhiễm bệnh, vận động là giúp cho chức năng sinh lý từ căng thẳng trở nên thư giãn, có thể có được càng nhiều dinh dưỡng cung cấp và cơ hội nghỉ ngơi. Phương pháp vận động của Thiền giả là chú trọng ở tập trung tâm niệm, điều hòa hơi thở, tuyệt đối không phải như quyền thuật phát triển sau này có thể so sánh; bản thân vận động của Thiền giả là một loại phương pháp tu hành thiền định. Cho nên đối với phương pháp điều thân, tôi kết hợp cả hai cái là vận động và ngồi thiền với nhau.

(III) Phương pháp vận động

Phương pháp vận động mà tôi dạy, khi làm chỉ cần 2 mét vuông hoặc chiều dài cơ thể của một người, cho tới một khoảng không gian nhỏ chỉ đủ ngồi xuống và đứng lên, như vậy là đủ, hơn nữa bất luận nam nữ già trẻ, cường tráng hay suy yếu, đều có thể luyện tập một cách an toàn. Nhưng vì tiến độ học tập, cho nên tôi chia ra thành mấy giai đoạn sau:

1. Sơ cấp

Cùng lúc bắt đầu tu tập phương pháp ngồi thiền thì dạy học sinh luyện tập.

(1) Vận động của phần đầu - Dùng cho trước khi ngồi thiền và sau khi ngồi xuống. Trước tiên để hai tay lên hai đầu gối phải trái, không cần dùng sức, cơ thể ngồi thẳng, làm 4 phương thức vận động phần đầu: ①Cúi đầu xuống, rồi ngửa đầu ra sau. ②Đầu nghiêng sang phải, rồi nghiêng sang trái. ③Quay đầu ra sau sang phải, rồi quay đầu ra sau sang trái. ④Quay đầu theo hướng kim đồng hồ, trước, phải, ngửa, trái, rồi quay ngược lại kim đồng hồ trước, trái, ngửa, phải. Mỗi lần làm cơ thể không động đậy, cơ bắp và thần kinh thư giãn, mỗi động tác làm 3 đến 7 lần. Động tác từ từ mềm mại, mắt mở ra, hít thở tự nhiên. Mục đích của vận động phần đầu là khiến giảm thiểu huyết dịch ở phần đầu, giảm thấp động lực lên xuống của dòng suy nghĩ, khiến đầu óc tươi mới, dần dần yên tĩnh.

(2) Xoa bóp toàn thân - Sau khi kết thúc ngồi thiền, trước khi đứng lên, xoa ấm hai lòng bàn tay, trước tiên dùng ngón tay cả nhẹ nhàng xoa bóp hai bên mắt, rồi dùng hai lòng bàn tay xoa bóp theo thứ tự từ phần mặt, trán, cổ sau, hai bên vai, hai cánh tay, cho tới mu bàn tay, ngực, bụng, lưng, eo, rồi xuống dưới đùi, đầu gối, bắp chân bên phải, và đùi, đầu gối, bắp chân bên trái. Cách vận động tự mình xoa bóp này có thể giúp tiêu trừ hoàn toàn sự mệt mỏi do mới đầu học ngồi thiền, thân tâm cảm thấy mềm mại, ấm áp và thoải mái. Chỉ có điều khi xoa bóp cần phải tập trung sức chú ý vào lòng bàn tay hoặc đầu ngón tay.

(3) Vận động mềm mại Yoga - Phần này lược bỏ.

(4) Phương pháp đi - Ngồi thiền lâu khiến đùi cảm thấy không quen, thì có thể dùng phương pháp đi để điều nhiếp thân tâm. ①Đi nhanh, Thiền đường Trung Quốc gọi là “Chạy hương”, theo hướng thuận kim đồng hồ, trong Thiền đường, vung cánh tay trái, vung cánh tay phải, người già yếu đi vòng trong, người khỏe mạnh đi vòng ngoài, càng đi càng nhanh. Lúc này trong tâm của người tu hành, ngoại trừ cảm nhận bước đi nhanh hơn ra, thì không được có bất kỳ một suy nghĩ nào khác. ②Đi chậm, danh từ của Phật giáo gọi là “Kinh hành”. Cái mà tôi dạy là Kinh hành cực chậm, tập trung sức chú ý vào phía trước lòng bàn chân, tay phải nắm nhẹ, tay trái nắm nhẹ tay phải, đặt ở trước bụng, cách cơ thể một đốt ngón tay. Nếu biết nỗ lực, đi nhanh đi chậm đều có thể khiến quý vị nhất tâm nhập định.

(5) Phương pháp đứng - Hai chân cách nhau với khoảng cách bằng một chân của mình, thả lỏng, nhẹ nhàng từ đầu đến bụng , đặt trọng tâm và cảm giác của trọng lượng lên phần trước bàn chân .

(6) Phương pháp nằm - ①Nằm nghiêng về bên phải là phương pháp tốt nhất, cho nên gọi là “Cát tường ngọa”, có thể giúp quý vị ít mơ, ngủ sâu, tỉnh táo, không ngáy, tiêu hóa tốt, không di tinh. ②Nằm ngửa, thích hợp với nghỉ ngơi tạm thời, thả lỏng cơ bắp toàn thân, không dùng chút sức nào, có thể nhanh chóng tiêu trừ mệt mỏi; nếu dùng vào giấc ngủ dài ban đêm, đây không phải là phương pháp tốt nhất.

(7) Phương pháp sinh hoạt thường ngày - Thiền tông thường nói: Những việc thường ngày như ăn cơm, rửa bát, đi ngoài, đi tiểu, gánh nước, chặt củi, không có gì không phải là thiền, hàm nghĩa cực sâu, người chưa thật sự đạt ngộ cảnh thì không dễ hiểu. Người mới bắt đầu học thiền, nếu có thể làm bất kỳ việc gì ở bất kỳ hoàn cảnh nào đều không lơ là, không sinh tạp niệm mà tập trung sức chú ý, tuy chưa thể nhập thiền định, cũng có thể giúp quý vị nâng cao hiệu suất công việc, cuộc sống trở nên có công suất và ổn định.

2. Trung cấp và cao cấp

Tập luyện ngồi thiền và phương pháp vận động có quan hệ mật thiết, luyện tập càng lâu, phương pháp vận động cũng theo đó tăng thêm hạng mục. Bởi vì bài viết này chỉ cung cấp tham khảo, không dùng làm sách dạy học, nên chỉ cung cấp phương pháp sơ cấp, đối với đọc giả chưa từng học qua thì có thể luyện tập, nhất định có tác dụng, song chưa chắc có thể luyện được rất tốt, bởi vì không có người bên cạnh hướng dẫn quý vị về độ chính xác của tư thế động tác. Phương pháp vận động trung cấp và cao cấp có đứng, có ngồi, cũng có nằm và lộn ngược .v.v. Đương nhiên, vận động của Thiền giả lấy sự từ từ, mềm mại, an định, an toàn làm nguyên tắc.

(IV) Tư thế ngồi thiền

Tư thế ngồi thiền được phát hiện bởi người tu hành cổ Ấn Độ, truyền kể Tiên nhân cổ xưa trải qua vô số khó khăn, tu đạo nhưng không đắc đạo, sau đó phát hiện ra một bầy khỉ trong núi Tuyết Sơn thâm sâu, chúng đang dùng phương pháp ngồi thiền tu đạo, Tiên nhân cổ ngồi xuống học theo, liền thành đạo. Thường tình mà nói, khỉ không biết ngồi thiền, các động vật khác cũng không có điều kiện, thể hình để ngồi thiền, trong các loài động vật chỉ có loài người mới có điều kiện ngồi thiền, đó chỉ là truyền thuyết, chỉ là trong ghi chép lịch sử không thể tìm thấy cội nguồn của người Ấn Độ, nên nói ra câu truyện có hàm ý sâu xa. Ý nghĩ tuy là nông nổi bộp chộp như khỉ cũng cần thiết và có khả năng ngồi thiền. Cách ngồi đó có tên là “Tỳ La Già Na thất chi tọa Pháp”.

1. bảy bước ngồi

(1) Hai chân kiết già - Có hai kiểu: ①Thông thường chân trái để dưới, chân phải để trên đùi trái, chân trái để lên đùi phải, gọi là như ý cát tường tọa. ②Hoặc chân phải để dưới, chân trái để lên đùi phải, chân phải để lên đùi trái, được gọi là bất động kim cang tọa. Hai cách ngồi này đối với người nhiều tuổi và người mới học ngồi thiền, thì không phải ai cũng có thể làm được.

(2) Cột sống thẳng đứng - Dựng thẳng lưng, đừng ưỡn ngực, đỉnh đầu vuông góc lên trời, hàm dưới thu vào, họng ép thanh quản.

(3) Tay kết Pháp giới định ấn - Hai tay kết vòng, tay phải ở dưới, tay trái ở trên, hai ngón tay cái chạm vào nhau thành hình vòng tròn, đặt nhẹ ở bụng dưới đan điền.

(4) Thả lỏng hai vai - Thả lỏng cơ bắp ở hai bên vai, tự cảm thấy trạng thái không có vai, không có cánh tay, không có tay.

(5) Đầu lưỡi liếm nhẹ hàm trên - Đặt nhẹ đầu lưỡi ở tuyến nước bọt của lợi trên răng cửa, không dùng sức, nếu có nước bọt thì từ từ nuốt xuống bụng.

(6) Ngậm miệng - Bất luận thời điểm nào, chỉ dùng mũi để thở, không được mở miệng hít thở, trừ phi mũi có vấn đề.

(7) Mắt mở nhẹ - Tầm nhìn đặt vào một điểm trên mặt đất cách cơ thể 2-3 mét, không phải nhìn gì, chỉ vì mắt mở lớn thì tâm dễ tán loạn, nhắm mắt lại thì tâm dễ hôn trầm. Nếu mắt mở quá lâu mà cảm thấy mệt mỏi, thì có thể nhắm lại một lúc.

Đối với nội dung thứ tự của bảy cách ngồi, cách nhìn của mọi người cũng không nhất thiết giống nhau, có người kết hợp phương pháp điều tức và điều tâm cùng trong bảy bộ phận, bài viết này vì tiện cho việc phân loại giới thiệu, nên chỉ lấy phần điều thân làm nội dung của bảy bộ phận.

2. Các cách ngồi khác

Do bởi người mới học ngồi thiền không nhất định có thể ngồi kiết già, đối với người chưa từng học qua ngồi thiền, vừa mới bắt đầu đã yêu cầu họ ngồi kiết già thì cũng không hợp lý, thậm chí cũng sẽ bởi thế khiến cho nhiều người hy vọng thử nghiệm ngồi thiền bị hù chạy mà chỉ đứng ở ngoài cửa tu đạo. Bây giờ tôi giới thiệu với người mới học một số cách ngồi khác từ khó đến dễ như sau:

(1) Bán già tọa - Người không thể ngồi kiết già, hoặc ngồi kiết già đã lâu cảm giác đau nhức khó chịu, thì có thể bỏ một chân ở trên xuống, để dưới bắp chân của chân kia. Hoặc khi mới bắt đầu chỉ đặt một chân lên trên đùi của bên kia. Chân trái đặt dưới bắp chân phải, hoặc chân phải đặt dưới bắp chân trái, đều được.

(2) Giao cước tọa - Hai chân đều đặt trên đất, thu vào trong và đằng sau, hai lòng bàn chân hương lên trên, đặt dưới hai bên bắp chân và hai bên đùi.

(3) Khóa hạc tọa - Còn được gọi là Nhật Bản tọa, bởi vì người Nhật Bản từ trước đến nay vẫn sử dụng phương thức này làm thế ngồi chính thức trong phòng kiểu Nhật. Tức là hai đầu gối quỳ xuống, hai ngón chân cái đặt trên dưới giao nhau, phần mông ngồi lên trên hai chân. Trung Quốc cổ đại khi chưa dùng bàn ghế cao, người bình thường trong những nơi tôn nghiêm cũng ngồi như thế.

(4) Thiên Thần tọa - Chân trái ngồi như kiểu bán già, co vào trong, đặt trước thân. Chân kia co vào hướng ra ngoài, đặt ở một bên sau thân. Cho đến nay, tín đồ Phật giáo Thượng tọa bộ Nam truyền khi ngồi nghe Pháp thường dùng kiểu ngồi này, và bước đầu khi ngồi thiền cũng dùng phương thức này.

(5) Như ý tự tại tọa - Kiểu này bắt chước Bồ Tát bát tướng thành đạo, là tư thế trước khi từ cõi trời Đâu Xuất giáng xuống nhân gian, chân trái ngồi như kiểu bán già, co vào trong, gót chân đặt trước phần đáy chậu, chân phải để thẳng, co gối đặt trước ngực phải, hai tay phải và trái để thẳng đặt riêng lên đầu gối phải và trái.

(6) Chính khâm nguy tọa - Các cách ngồi trên đều là ngồi trên đất, còn cách này là ngồi trên ghế cao đến đầu gối, hai bàn chân đặt phẳng trên đất, hai bắp đùi vuông góc với mặt đất, khoảng cách giữa hai đầu gối bằng một nắm đấm, lưng không được dựa vào bất kỳ một thứ gì, phần mông ngồi vững, hai đùi bỏ lửng, tạo thành góc vuông với bắp chân.

Sáu cách trên, ngoại trừ thế ngồi khác nhau và thế tay của như ý tự tại tọa khác nhau, còn đâu đều dùng tiêu chuẩn quy định từ mục 2 đến mục 7 của 7 bước ngồi. Đương nhiên, thế ngồi có thể lâu dài ổn định có hiệu quả lớn nhất và nhanh nhất vẫn là kiểu ngồi khó nhất kết kiết già tọa, là đáng tin cậy nhất. Bởi thế người mới học cần cố gắng dùng cách ngồi mà mình cảm thấy thoải mái nhất, khiến bản thân không lo lắng làm nguyên tắc, dần dần thử cách ngồi khó hơn, như vậy có ích mà không có hại.

(V) Điều tức và điều tâm

Hơi thở điều hòa thoải mái, tâm cảnh mới có thể bình tĩnh ổn định. Quan hệ giữa tâm trạng và hơi thở có liên quan mật thiết, hơn nữa muốn điều tâm, trước hết cần phải bắt đầu từ điều tức, bất luận nó được gọi tên là gì, Đạo gia Trung Quốc, Yoga của Ấn Độ, Mật tông Tây Tạng, Thiên Thai tông Trung Quốc, nói đến thứ tự tu hành thiền định, nhất định coi trọng vấn đề về hít thở và khí. Bởi vì động tĩnh của sinh lý cơ thể và động tĩnh của tâm lý, có quan hệ liên quan với khí và tức của sự hít thở. Đối với định nghĩa của nguyên tắc mà nói, “hít thở” là xuất nhập tức của mỗi người bình thường từ 16 đến 18 lần mỗi phút. Khi hơi thở của người tu hành dần dần chậm lại kéo dài và sâu, được gọi là “Tức”. Do bởi sức mạnh của tức, thúc đẩy huyết dịch chế tạo nguồn năng lượng, từ nguồn năng lượng sản sinh tác dụng của chức năng sinh lý, được gọi là “Khí”. Khi người tu hành cảm nhận được tác dụng do khí sản sinh ra, thì được gọi là “Giác thọ”, người có được kinh nghiệm giác thọ, sẽ cảm thấy ngồi thiền đối với họ thực sự là hạnh phúc và ơn huệ lớn của cuộc đời.

1. Phương thức hít thở

Phương thức hít thở có thể chia làm 4 loại:

(1) Phong - Khi vận động kịch liệt, hoặc vừa mới vận động kịch liệt, như đánh bóng rổ, đã bóng bóng .v.v. tốc độ và cường độ của hơi thở như gió thổi, đều không thích hợp ngồi thiền.

(2) Suyễn - Khi cảm thấy lo sợ, căng thẳng, bệnh đau, suy nhược, hưng phấn, mệt mỏi, tâm trạng nhất định sút kém, tinh thần u mê, cũng không thích hợp ngồi thiền, cần nằm xuống hoặc ngồi nghỉ ngơi, sau khi cảm thấy bình tĩnh thoải mái rồi mới có thể ngồi thiền.

(3) Khí - Là sự hít thở bình thường của mọi người nói chung, mỗi phút hít thở từ 16 đến 18 lần, bản thân có thể nghe thấy tiếng hít thở. Đây là yêu cầu thấp nhất đối với người mới đầu ngồi thiền, cũng là tốc độ hít thở an toàn.

(4) Tức - Có thể được chia làm 4 loại:

①Tỵ tức: Khi ngồi thiền dùng lỗ mũi hít thở là phương pháp cơ bản, tốc độ ban đầu cũng là 16 đến 18 lần mỗi phút. Khác với khí là không nghe thấy tiếng hít thở, hít thở là tốc độ bình thường, cho nên hít vào và thở ra chủ yếu là dựa vào nhịp tự nhiên của phổi, không được lấy sự chú ý để khống chế nó, bằng không nếu tốc độ nhanh lên thì sẽ chóng mặt, còn tốc độ chậm lại sẽ thấy tức ngực. Nếu cảm thấy khó thở, ví dụ khi chóng mặt hoặc tức ngực cần chú ý điều tức, độ dài thời gian thích hợp là khoảng 4 giây làm một lần hít vào một lần thở ra, là có hiệu quả nhất.

②Phúc tức: Vẫn dùng lỗ mũi hít thở, nhưng trọng tâm của hít thở không ở phổi, mà ở bụng, khi mới học không nên miễn cưỡng dùng phương pháp khống chế và ép khí, ép buộc khí hít vào đưa vào đan điền (phần bụng). Thông thường người học ngồi thiền sau khi trải qua một thời gian, hít thở khí đương nhiên tự động thông qua cơ hoành đến đan điền, lúc đó thân tâm người tu hành sẽ đột nhiên cảm thấy thư giãn thoải mái, hơi thở cũng càng ngày càng chậm, càng ngày càng dài, càng ngày càng sâu, càng ngày càng đủ, không chỉ cảm thấy phần phổi đủ, đan điền đủ, mà mỗi một tế bào toàn thân đều cảm thấy đầy đủ. Nhịp tự nhiên của hít thở dần dần sẽ không ở phần phổi, mà đã ở phần bụng. Nhưng không phải là gồ bụng lên, mà là lấy bụng thay cho chức năng của phổi.

③Thai tức: Khi thai nhi ở trong thai mẹ không dùng lỗ mũi hít thở, mà dùng hệ thống tuần hoàn nối kết với cơ thể mẹ để hít thở. Người tu hành thiền định do bởi phúc tức càng tiến thêm một bước là không dùng lỗ mũi hít thở, mỗi một lỗ chân lông đều có thể trở thành cơ quan hít thở. Mạch lúc này như có như không, nhưng nó vẫn cần dựa vào khí oxy bên ngoài để bổ sung khí cần thiết cho cơ thể. Lúc này lấy vũ trụ lớn làm thai mẹ, cơ thể của chính mình là thai nhi trong bào thai.

④Quy tức: Trong các loài động vật, thọ mệnh của rùa là cực dài, thậm chí đem nó chôn dưới đất vài trăm năm, không ăn uống, không có không khí, cũng có thể tiếp tục sự sống. Ngồi thiền đạt đến trình độ thiền thứ tư, tự nhiên không cần hít thở không khí, thậm chí tim cũng ngừng đập, không giống với thi thể đã chết, cơ thể không thối rữa, tổ chức sinh lý vẫn như người sống. Giữa thai tức và quy tức, nếu định lực càng sâu, thì càng gần với quy tức, cho tới hoàn toàn ở trong trạng thái quy tức. Lúc này cơ thể người tu hành đã tự hình thành một vũ trụ nhỏ riêng, sự vận hành của khí và năng lượng trong cơ thể họ tự cấp tự đủ, không cần thiết hít thở không khí ở bên ngoài để cung cấp cho tiêu hao của năng lượng cơ thể. Đương nhiên, người mới học ngồi thiền không được tham vọng viển vông, gấp gáp vội vàng, mà nên luyện tập tốt tỵ tức, rồi mới có thể đạt đến phúc tức, như vậy đã khá lắm rồi.

2. Phương pháp điều tức

Phương pháp điều tức, Đạo gia Trung Quốc gọi là “thổ nạp”, nạp vào khí của thiên địa nhật nguyệt để dưỡng sinh, nhả ra khí đục trong cơ thể để giữ sự sống, là phương pháp tu luyện đan đạo. Người hành Yoga Ấn Độ, đặc biệt coi trọng luyện tập các cách hít thở, sản sinh năng lượng sự sống cùng với năng lượng siêu thường hoặc năng lượng tuyệt đối (năng lượng tự nhiên hợp nhất với Thần linh), đó là lấy phương pháp hít thở làm trọng điểm luyện tập. Khởi điểm tu hành của Phật giáo không khác mấy so với ngoại đạo, điều khác nhau là điều tức là phương tiện nhập môn, chứ không lấy điều tức làm Pháp môn căn bản. Mục đích của điều tức là ở điều tâm, khi tâm được điều phục, có phương pháp hít thở hay không thì không còn quan trọng.

Cách điều tức mà tôi dạy có hai loại:

(1)Đếm hơi thở——Trước khi đếm hơi thở, đầu tiên hít thở sâu 3 lần, khi hít thở sâu đặt hai tay lên bụng, dùng mũi hít khí lần thứ nhất, đưa vào bụng, làm bụng gồ lên, rồi thu bụng lại, tiếp tục hít khí, làm phần phổi gồ lên, nhún nhẹ vai, cố gắng hít vào, sau đó nín thở 15 giây, mới từ từ dùng miệng nhả khí ra, đồng thời cúi người đến lúc không thể cúi xuống được nữa. Sau 3 lần hít thở sâu, ngồi ổn định tư thế, bắt đầu đếm hơi thở. đếm hơi thở cũng có các phương pháp đếm khác nhau:

①Đếm thuận: Lại có 2 loại, một là đếm hơi thở ra, đây là loại thường được dùng nhất, tập trung sức chú ý vào số của hơi thở ra được đếm, mỗi lần thở ra thì đếm một số, đếm đến 10, lại quay lại từ 1, cứ vậy đếm liên tục, đếm đến khi tâm không còn tạp niệm, thân tâm sẽ xuất hiện cảm giác vui vẻ lạ thường. Hai là đếm hơi thở vào, cũng giống như phương pháp đếm hơi thở ra, chỉ có là tập trung sức chú ý vào số của hơi thở vào được đếm. Do bởi hít thở của người bình thường chậm, cho nên đếm hơi thở ra dễ làm cản trở tạp niệm xâm nhập hơn.

②Đếm ngược: Khi người tu hành đếm thuận, dần dần trở nên máy móc hóa, khi trong tâm lấy việc đếm số trở thành hành vi không còn ý thức hoặc theo phản xạ, thì tạp niệm lại có cơ hội sống dậy, cho nên có thể đếm ngược trở lại, từ 10, 9, 8 cho tới 1.

③Đếm cách: Khi đếm ngược lại trở lên máy móc hóa, có thể thuận theo số lẻ hoặc số chẵn để đếm, số lẻ đếm đến 19, số chẵn đếm đến 20. Cũng có thể đếm ngược số chẵn từ 20 hoặc số lẻ từ 19.

(2)Tùy tức——Sau khi dùng phương pháp đếm hơi thở tu hành đạt đến tạp niệm dần giảm ít, thì có thể không cần số đếm, nhưng cần tập trung sức chú ý tại hơi thở vào và ra đều phải rõ ràng. Có thể chia làm 2 loại:

①Tùy tỵ tức: Sức chú ý tại mũi, cảm nhận sự xuất nhập của hơi thở, không cần chú ý tới bộ phận và nơi đến của hơi thở, nhưng chỉ cần quý vị đạt đến trình độ hơi thở và tâm hợp nhau thành một thể là được.

②Tùy tức tưởng: Mỗi lần hít vào, thì nghĩ: “Hít một hơi cạn nước ngàn sông”, mỗi lần thở ra, thì nghĩ: “Nhả một hơi vượt ngàn dặm núi”. Liên kết thân tâm của mình với thế giới núi sông bên ngoài thành một theo sự xuất nhập của hơi thở. Đương nhiên không phải bảo quý vị hít vào nước, nhả ra núi, mà là dung hòa thân tâm nội tại với thế giới ngoại tại thành một thể tùy theo sự xuất nhập của hơi thở. Thực ra, điều này đã từ phạm vi điều tức đi vào trong lĩnh vực của điều tâm.

3. Phương pháp điều tâm

Phật Pháp được gọi là “Nội học”, cho nên tất cả các Pháp mà Phật nói ra, không có Pháp nào không phải là phương pháp điều tâm dạy chúng sinh hướng vào nội tâm của chính mình mà nỗ lực. Đại cương của Phật Pháp gọi 3 loại vô lậu học đó là giới, định, tuệ. Trong đó lấy thiền định làm phương pháp căn bản tu đạo, giới là phương pháp cơ sở của tu đạo, tuệ là hiệu quả mà tu đạo đạt được. Nếu không có giới quy định về thái độ cuộc sống những gì được làm và không được làm, thì tu định sẽ không thể đạt được thành tựu; cho dù có được thành tựu, cũng sẽ lạc vào tà đạo mà tự hại hại người. Cho nên giới là quy phạm đạo đức của giáo nghĩa Phật giáo, cũng là phương pháp cơ bản của điều tâm; lý luận triết học của giáo nghĩa Phật giáo là kết tinh của phương pháp điều tâm. Trọng điểm của bài viết này là ở chỗ giải thích phương pháp tu tập thiền định.

Đối với lập trường của tu đạo mà nói, không thể nói chỉ có tu thiền định mới là tu đạo, song tu thiền định thực chất là phương pháp chủ yếu của tu đạo. Điều tức là nhập môn của tu định, điều tâm thì là phương pháp chủ yếu của tu định. Một trong mười danh hiệu của đức Phật, tên là “Thiên nhân điều ngự sư”, nghĩa là trong cỏi trời và người Đức Phật là một người đã hoàn toàn điều phục và kiểm soát được tâm, cũng là một vị đại sư trong cõi trời và loài người có thể giúp đỡ chúng sinh điều nhiếp thân tâm tốt nhất. Từ phương pháp tu thiền định mà nói, điều tâm có thể dùng những quán tưởng sau:

(1) Quán tưởng những thứ ngoài thân - Chọn bất kỳ một vật ngoài thân làm đối tượng tập trung tâm niệm, như quán tưởng mặc trăng hoặc mặc trời; hoặc phân tích bất kỳ một sự việc hoặc một vật nào đó làm đối tượng chuyển biến tâm niệm, như nhân duyên quán và bất tịnh quán.

(2)Quán tưởng công đức của đất, nước, lửa, gió - Quán tưởng tâm của mình thành bất kỳ một loại công đức nào của đất, nước, lửa, gió, hóa trừ phiền não, vọng niệm, đi vào định cảnh ngưng kết bất động mà lại rõ ràng sáng suốt. Ví dụ đất có thể hóa mục nát thành thần kỳ, chứa đựng tất cả mà lại sinh trưởng tất cả, nhưng bản thân nó trước sau yên lặng bất động. Nước có thể rửa sạch hết cặn bẩn, nhập trăm sông thành biển lớn, nuôi dưỡng vạn vật, biến hóa vạn tượng, mà lại không tranh công, không đổ lỗi.

(3)Lấy chức năng bộ phận cơ thể tiếp nhận đối tượng ngoài thân - Dùng mắt nhìn màu sắc và hình sắc, dùng tai nghe các loại âm thanh, dùng mũi để thở, dùng lưỡi liếm hàm trên, dùng cơ thể cảm nhận to nhỏ và nóng lạnh v.v. Trong đó dùng mũi để thở là phương pháp hữu hiệu cơ bản nhất, mắt nhìn và tai nghe, tốt nhất cần có thầy giáo hướng dẫn đắc Pháp, mới có thể hữu hiệu an toàn; lưỡi liếm hàm trên là yêu cầu cơ bản của ngồi thiền; bộ phận cơ thể có rất nhiều, khi mới học không dễ dùng đến, nếu chỉ lấy cảm nhận quán tưởng lạnh ấm hoặc nóng thì rất dễ phát sinh vấn đề không thể điều hòa.

(4)Quán tưởng ngũ tạng trong thân - Đạo gia Trung Quốc dùng ngũ hành là kim, mộc, thủy, hỏa, thổ làm đại diện cho ngũ tạng, ngũ hành quy nhất làm phương pháp quán tưởng đan điền, hoặc phương pháp ngũ hành tương kỵ tương sinh, dẫn dắt chức năng của tạng khí, tăng trưởng sức khỏe của nhục thể. Sáu hoặc bảy linh cầu (chakras) của Yoga Ấn Độ cũng là phương pháp quán tưởng lấy ngũ tạng làm chính.

(5)Quán tưởng một bộ phận nào đó của cơ thể - Như quán tưởng phần giữa lông mày, mũi, lòng bàn chân v.v. Người mới học ngồi thiền nếu không có minh sư hướng dẫn thì chỉ có thể tu bằng phương pháp đếm hơi thở để điều tâm, cũng có thể dùng phương pháp tùy tỵ tức; để được an toàn và đáng tin cậy, tốt nhất vẫn là mời người đã có kinh nghiệm hướng dẫn. Còn những các loại phương pháp khác được giới thiệu ở trên, nếu không có người có kinh nghiệm hướng dẫn thì tốt nhất không nên tìm hiểu, cho nên bài viết này cũng không giải thích chi tiết. Đây là vấn đề kỹ thuật, nếu chỉ dựa vào lời nói trên sách vở để luyện tập thì không đủ an toàn.

Lớp sơ cấp mà tôi dạy ở Mỹ, chỉ dạy 1 hoặc 2 loại phương pháp điều tâm, học hết lớp trung cấp có thể học đến 6 hoặc 7 loại phương pháp điều tâm; nhưng người có thể học mỗi loại đều đạt đến hiệu quả thì không nhiều, nguyên nhân là cơ sở của ngồi thiền chưa đủ, nếu chỉ học phương pháp thôi thì không có lợi ích, học rồi mà không cần cù luyện tập thì cũng không có tác dụng. Khi luyện tập nếu phát sinh vấn đề khó khăn có cái có thể tự mình giải quyết, song có cái bắt buộc phải có thầy hướng dẫn mới có thể khắc phục.

4. Quá trình điều tâm

Tâm của chúng ta thường ở trong 2 loại trạng thái cực đoan: Khi đầy đủ tinh lực, cực nhiều tinh thần, không dễ yên tĩnh, càng không dễ ổn định, còn khi không có việc để làm thì sẽ cảm thấy lẻ loi vô vị; khi tinh thần mệt mỏi, thì sẽ rơi vào mụ mẫm, u ám, mê muội đờ đững, hoặc là sau khi làm việc cả ngày thì sẽ cần có giấc ngủ. Cái trước, bệnh do tâm tán loạn; cái sau, bệnh ở tâm u mê, hai loại này là kẻ thù lớn của người tu tập thiền định. U mê nhẹ thì có cách chữa trị, ví dụ mở to mắt, tập trung sức chú ý vào phần giữa lông mày, có thể có hiệu quả; u mê nặng thì chỉ có tốt nhất là dùng phương pháp nhắm mắt lại, ngủ một lúc. Đại đa số các phương pháp điều tâm là dùng để chữa trị tâm tán loạn. Tôi chia quá trình điều tâm làm 7 giai đoạn, lấy đếm hơi thở làm ví dụ, dùng ký hiệu để biểu thị tâm thái như sau:

(1) Trước khi đếm hơi thở, không có đối tượng tập trung tâm lực, tâm niệm phức tạp, nghìn biến vạn hóa lên xuống không thôi, sinh diệt không ngừng tùy theo ngoại cảnh hiện tại, hoặc hồi ức quá khứ, hoặc thiết tưởng tương lai.

(2) Khi bắt đầu đếm hơi thở, số đếm lúc liên tiếp lúc gián đoạn, vọng tưởng tạp niệm vẫn trỗi dậy, nhưng đã có đối tượng chủ yếu để tập trung sức chú ý.

(3)Khi đếm hơi thở, số đếm đã có thể liên tiếp không đứt đoạn 10 phút trở lên, nhưng vẫn có rất nhiều vọng tưởng tạp niệm, đi kèm với chánh niệm của đếm hơi thở.

(4) Khi đếm hơi thở, chánh niệm không đứt đoạn, tạp niệm được giảm thiểu, thỉnh thoảng vẫn có vọng niệm lên xuống, rối nhiễu thanh tịnh của chánh niệm.

(5) Khi đếm hơi thở, chỉ có chánh niệm thanh tịnh, không còn có bất kỳ vọng tưởng tạp niệm nào, những vẫn biết rõ ràng rằng có bản thân mình đang đếm hơi thở, có hơi thở bị đếm, và có con số để đếm hơi thở. Trên thực tế, tuy đến độ chuyên tâm như thế, song vẫn còn có ít nhất 3 suy nghĩ liên tục hoạt động cùng một lúc.

(6) Đếm hơi thở, đếm đến quên đi con số và hơi thở, cảm thấy ngăn cách giữa trong và ngoài của thân, tâm, thế giới không còn nữa, quan niệm đối lập giữa ta và người không còn nữa, giới hạn giữa khách quan và chủ quan không còn nữa, đó là một loại tồn tại không thể hình dung của sự thống nhất, hòa hợp, kỳ diệu, đó là cảm nhận tràn đầy sức mạnh và vui tươi. Lúc này, ít nhất vẫn còn có một suy nghĩ. Cũng chỉ có đến lúc này, mới là có hiện tượng tương ứng với định.

(7) Đếm hơi thở, đếm đến thân, tâm, thế giới, toàn bộ không còn nữa, thời gian và không gian đều vỡ tan, cảm nhận tồn tại và không tồn tại tiêu biến hết, đi vào cảnh giới hư không yên tĩnh, đó là cảnh giới vượt qua tất cả các cảm giác, quan niệm. Chúng ta gọi đó là ngộ cảnh. Không có ký hiệu nào có thể biểu thị, tất cả lời nói, danh từ, hình tướng, khi đến đây đều không còn tác dụng gì nữa.

Bảy giai đoạn trên, thứ nhất là tâm tán loạn, từ thứ 2 đến thứ 5 là quá trình tập trung sức chú ý, thứ 6 và thứ 7 là định cảnh và ngộ cảnh. Nếu nói kỹ, giai đoạn thứ 6 chưa phải là định sâu, mà là sự quán tưởng “thiên nhân hợp nhất” và “cùng Thần tồn tại” mà nhà Tôn giáo, nhà triết học cho tới nhà nghệ thuật nói chung ít nhiều đều có thể thể nghiệm được.

5. Tạp niệm, vọng tưởng, suy nghĩ

Từ thể nghiệm của người tu hành thiền định mà luận vọng tưởng, tạp niệm và suy nghĩ, cũng tất yếu phải phân biệt giải thích. Nói chung, vọng tưởng tạp niệm có thể có 2 loại, một là thô nặng, một là nhỏ yếu. Trong thô nặng, lại có tạp loạn vô vị và không liên quan, tên là tạp niệm, có điều có lý thì tên là vọng tưởng. Trong loại nhỏ yếu, lại có một loạt biến động dễ nhận ra đang chuyển động mà chưa chắc có ý nghĩa, gọi là vọng niệm, và mỗi một biến động không dễ phát hiện ra khi tương đối yên tĩnh, bất kỳ một biến động nào đều không thể biểu đạt cho bất kỳ ý nghĩa nào, được gọi là ý niệm, nếu dùng ký hiệu đường dây để giải thích, cũng có thể như thế này:

(1) Nhóm tạp niệm:

(2) Nhóm vọng tưởng:

(3) Nhóm vọng niệm:

(4) Nhóm ý niệm:

(5) Định cảnh:

Trong đó, ý niệm khởi diệt là cực nhanh, người ngồi thiền có công phu tương đối tốt có thể phát hiện trong 1 giây có 10 ý niệm. Phương pháp tốt nhất để chữa trị tạp niệm vọng tưởng, là “không sợ ý niệm sinh ra, chỉ sợ giác ngộ chậm trễ”. 5 Khi quý vị phát giác quý vị có tạp niệm vọng tưởng, thì tạp niệm vọng tưởng đó đã qua đi, không cần phải vì nó mà phiền não. Đừng sợ tạp niệm vọng tưởng quấy nhiễu quý vị, nếu quý vị cứ vì tạp niệm vọng tưởng như ruồi muỗi xua tay mà không bay đi để rồi phiền não, thì sẽ đem tới càng nhiều tạp niệm vọng tưởng đến cho quý vị. Cần phải biết rằng, khi quý vị có thể phát hiện mình có rất nhiều tạp niệm vọng tưởng, chính là lúc có thể chứng minh quý vị với nỗ lực điều tâm đã đạt được thu hoạch tương đối có trình độ.

(Bài viết này hiện được ghi tại “Thể nghiệm về thiền‧Khai thị về thiền”)

II. Công năng của ngồi thiền

(I) Ngồi thiền tức tài phú

Cận thế đến nay, do bởi khoa học tiến bộ đáng kể, giúp loài người giải quyết không ít các vấn đề khó khăn về môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và các phương diện về sinh lý và tâm lý. Nhưng các vấn đề khó khăn đang đợi chúng ta giải quyết, cũng đi kèm theo những sự tiến triển của văn minh vật chất càng ngày càng nhiều. Trên thực tế, cho đến ngày trái đất hủy diệt, môi trường tự nhiên cộng thêm các vấn đề nan giải của loài người không thể toàn bộ được khắc phục, cho đến thời điểm cơ thể chúng ta chết đi, đối với chức năng của cơ thể không thể hoàn toàn khống chế. Chí ít, loài người không thể cản trở nhiệt năng mặt trời dần dần mất đi, cho nên trái đất già yếu và hủy diệt là việc không thể tránh khỏi. Lại do bởi loài người không thể cản trở chức năng sinh lý dần dần lão hóa, cho nên sự sống của cơ thể ắt sẽ chết đi, cũng là điều không thể tránh khỏi.

Tuy nhiên, khi trái đất còn một ngày mà loài người có thể sinh sống, thì chúng ta phải nghĩ cách cải thiện môi trường tự nhiên, để có lợi cho cuộc sống và sinh tồn của loài người; khi sự sống của cơ thể chúng ta vẫn còn tiếp tục đang sống, thì chúng ta cần phải nghĩ cách cải thiện sức khỏe thân tâm, giúp chúng ta sống một cách thoải mái vui vẻ. Đây tuy là bài học của khoa học hiện đại, nhưng lại không thể đem trách nhiệm này giao cho khoa học hiện đại, bởi vì huy động khoa học cần dựa vào năng lực trí tuệ và thể chất của loài người, muốn tìm ra năng lực trí tuệ và thể chất cao nhất tiềm tàng trong nơi sâu thẳm của thân tâm loài người, chỉ có ngồi thiền mới là phương pháp tốt nhất.

Phương pháp ngồi thiền tuy bắt nguồn từ trí tuệ của người phương Đông, trên thực tế bất luận phương Đông hoặc phương Tây, phàm là nhà Tôn giáo, nhà triết học vĩ đại, nhà chính trị, nhà khoa học, nhà nghệ thuật kiệt xuất, ít nhiều đều phải đạt được năng lực của thiền, cho dù chưa chọn tư thế ngồi thiền nhất định hoặc tên gọi của ngồi thiền, song từ bản chất mà họ phát huy năng lực trí tuệ và nghị lực hơn người mà nói, thì tương ứng với công năng của ngồi thiền, chỉ có điều họ không biết điều đó là do công năng thiền có được mà thôi. Do bởi năng lực bẩm sinh của họ cao hơn người thường, nên trong trường hợp không cảm nhận thấy, mà có thể đạt được nhiều công dụng của thiền, khiến cho họ trở thành người vĩ đại kiệt xuất.

Chúng ta đã biết rằng ngồi thiền là phương pháp tốt nhất để khai thác và phát huy năng lực trí tuệ và thể chất tiềm tàng của loài người. Cho nên thông qua việc luyện tập thiền thì không khó để cải tạo người bình thường trở thành người vĩ đại kiệt xuất, khiến người có năng lực bẩm sinh thấp trở nên ưu tú, khiến người có cơ thể tồi trở nên cường tráng, còn người ưu tú thì càng ưu tú hơn, cơ thể cường tráng thì sẽ càng cường tráng hơn, giúp cho người người đều có khả năng trở thành con người hoàn thiện. Cho nên ngồi thiền là phương pháp tốt nhất để hoàn thiện đời sống, hoàn thiện xã hội, cải thiện tất cả môi trường. Đối với người bình thường mà nói, ngồi thiền có thể giúp cho ý chí kiên cường, khí chất thay đổi. Về phương diện sinh lý, có thể đạt được sức sống mới; về phương diện tâm lý, có thể đạt được hy vọng mói, đối với tất cả các phương diện môi trường xung qanh, thì có thể đạt được nhận thức mới. Bởi thế ngồi thiền có thể giúp quý vị có được sự sống hoàn toàn mới, có thể giúp quý vị phát hiện ra mình hạnh phúc, tự do, sức sống mạnh mẽ nhường nào.

Chức năng của ngồi thiền chủ yếu là do sự tập trung của tâm lực hoặc niệm lực vào một suy nghĩ trừu tượng hoặc cụ thể nào đó. Cho nên ở bất kỳ tư thế nào như đi, đứng, nằm, ngồi, đều có thể phát sinh phản ứng của thiền. Bất luận là khi tâm không có suy nghĩ nào khác ngoài trầm tư, cầu nguyện nhẩm, lễ bái, đọc tụng, cho tới tỷ mỉ xem xét, chăm chú lắng nghe, đều có thể phát sinh phản ứng của thiền. Tuy nhiên những phản ứng của thiền ở trạng thái này chỉ có thể gặp phải chứ không thể cầu thấy được, đối với đại đa số người mà nói thì không dễ dàng phát sinh, cho dù là số ít người thì cũng chỉ ngẫu nhiên phát sinh một hai lần, chứ không thể phát sinh thường xuyên.

Chính vì vậy, phương pháp tu tập thiền bắt nguồn từ phương Đông, đã trở nên tất yếu. Nếu quý vị hy vọng đạt được điều đó, mà đi theo học tập một vị thầy giáo thiền, thì phương pháp này khiến cho quý vị có thể có được kinh nghiệm thiền hiếm có, và trở thành người có tài phú mà người người đều có cơ hội đạt được.

(II) Thân người đáng quý

Muốn có được kinh nghiệm thiền, thì không hạn chế sử dụng loại tư thế đặc biệt nào, ví dụ người đang bị bệnh, người bị khiếm khuyết về chức năng sinh lý, hoặc người công việc bận rộn ngồi chưa nóng chỗ, họ có thể ở bất kỳ nơi nào như nằm trên giường, ngồi trên xe lăn, hoặc đứng ở trạm xe bus, trạm xe điện, trên xe, chỗ làm việc, đều có thể làm theo phương pháp thiền mà thầy giáo đã dạy, thực tập trong vài phút cho tới vài giờ.

Phương pháp hiệu quả lớn nhất, hiệu quả nhanh nhất, đương nhiên là dùng tư thế ngồi xếp bằng. Người mới bắt đầu học ngồi thiền, nhất là người ở độ tuổi trung niên trở lên, nếu muốn quen với tư thế ngồi xếp bằng và hưởng thụ sự thú vị của ngồi thiền, thì cần phải có tâm lý chuẩn bị nhẫn nại do hai chân đau nhức và tê buốt, hai chân nhức và tê cũng chính là quá trình chiến đấu gian khổ với điểm yếu của chính mình, khi họ thông qua được giai đoạn này, chí ít thì ý chí của họ đã chiến thắng tâm lý chùn bước hiện thực mà họ không dám đối diện, trên cảnh giới của cuộc sống, họ đã từ từ tiến thêm một bước về phía trước. Trong tất cả các loài động vật, chỉ có cấu tạo của cơ thể con người mới có thể dùng tư thế ngồi xếp bằng như vậy.

Cho nên phương pháp ngồi thiền chỉ thiết lập cho loài người, lợi ích của ngồi thiền chỉ có con người mới có cơ hội hưởng thụ. Chúng ta nên vui mừng vì được sinh làm người, cũng cần phải nâng niu thân người mà chúng ta có được. Bởi vì từ trong thực tập ngồi thiền mà có thể đạt được 3 lợi ích lớn: 1. Cơ thể vững chắc; 2. Đầu óc nhanh nhẹn; 3. Nhân cách tịnh hóa. Cho nên Phật Thích Ca Mâu Ni thường tán thán tấm thân đáng quý với các đệ tử của mình, đồng thời nhấn mạnh rằng trong các loài chúng sinh từ trên trời cho đến dưới đất, chỉ có chúng sinh có được thân người là thích hợp tu hành Phật đạo nhất.

(III) Hiệu quả ngồi thiền mà các nhà khoa học thấy được

Lợi ích của việc ngồi thiền được phát hiện từ phản ứng của thân tâm. Căn cứ báo cáo trong tác phẩm “Giới thiệu về thiền” (禅のすすめ) của giáo sư tâm lý học tiến sĩ Koji Sato trường đại học Kinh Đô Nhật Bản (Kyoto University), ngồi thiền có 10 loại hiệu quả về phương diện tâm lý:

  • Tăng cường lòng nhẫn nại.
  • Trị liệu các loại bệnh dị ứng.
  • Kiến cố ý chí.
  • Tăng tiến sức suy nghĩ.
  • Hình thành nhân cách viên mãn hơn.
  • Khiến đầu óc bình tĩnh nhanh chóng.
  • Tâm trạng an định.
  • Nâng cao sở thích và năng suất vận động
  • Làm tiêu biến các loại bệnh trên cơ thể.
  • Đạt đến cảnh giới khai ngộ.

Ngoài ra, căn cứ báo cáo trong tác phẩm “Tân y thiền học” (新医学禅) của tiến sĩ y học Nhật Bản Usaburo Hasegawa, đã đề xuất 12 loại hiệu quả của việc ngồi thiền có thể chữa trị 12 loại bệnh tật:

  • Trị liệu chứng dị ứng thần kinh.
  • Chứng axit dạ dày quá nhiều và axit dạ dày quá ít.
  • Bệnh đường ruột.
  • Bệnh lao.
  • Bệnh mất ngủ.
  • Tiêu hóa không tốt.
  • Giãn dạ dày mãn tính.
  • Dạ dày, ruột không có lực co thắt.
  • Táo bón mãn tính.
  • Tiêu chảy.
  • Sỏi mật.
  • Cao huyết áp.

Mục tiêu cao nhất của ngồi thiền đương nhiên là chuyển mê thành ngộ. Nếu mới bắt đầu mà nói về vấn đề mê và ngộ, thì ngoại trừ cực ít người có căn cơ sâu dày ra, thì đối với đại đa số mọi người nói chung điều là không sát thực tế. Cho nên chúng ta không thể không mượn những báo cáo nghiên cứu khoa học để giới thiệu cho đọc giả về hiệu quả của việc ngồi thiền sản sinh đối với thân tâm. Điều này đối với người đã có thể nghiệm ngồi thiền thực tế không có mấy tác dụng; song đối với người hy vọng thử nghiệm ngồi thiền thì có rất nhiều tác dụng cảm hứng.

(IV) Bảo đảm thân tâm an toàn

Trong cuộc sống đời thường, trình độ hiểu biết của mọi người về thân tâm của chính mình là cực kỳ có hạn, một người đối với phương diện hoạt động tâm lý, mỗi ngày rốt cục có bao nhiêu suy nghĩ biến động lên xuống, đương nhiên không thể thấy được, cho dù là 1 phút vừa mới trôi qua, có bao nhiêu những suy nghĩ nào đi qua? Một hai cái chủ yếu hoặc có chút ấn tượng, những suy nghĩ chi tiết hay vừa mới lướt qua, đã không thể rõ ràng. Rồi xét từ phương diện hoạt động của sinh lý, sự thay đổi của các tổ chức tế bào cũ và mới sinh diệt không ngừng, từ kiến thức thông thường mà nói, quý vị đã biết được điều đó, song từ kinh nghiệm cảm giác mà nói, quý vị không thể biết được về nó. Đương nhiên, chúng ta cũng không cần thiết phải làm rõ những vấn đề này.

Quan trọng là mọi người sống trong xã hội công thương nghiệp hiện đại, bất luận là học vấn hay các ngành nghề khác, bất luận là mưu sinh vì cá nhân hay làm phúc lợi vì đại chúng, nơi nơi đều cần vận dụng năng lực trí tuệ cao độ và năng lực thể chất chắc chắn. Nhưng mọi người lại ít biết rằng, trong kho báu sâu thẳm của năng lực trí tuệ và năng lực thể chất có rất nhiều lỗ hổng, làm rớt khá nhiều nguồn năng lượng lớn, đồng thời lại không thể sản sinh đủ năng lượng cần thiết. Đó có thể được gọi là lãng phí nguồn năng lượng, cúng là sự trì trệ của lượng sản xuất, đã không tận lực khai thác, cũng không thể tiết kiệm đúng đắn, thực sự là việc đáng tiếc.

Lỗ hổng này là gì? Đó là các loại vọng niệm tạp loạn, đã tiêu hao năng lực của thể chất, đã làm giảm năng lực của trí tuệ, trong vọng niệm nhất là dục vọng, sân hận, ngạo mạn, thất vọng mãnh liệt khiến cho tâm trạng biến động, đều có thể làm cho tổ chức sinh lý phát sinh rung chuyển, mà mất đi tác dụng thăng bằng. Giả dụ đã học được phương pháp ngồi thiền, thì quý vị có thể giảm thiểu được những vọng niệm tạp loạn và vô ích ấy, khiến cho đầu óc của quý vị duy trì ở trạng thái nhàn nhã thư giãn và bình tĩnh, khi cần thiết sử dụng chúng để giải quyết vấn đề thì có thể phát huy đầy đủ chức năng cao nhất của nó. Lại có thể giúp cho các loại tuyến nội tiết trên toàn cơ thể của quý vị duy trì ở trạng thái làm việc điều hòa lẫn nhau, hợp tác với nhau, thúc đẩy tác dụng giữa hệ thống thần kinh giao cảm và hệ thống thần kinh giao cảm phụ.

Ví dụ tuyến yên, tuyến tùng, tuyến mang tai, tuyết ức của hệ thống thần kinh giao cảm có thể co thắt huyết quản, tăng cao huyết áp, khiến cho chức năng của toàn thân hưng phấn hoạt động trở lại; biểu hiện bên ngoài thì là hiệu quả phản ứng nhanh nhẹn nhạy bén. Các tuyến nội tiết như thượng thận, buồng trứng, tinh hoàn, tuyến tụy của hệ thống thần kinh giao cảm phụ có tác dụng mở rộng huyết quản, giảm thấp huyết áp, làm dịu chức năng hưng phấn; biểu hiện bên ngoài thì là hiệu quả bình tĩnh điềm đạm. Ưu điểm của hai loại cộng lại với nhau, có thể hình thành nhân cách hoàn mỹ, nếu thiên về bất kỳ một bên nào đều có khiếm khuyết của nó.

Chúng ta biết rằng do bởi công việc căng thẳng, sử dụng đầu óc quá sức, hoặc do bởi sự kích thích của các nhân tố bên ngoài, bất luận là cực kỳ vui sướng hay cực kỳ bực tức đều có thể khiến cho số lần huyết quản co thắt, cơ mạch chuyển động tăng cao, huyết áp lên cao, hơi thở gấp gáp, kết quả có thể hình thành các loại bệnh như xuất huyết não, mất ngủ, tim đập nhanh, ù tai, dị ứng thần kinh, tiêu hóa không tốt v.v Đó là bởi vì khi tâm trạng của quý vị bị kích động kịch liệt, do bởi công việc của tuyến nội tiết trong máu của quý vị mất đi thăng bằng, cho nên đã xuất hiện độc tố.

Tuyến nội tiết ở trạng thái làm việc bình thường là thúc đẩy sức khỏe của cơ thể con người. Nếu mất thăng bằng thì sẽ bật đèn đỏ cảnh báo đối với sức khỏe con người. Hiệu quả của ngồi thiền có thể khiến cho tâm trạng biến động của con người chuyển hóa thành trạng thái sáng suốt và bình tĩnh, gặp nguy hiểm mà không sợ hãi; gặp hoan lạc mà không sung sướng; có được mà không cho là nhiều, mất đi mà không cho là ít; nghịch cảnh mà không cho là phiền, thuận cảnh cũng không lấy làm mừng. Cho nên có thể trở thành sự bảo đảm an toàn cho thân tâm.

(V) Điều hòa và giải phóng thân tâm

Nói rõ hơn một chút, hệ thống thần kinh giao cảm và hệ thống thần kinh giao cảm phụ của cơ thể con người thường duy trì phát triển thăng bằng, bằng không, ngoại trừ sinh lý không khỏe mạnh ra, thì việc phát triển tâm lý và tính cách cũng không lành mạnh. Nếu thiên về loại trước, thì là người mẫn cảm, ích kỷ, nóng nảy, dễ cáu và thiếu sự thân thiện, không có duyên. Nếu thiên về loại sau, thì là người thực thà, chất phác, vui vẻ, thân thiện.

Kết quả phát triển của loại người trước, mặt tốt có thể trở thành nhà triết học cô độc và kiêu ngạo, nhà quân sự tinh anh mạnh mẽ, thư sinh giận thói đời; mặt xấu thì có thể trở thành kẻ cố chấp, tàn bào hung dữ, ngỗ ngược ngang bướng. Kết quả phát triển của loại người sau, mặt tốt có thể trở thành nhà Tôn giáo buồn trời thương người, nhà chính trị khoan hồng đại lượng, nhà nghệ thuật có tấm lòng rộng mở; mặt xấu thì có thể trở thành kẻ không có lý tưởng, không biết phân biệt thiện ác, không rõ thị phi, người tốt không đúng chỗ, thiếu nguyên tắc trong việc đối nhân xử thế. Đương nhiên, nếu chỉ phát triển thiên về một bên thì nhất định sẽ theo khuynh hướng xấu, nếu có xuất sắc về mặt tốt thì nhất định ít nhiều đều có sự hòa hợp đắc lực giữa cả hai loại mới được.

Ngồi thiền là điều hòa chức năng của tổ chức toàn thân, đi đến vận hành bình thường, đồng thời là phương pháp giúp cho những chức năng đó có thể phát huy công dụng cao nhất. Bắt đầu với việc dùng phương pháp điều thân, điều khí và điều tâm giảm nhẹ gánh nặng của hệ thống thần kinh giao cảm, xóa nhạt hình ảnh ý thức chủ quan, mở rộng dần giới hạn của trung tâm cái tôi để hướng ra ngoài, cho tới quên đi sự tồn tại của chính mình, ý thức chủ quan sẽ hòa tan vào trong ý thức khách quan, người đến được cảnh giới này, thì phiền não tuy chưa giải trừ triệt để, song đã không còn uy hiếp sức khỏe của thân tâm.

Nguyên nhân của tham dục, sân hận, không cảnh tỉnh bản thân, không tha thứ cho người, không phân tích lý sự mà trở nên phiền não, tức là ý thức chủ quan quá mãnh liệt. Cho rằng, họ tuy đối lập với tất cả các sự vật, nhưng tất cả các sự vật đều không được đi ngược lại với ý thức chủ quan của họ. Khi chưa đạt được, thì họ muốn theo đuổi; sau khi đạt được, thì lại sợ mất đi những sự vật có thể hưởng thụ ấy, rồi lại lo lắng không thể tránh khỏi những sự vật đáng ghét sẽ tới. Cầu không được, đương nhiên phiền não, sau khi cầu được thì vẫn chịu các loại phiền não vây quanh.

Chỉ có phương pháp ngồi thiền có thể chuyển biến tâm thái chủ quan trong trung tâm tự ngã của con người dần dần trở thành tâm thái khách quan, cứu vớt từ đáy của cạm bẫy phiền não chủ quan dần dần hướng lên thế giới tự do khách quan, vì vậy mà đạt được sự giải phóng của thân tâm.

(VI) Trường thọ, hạnh phúc

Giảm nhẹ gánh nặng của hệ thống thần kinh giao cảm, rất có liên quan đến hít thở, mọi người thường luôn lấy phổi làm trọng tâm của hít thở, người ngồi thiền thì lấy trung tâm của hít thở ở phần bụng, chúng ta gọi đó là đan điền, khí hải, mục đích là lấy áp lực của bụng làm trung gian, rồi lấy ý chí chi phối hệ thống thần kinh giao cảm phụ, mở rộng huyết quản, giảm thấp huyết áp, thả lỏng chức năng hưng phấn, bài tiết lượng lớn Acetylcholine, sản sinh chức năng trấn an, yên tĩnh, giải độc.

Trọng tâm của hít thở từ phần phổi rời xuống phần bụng, không phải là công phu một hai ngày có thể làm được. Có những người dạy thuật Yoga và phương pháp khí công chủ trương hít thở bằng bụng để đạt đến mục đích này. Nhưng phương pháp đó không thể áp dụng đối với tất cả mọi người, có những người chức năng sinh lý do bởi bẩm sinh hoặc phát triển sau này khác nhau, nếu dùng cách cưỡng chế cứng nhắc để thực tập hít thở bằng bụng, thì có thể gây ra bệnh tật.

Phương pháp an toàn là để cho nó tự nhiên, tập trung sức chú ý vào hít thở, đừng mong thành công nhanh chóng, duy trì hít thở bình thường liên tục thực tập, lâu ngày, tốc độ hít thở tự nhiên sẽ chậm lại, số lần tự nhiên sẽ giảm thiểu, độ sâu cũng tự nhiên kéo dài xuống, một ngày nào đó quý vị sẽ phát hiện trọng tâm hít thở của mình đã từ phần ngực hạ xuống phần bụng rồi.

Hít thở bằng bụng có thể làm cho huyết dịch trong gan và lá lách vận chuyển đến tim để phát huy chức năng của nó. Gan và lá lách có chức năng tạo máu và lưu trữ máu, trong kho máu này có 1/3 tổng lượng máu của cơ thể con người, còn trong tim và cơ bắp toàn thân mỗi nơi chiếm 1/3. Huyết dịch của gan và lá lách bình thường không đi vào hệ thống tuần hoàn, chỉ có lúc cần thiết mới bổ sung lượng thích hợp cho huyết dịch không đủ trong tim. Hít thở bằng bụng cũng như tăng thêm một quả tim phụ cho cơ thể, khiến cho lượng huyết dịch trong hệ thống tuần hoàn tăng gấp đôi.

Lượng huyết dịch tăng lên, chức năng vận chuyển dinh dưỡng gia tăng, có thể khiến cho tổ chức tế bào đã bị teo có được sức sống mà khỏe mạnh trở lại, khiến cho tổ chức tế bào tắc nghẽn sắp chết được dần dần phục hồi và có chức năng tái sinh. Chính vì vậy ngồi thiền có thể chữa bệnh, có thể giải trừ các loại bệnh kỳ lạ khó chữa, bệnh mãn tính.

Khi quý vị mắc phải những loại bệnh lạ mà y dược khó chữa, thì có thể học tập ngồi thiền. Ngồi thiền tuy không thể như cắt trừ ruột thừa mà giúp người bệnh lập tức giải trừ bệnh tật, nhưng nó có thể an định tinh thần của quý vị, giảm thiểu sự sợ hãi và lo lắng đối với bệnh tật, cũng có thể giảm nhẹ cảm nhận đau khổ của quý vị đối với bệnh tật. Cho dù chức năng sinh lý của con người có thọ mệnh hạn chế nhất định của nó, ngồi thiền không thể khiến cho quý vị vĩnh viễn không già không chết, nhưng nó có thể giúp quý vị sống lâu hơn, sống vui hơn, đó là điều có thể làm được.

(VII) Bồi dưỡng nhân cách hoàn mỹ

Nhân cách hoàn mỹ có thể dưỡng thành từ trong hun đúc của giáo dục, Nghệ thuật, Tôn giáo, nhưng không hoàn toàn đáng tin cậy. Có những người bị cám dỗ bởi dục vọng, của danh lợi và quyền thế, mà tiếp nhận sự hun đúc của giáo dục, nghệ thuật, Tôn giáo, trước mặt mọi người họ có thể biểu hiện nhân phẩm cao thượng và hành vi thánh tiết, nhưng trong nội tâm của họ lại ẩn chứa những dã tâm tham vọng và mưu đồ quỷ kế không thể nói cho người khác biết. Chúng ta gọi những người như thế là nhân cách hai mặt.

Bởi vậy thế gian có những kẻ đạo đức giả được tiếp nhận giáo dục tốt, cũng có ma quỷ tàng hình trong giáo hội, xếp hàng trong đội ngũ giáo sĩ. Bởi vì bất luận là giáo điều của Tôn giáo, luân lý của giáo dục, cái đẹp của nghệ thuật, đều do sự truyền bá của ngoại lai, thậm chí là cao áp quyền uy, những điều đó chưa chắc đều có thể phù hợp với nhu cầu nội tại của cá nhân.

Ngồi thiền là phương pháp tốt nhất để bồi dưỡng nhân cách hoàn mỹ, do bởi sự tự giác được khởi phát ra từ trong nội tâm, mà đạt đến mục đích thăng hoa nhân cách. Không cần phải chịu áp lực của bất kỳ giáo điều nào. Luân lý, đạo đức là những thứ không có tác dụng đối với người ngồi thiền. Hơn nữa, các thước đo tiêu chuẩn, đạo đức của giáo điều và luân lý Tôn giáo đều đánh mất tính thông dụng do bởi sự khác nhau của thời đại, môi trường và đối tượng. Cho nên, sự xuất hiện Tôn giáo mới trong những năm cận thế, giống như măng gặp phải trận mưa xuân vậy, cho tới Phật giáo cũng không ngoại lệ.

Thiền tuy thoát thai từ Phật giáo, bởi nó không mượn ngoại duyên, không lập chữ viết, là Pháp môn tu hành đời đời. Thực tập ngồi thiền là sau khi tách bỏ hoàn toàn cái gọi là “Tự ngã” giống như cây chuối tiêu được bóc ra từng lớp từng lớp vọng niệm, thì không những không thấy được một cái tôi giả tạo nào, mà đến một cái tôi trần trụi cũng không còn thấy được, mới đầu để lộ ra tự ngã, cuối cùng thì hoàn toàn không có vật gì có thể khiến mình được lộ ra.

Cho nên người ngồi thiền không phải che đậy điều gì với người khác, cũng không cần phải cảm thấy có áp lực từ bên ngoài vì muốn cải tạo chính mình, càng không cần thiết phải gắng gượng giống như nhẫn nại đau khổ khi bị cắt trừ nhọt độc vậy.

Ngồi thiền chỉ là làm theo phương pháp tu tập, dần dần giảm thiểu vọng niệm, cho tới khi đạt đến trình độ vô niệm, quý vị sẽ tự nhiên phát giác sự tồn tại trong quá khứ của mình, chỉ có điều tồn tại ở sự tích lũy của một loạt liên kết của vọng niệm phiền não, đó không phải là bản thân quý vị thực sự.

Quý vị thực sự là không thể tách rời khỏi tất cả các sự vật khách quan, sự tồn tại của sự vật khách quan là các phần trong sự tồn tại chủ quan của quý vị mà thôi. Cho nên quý vị không phải theo đuổi gì hết, cũng không cần ghét bỏ gì cả, trách nhiệm của quý vị là làm thế nào để cho toàn thể của chính mình xây dựng được một cách càng có trật tự, càng hoàn mỹ hơn.

Người ngồi thiền khi đạt đến trình độ như vậy, họ sẽ là người thương yêu loài người, và cũng là người thương yêu tất cả chúng sinh. Tính cách của họ sẽ rạng rỡ như ánh nắng mùa xuân; cho dù vì vận dụng phương pháp tiếp dẫn và giáo hóa mà trên gương mặt họ cũng có biểu hiện của yêu ghét vui buồn, song nội tâm của họ thì thường bình tĩnh mà trong suốt như hồ nước mùa thu. Chúng ta gọi loại người này là người đã khai ngộ, hoặc gọi là Hiền giả, Thánh giả.

Phật Thích Ca Mâu Ni từng nói: “Tất cả chúng sinh đều có trí tuệ và công đức của Phật.” Nếu quý vị mong muốn ngồi thiền có thể đạt được lợi ích thì nguyện vọng của quý vị ắt sẽ thành sự thật. Bất luận nam nữ già trẻ, không phân biệt năng lực trí tuệ ưu nhược hay năng lực thể chất mạnh yếu, cũng không quan tâm ngành nghề, địa vị và tín ngưỡng Tôn giáo, cánh cửa lớn của thiền luôn rộng mở cho tất cả mọi người.

Chỉ có một câu nói cực kỳ quan trọng, cần phải nói cho quý vị biết, đó là xem xong bài viết thảo luận về thiền này, bản thân bài viết tuyệt đối không phải là “Thiền”. Việc ngồi thiền còn đang đợi quý vị hạ quyết tâm và bền lòng thực hành học tập theo thầy giáo mà quý vị tin tưởng, bằng không, bài viết này chỉ giúp quý vị tăng thêm một chút dây mơ rễ má về kiến thức, không giúp được gì đối với ý tốt mà quý vị hy vọng học thiền.

(Bài viết này hiện được ghi trong “Thể nghiệm của thiền-Khai thị về thiền”)

III. Thiền và tín ngưỡng

(I) Tu hành thiền Pháp cũng cần tích lũy công đức

Thông thường người có tâm hoặc hứng thú với thiền, không dễ có lòng tín ngưỡng tầng bậc Tôn giáo, bởi vì bản thân tín ngưỡng thuộc về cảm tính; còn người tu thiền lại coi trọng tu hành của chính mình nhiều hơn, hy vọng từ trong tu hành đạt được cảm ứng thân tâm, đạt được kinh nghiệm của thiền, bởi thế rất khó tiếp nhận tín ngưỡng tầng bậc Tôn giáo, thực ra thì đó là điều tuyệt đối sai lầm.

Rất nhiều người đều cho rằng thiền cần hoàn toàn dựa vào chính mình, thuộc về “Tự lực”, người niệm Phật thì hoàn toàn dựa vào “Tha lực”, hai quan niệm này đều không chính xác. Thực ra tu thiền cũng cần phải dựa vào “Tha lực”, niệm Phật cũng cần phải có “Tự lực”. Một người tu thiền không thể nào hoàn toàn dùng sức của bản thân mà có thể hoàn thành. Bất luận là ở Ấn Độ, Trung Quốc hay Tây Tạng, người tu hành thiền định cần phải có thầy giáo, Thần hộ Pháp và chư Phật Bồ Tát hộ trì. Bởi thế trong các chùa Thiền tông Trung Quốc cũng có cúng bái tượng Thần hộ Pháp như Thiên Long Bát Bộ, chư đại Thiên vương.

Cổ Đức thường khuyến khích người tu thiền cần “đem sắc thân giao cho thường trụ, tính mạng giao cho Long thiên”, sắc thân nghĩa là cơ thể của chúng ta, khi đang chăm chú ngồi thiền, không cần quản cơ thể của chính mình, tự nhiên sẽ có chấp tác của đạo tràng đến chăm sóc, điều nhiếp theo quy tắc sinh hoạt của đạo tràng. Hơn nữa nếu muốn tu hành tốt, cần phải có sự hộ trì của hộ Pháp Thiên Long, không có hộ Pháp Thiên Long, có thể sẽ xuất hiện chướng ngại trong thân tâm, hình thành ma chướng. Cho nên tu thiền mà không tin vào việc ngoài tự lực của chính mình ra còn có trợ lực của Phật, Bồ Tát và Thần hộ Pháp, thì không thể coi là tu hành Phật Pháp.

Ngoài ra, người tu hành thiền Pháp nhất định phải tin rằng, ngoài việc chăm chỉ ngồi thiền ra, cũng cần phải tích lũy công đức; nếu chỉ tự mình ngồi thiền, mà muốn được giải thoát hoặc giác ngộ hoàn toàn, thì bản thân cách suy nghĩ này là một loại chướng ngại, không thể giúp chúng ta thực sự được giải thoát. Bởi vì kẻ ích kỷ thì làm sao có thể khai ngộ được? Cho nên, Thiền tông cũng tu hạnh bố thí, tu hạnh sám hối; nếu không có tâm thiết tưởng vì lợi ích chúng sinh, không có tâm cống hiến vì người khác thực sự, không có hành vi cúng dường, bố thí, mà muốn tu hành thành công, thì tương đối khó khăn.

Trước đây trong Tùng lâm Thiền tông, rất nhiều Thiền sư trước khi khai ngộ đều ra sức làm việc vì đạo tràng, vì sư phụ, gọi là “hành đơn”. Bao gồm các công việc như gánh nước, chặt củi, nấu cơm, trồng rau trong nhà bếp, hoặc duy trì dọn dẹp lau chùi môi trường hoặc sửa chữa đạo tràng.

Cho nên trong các chùa truyền thống có 48 mục chấp sự, do người xuất gia tu hành đảm nhiệm, Tăng chúng chỉ vào ngày thiền thất là không đảm nhiệm những công việc phức tạp phân tâm, còn các thời gian khác đều có công việc chấp tác thời gian dài. Bởi thế, vào những ngày thiền thất của Pháp Cổ Sơn, cũng khuyến khích thiền chúng làm một số công việc .

Tùng lâm Thiền tông đồng thời chủ trương đem tiền tài và vật dụng dư bố thí cho người cần sử dụng, tự mình chỉ giữ lại quần áo vật dụng tùy thân đơn giản nhất. Trước kia, “thiền hòa tử”, quần áo ít đến nỗi chỉ có “2 cân rưỡi”, bởi vì họ đem những thứ có được đều bố thí đi.

Từ đó có thể biết, một người tu thiền cần phải có tâm cúng dường, tâm bố thí, có thể cho đi vật dụng thường dùng bên mình, tặng cho người cần dùng đến.

Chỉ tiếc là chúng ta bây giờ thấy có rất nhiều người tu thiền, thái độ kiêu căng, ngạo mạn, nội tâm ích kỷ, keo kiệt, lại còn thiếu lòng tín ngưỡng, điều đó thật đáng thương, thật nguy hiểm. Tại sao lại như vậy? Bởi vì người đến tu thiền đều hy vọng có thể đạt được thể nghiệm thực tế của thân tâm, đạt được hiệu quả ổn định, vui vẻ, khỏe mạnh; một khi đã đạt được hiệu quả khỏe mạnh, ổn định, vui vẻ, thì cho rằng đó là thành quả mà bản thân mình nỗ lực tu hành, không phải do chư Phật Bồ Tát cảm ứng, đương nhiên cũng không phải do có Thần hộ Pháp trong đạo tràng, càng không tin đó là do bởi sư phụ hoặc một vị thầy giáo có cách hướng dẫn. Như thế cho nên họ trở lên kiêu ngạo, ngạo mạn, tự phụ, tự mãn, không có tâm tín ngưỡng và lòng cung kính.

Ý nghĩa của tín ngưỡng là tuy bản thân có nhiều việc không làm được, có nhiều điều không biết, nhưng tin vào sự tồn tại của sự thật đó, cái gọi là “cao sơn ngưỡng chỉ, cảnh hành hành chỉ, tuy bất năng chí, tâm hướng vãng chi.”

Giống như nhìn thấy một quả núi cao, tuy vẫn chưa thể tự mình leo lên đỉnh núi, nhưng tin rằng trên núi cao nhất định có cao nhân, trên núi cao nhất định có phong cảnh đẹp, càng leo lên núi cao, càng có thể phát hiện ra những thứ mà trước đây chúng ta chưa từng thấy, đó là “ngưỡng” tín. Chúng ta từ nơi thấp sản sinh kính ngưỡng đối với nơi cao, mà ngoài kính ngưỡng sản sinh lòng tin, tin rằng trong đó nhất định có sức mạnh có thể giúp đỡ chúng ta mà chúng ta chưa biết. Nếu không đủ lòng tín ngưỡng thì không thể tin vào những gì Phật Pháp đã nói, những việc mà chúng ta chưa biết, tu hành sẽ không đắc lực.

Thiền tông chủ trương tự tin, tin rằng bản thân mình có thể thành Phật, tin rằng bản thân mình đáng lẽ giống như chư Phật, không thiếu bất kỳ một thứ gì. Thiền tông khuyến khích chỉ cần trút bỏ cái tôi là trung tâm, thì liền có thể thấy được bộ mặt vốn có của chính mình, người người đều có thể thành Phật. Bộ mặt vốn có chính là Phật tự tính, cũng có nghĩa đó là tự nhiên, không phải sau khi tu hành mới có, bởi vì có rất nhiều người hiểu lầm Thiền tông, mà không lưu ý tầm quan trọng của lòng tín ngưỡng.

Quan niệm này trên lý luận cơ bản mà nói là đúng, nhưng từ góc độ thực tiễn, hiện thực mà nói thì là sai. Điều đó giống như, người người đều có thể trở thành cha mẹ, nhưng đứa trẻ vừa mới ra đời thì là cha mẹ sao? Chúng vẫn chưa lớn, chưa thành niên, chưa phải là cha mẹ, mà chỉ là đứa trẻ sơ sinh. Vậy thì trẻ sơ sinh có thể trở thành cha mẹ trong tương lai hay không? Không nhất định; có người xuất gia từ nhỏ tu phạn hạnh, thì sẽ không trở thành cha mẹ; có người kết hôn nếu không có khả năng sinh nở, cũng không thể trở thành cha mẹ. Cho nên trên lý luận người người đều có thể trở thành cha mẹ là không sai, nhưng trên thực tế không nhất định người người đều có thể trở thành cha mẹ.

Lại giống như trong xã hội dân chủ, phàm là công dân, người người đều có quyền tuyển cử, cũng có quyền bị tuyển cử, nhưng đại đa số chỉ có quyền tuyển cử mà không có cơ hội bị tuyển cử. Bởi vì không đủ năng lực, không đủ nhân duyên, nên chỉ có thể chọn người, chứ không có cơ hội bị người chọn. Cho nên nếu như nghe thấy Thiền tông nói: “Người người đáng lẽ đều có Phật tính”, kết quả bản thân mình chẳng phải là gì, chỉ là một kẻ phàm phu ngu si, thì lại tưởng tượng bản thân cùng đẳng cấp với chư Phật trí tuệ viên mãn; nhìn thấy tượng Phật không chỉ không lễ, mà còn mắng nhiếc, và nói Phật hiện tại không bái Phật quá khứ, cho rằng trong tự tính có Phật, sao lại phải khổ sở lễ bái tượng Phật bằng đất, màu vẽ, khắc gỗ?

Những người này chỉ tin tự tâm là Phật, không tin Phật ngoài tâm. Nếu nhìn thấy người khác lễ bái, thì nói đó là “chấp trước”. Có người đỉnh lễ với sư phụ xuất gia, thì những người tự cho mình là tu học Thiền tông nhìn thấy lại lắc đầu thở dài mà nói: “Phật không cần lạy, cần gì lạy Tăng.”」

(II) Tín ngưỡng giúp tu thiền thêm sức mạnh

Một lần khi có một người đang đỉnh lễ với tôi, liền có một cư sĩ lôi anh ta dậy nói: “Anh không được lễ bái! Anh không được hại Pháp sư!” Tôi bị lễ bái là tôi bị hại? Tôi cũng không rõ nữa rồi, tôi hỏi: “Ông có ý gì? Anh ta hại tôi điều gì?” Ông ta nói: “Nếu Ngài là một vị cao tăng đắc đạo thực sự, còn cần người ta lễ bái hay không? Nếu Ngài cần người ta lễ bái, thì thể hiện trong tâm ngài có chấp trước, họ càng lễ bái, Ngài càng cảm thấy mình là một vị cao tăng. Vậy thì đời này Ngài đừng nghĩ đến việc khai ngộ được giải thoát.” Haiz! Tôi nghĩ cũng có lý. Ông ta nói tiếp: “Nếu Ngài thực sự đã đạt được giải thoát, anh ta lễ bái Ngài, vậy thì Ngài cần phải khiển trách anh ta: Không được chấp tướng, vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng sinh tướng, vô thọ giả tướng, đương nhiên là không có sư phụ tướng, đệ tử tướng, anh còn lễ bái gì!” Haiz! Vị cư sĩ này thật là lợi hại, tôi hỏi ông ta: “Ông có lễ Phật không?” Ông ta nói: “Tôi lễ bái Phật trong tự tâm.” Tôi nói: “Ông lễ như thế nào?” Ông ta nói: “Tôi không cần cơ thể lễ bái, tôi dùng tâm lễ bái.” Tôi nói: “Tâm của ông lễ như thế nào?” Ông ta nói: “Tâm của tôi được tự tại đó chính là lễ bái, tâm không lo âu đó chính là lễ bái.” Ý của ông ta là không cần lễ Phật Bồ Tát, ngoài tin vào chính mình ra, ông ta đều không tin vào bất kỳ cái gì.

Thực ra, đó không phải là Phật giáo, không phải là Thiền tông, mà là một loại ma kiến ngạo mạn, thiếu lòng tín ngưỡng. Loại người này có thể có một chút kinh nghiệm nhỏ của thiền, cho nên mới có lòng tự tin tăng thượng mạn đó, tưởng rằng xem một số cuốn sách thiền như thật mà giả, kết quả là bị “buộc” lại rồi. Khi họ đang còn sống, thì cho rằng bản thân mình đã được giải thoát, nhưng một khi chết đi, phước báo lớn thì đi vào cõi trời, chỉ có điều tri kiến bất chính, không tin Tam bảo, cho nên tuy vào cõi trời hưởng phước, báo tận ắt đọa đường ác; nếu tâm thái bất chính, không trì tịnh giới, thường làm việc xấu, thì xuống địa ngục nhanh như tên bắn.

Cho nên các Tổ sư Thiền tông vẫn tin có thiên đường, có địa ngục, có Phật quốc, có ta bà, chỉ có điều đối với những người đang tinh tấn chăm chỉ, công phu tu thiền đã rất sâu dày, nhưng trong tâm vẫn còn chấp trước, mới nói với họ rằng: “Không có Phật, không có Pháp, không có Tăng, không có thiên đường, không có địa ngục.” Bởi vì nếu trong tâm chấp trước vào Tam bảo, thiên đường, địa ngục, thì đương nhiên không thể giải thoát. Nhưng đối với người tu thiền sơ cơ, nhất định phải phân rõ nhân quả, phàm Thánh cũng vậy. Bằng không, nếu nói không được chấp trước, kết quả là nhân quả điên đảo, lấy phàm đè Thánh. Rốt cục phàm phu vẫn là phàm phu, đừng tưởng tượng mình ngang hàng với tam thế chư Phật, đều là cổ Phật tái sinh.

Tu hành thiền không chỉ có ngồi thiền mà thôi, tu hành thiền không phải là xướng cao giọng, chỉ cầu khai ngộ, luận bình đẳng với tam thế chư Phật. Hoằng dương thiền Pháp, đồng thời cũng cần đề xướng tín ngưỡng, thì việc tu hành của cá nhân càng dễ đắc lực, nhân cách sẽ càng hoàn mỹ. Hơn nữa thiền Pháp nhất định phải trừ “ngã chấp”, trừ “ngã chấp” nhất định phải bắt đầu từ khởi tín, bố thí, trì giới; cần lấy tâm hổ thẹn, khiêm tốn, cảm ơn, sám hối để tiêu trừ ngã chấp, phải tin vào Tam bảo, phải tin vào Phật Bồ Tát, phải tin vào hộ Pháp Long thiên, phải tin vào Tổ sư nhiều đời, phải tin vào thầy giáo hướng dẫn mình tu hành. Bằng không, vừa mới nhập Pháp môn thiền, không lễ Phật, không tôn Pháp, không kính Tăng, không tin hộ Pháp chư Thiên, tâm ngạo mạn lớn như vậy thì hoàn toàn đừng nghĩ đến việc có thể khai ngộ kiến tính.

(Bài viết này hiện ghi chép tại “Thiền Dược”)

IV. Thiền học và Phật giáo chính tín

(I) Thiền tức là Phật giáo

Sự xuất hiện của Phật giáo khởi nguồn từ tu thiền, nên có 2 cách nói là “từ thiền xuất giáo” và “mượn giáo ngộ tông”.

1. Từ thiền xuất giáo

Mọi người nói chung đều có quan niệm sai lầm, cho rằng tu thiền là Pháp môn được thiết lập chuyên dành riêng cho Thiền tông, chỉ có Thiền tông mới cần tu thiền. Trên thực tế, sự xuất hiện của Phật giáo nguyên thủy và lý luận Phật giáo đều do Phật tổ Thích Ca Mâu Ni của chúng ta trải qua tu hành thiền định mà sáng lập ra. Cho tới đời sau, các đời Tổ sư cũng trải qua cơ sở và thể nghiệm thiền thâm sâu mà thực chứng thực tu, những ý kiến mới không ngừng xuất hiện mới chia nhánh thành các loại lý luận tông phái và phương pháp tu hành.

Bởi thế thiền chính là Phật giáo, thiền cũng không phải là Pháp môn có riêng của Thiền tông.

2. Mượn giáo ngộ tông>

Mượn giáo ngộ tông là chỉ phương pháp, quan niệm căn cứ vào lý luận giáo nghĩa để hướng dẫn tu hành, khai ngộ; nếu thiếu phương pháp và lý luận, tu hành rõ ràng sẽ không có sức dựa.

Trước khi Phật Đà thành Phật, đã từng thể nghiệm rất nhiều phương pháp tu hành mà đạt đến khai ngộ, sau đó tiếp tục thuyết Pháp ở Ấn Độ. Phật Đà đã từng nói, thời kỳ có Phật Pháp, không có ai là không dựa vào giáo lý và tu hành của Phật giáo mà có thể khai ngộ.

Bởi thế, nếu có người chủ trương không cần dựa theo Phật Pháp cũng có thể khai ngộ và tự xưng là tín đồ Phật giáo, thậm chí nói khoác bản thân đã khai ngộ thành Phật, thì đó đều không phải tín đồ Phật giáo hoặc Phật giáo thực sự, chỉ có thể gọi đó là ngoại đạo mượn danh Phật pháp. Tín đồ Phật giáo thực thụ nhất định cần phải lấy Kinh Phật, quan niệm và phương pháp của Phật giáo làm tiêu chuẩn và tu hành.

(II) Nguyên tắc cơ bản của Phật giáo

Một số Tôn giáo lấy danh nghĩa tuyên dương Phật Pháp, nhưng lại rời xa nguyên tắc, lý tưởng và quan niệm của Phật giáo, đó là lý luận của bản thân các Tôn giáo khác chứ không phải là Phật giáo. Đồng thời, nếu chỉ nói suông Phật Pháp, nghiên cứu Kinh Phật, trích dẫn Kinh Phật, mà lại thiếu cơ sở và thể nghiệm của sự tu thiền thực tế, thì đó là đếm bảo bối nhà người.

Còn làm thế nào để phân biệt được có phù hợp với nguyên tắc Phật Pháp hay không, thì có thể dùng “Tam Pháp ấn” để dẫn chứng, “Tam Pháp ấn” chia làm:

1. Chư hành vô thường

Tất cả các hành vi tâm lý đều đang biến động không ngừng.

2. Chư Pháp vô ngã

Tất cả các hiện tượng sinh lý, vật lý, tự nhiên, xã hội v.v cho đến hiện tượng tâm lý, đều không có tồn tại tự ngã bất biến.

3. Niết bàn tịch tĩnh

“Niết bàn” nghĩa là bất động, là “không”, cũng là căn bản của vũ trụ nhân sinh. “Không” nghĩa là tất cả các hiện tượng đều do bởi nhân duyên khác nhau nên biến hóa không ngừng, thay đổi liên tục, chỉ có “không” là vĩnh hằng bất biến. Cho nên “niết bàn” tức là bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm, tịch tĩnh bất động.

Cơ bản của Phật Pháp nhất định phải phù hợp với nguyên tắc của “Tam Pháp ấn”; thực tiễn tu hành, thì phải lấy tam vô lâu học “giới, định, tuệ” làm phương châm.

“Giới” là quy phạm sinh hoạt, có tác dụng bảo vệ thân tâm không bị ô nhiễm; có thể trì giới thanh tịnh, thì sẽ không rơi vào ma chướng. Từ việc trì “giới” đạt đến nội tâm an “định” mà sản sinh “tuệ”.

Do bởi Thiền tông là lấy tâm là gốc, giáo ngoại biệt truyền, không lập văn tự; bởi thế thiền thực thụ là không thể dùng bất kỳ lời nói chữ nghĩa nào để biểu đạt. Nhưng thiền vẫn cần lấy chữ viết để hướng dẫn tu hành, cũng giống như lấy ngón tay chỉ mặt trăng, ngón tay tuy không phải là mặt trăng, nhưng nó có thể giúp chúng ta theo hướng đó mà nhìn thấy mặt trăng; chỉ có người minh tâm kiến tính, thực sự khai ngộ mới có thể hoàn toàn không cần đến chữ viết.

(III) Tôn giáo vĩ đại chính thống

Một Tôn giáo chính thống, cần có đầy đủ 3 điều kiện sau:

1. Bối cảnh lịch sử lâu dài

Từ trước đến nay, trên trái đất có không ít các Tôn giáo sản sinh rồi diệt vong, trong đó có khá nhiều Tôn giáo chỉ hạn chế trong một khu vực nào đó hoặc một thời gian nào đó, không thể lưu truyền lâu dài. Cũng có một số Tôn giáo, sau khi người sáng lập qua đời, Tôn giáo đó cũng suy yếu tiêu tan, không thể vượt qua khảo nghiệm của thời gian và không gian. Những Tôn giáo như vậy đều không thể được gọi là Tôn giáo vĩ đại.

2. Giáo lý có lịch sử lâu đời nhưng vẫn lưu truyền mãi

Tất cả các giáo nghĩa và phương pháp, theo sự tăng trưởng của thời gian, bất luận ở thời khắc nào, vẫn có thể không ngừng sản sinh quan niệm và phương pháp mới, mà không đi ngược với nguyên tắc cơ bản.

3. Đạo đức hợp thời hợp địa

Tôn giáo vĩ đại bất luận là ở trong thời gian, địa điểm nào đều nhất định phải phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức của thời điểm đó, địa điểm đó.

Tinh thần Tôn giáo lành mạnh còn phải bao gồm tính nhân gian, tính quan tâm, tính lý trí và tính siêu việt. Tính nhân gian, tính quan tâm, tính lý trí là thuộc tầng nhân gian; cấp bậc Tôn giáo còn phải thêm vào tính siêu việt, cũng có nghĩa là bao dung mà không chấp trước.

(IV) Phật giáo chính tín là gì?

1. Không phải là thế tục hóa, nhưng là nhân gian hóa

Giữa con người với con người là sự chân thành quan tâm lẫn nhau, nhưng không ân oán thị phi bởi tâm trạng hóa và không liên quan đến tình cảm riêng tư.

2. Không phải là quỷ Thần giáo, nhưng có nhân thiên giáo

Thừa nhận và tin vào sự tồn tại của quỷ Thần, nhưng không dựa vào quỷ Thần. Biết được con người sau khi chết có thể sinh lên cõi trời, nhưng không lấy việc sinh lên cõi trời làm nơi quay về. Bất luận là nhân gian hay cõi trời đều cần phải phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức.

3. Không phải là chán đời, nhưng là xuất thế

Bỏ sức quan tâm chăm sóc, cống hiến cho xã hội một cách không giới hạn, nhưng không kỳ vọng những nỗ lực của mình có được sự đáp đền.

4. Không phải là lưu luyến thế gian, nhưng là nhập thế

Để giúp đỡ những người cần sự giúp đỡ, mà tham dự tất cả các công việc xã hội thế gian, nhưng không tham luyến chấp trước.

Tầng bậc thế gian, xuất thế gian, nhập thế, hóa thế, cứu thế, cũng chính là 5 tầng bậc nhân gian, Thần trời, A La Hán, Bồ Tát và Phật.

Nhân gian bắt đầu từ cơ sở làm người, tận lực thực hành nghĩa vụ phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức của nhân gian; nếu tất cả các cống hiến và sức lực vượt qua bậc người, thì có thể được quả báo sinh lên cõi trời; A La Hán tuy cống hiến chăm sóc xã hội, nhưng không bao giờ kỳ vọng thành tựu của mình có được báo đáp và đền trả, và cũng không chấp trước, lưu luyến thế gian này, bởi thế chứng nhập Niết bàn, từ đó không còn quay lại nhân gian, gọi là xuất thế.

Bồ Tát do bởi tâm nguyện từ bi, phát nguyện đời đời kiếp kiếp ở nhân gian giúp đỡ, chăm sóc tất cả chúng sinh, bởi thế không lấy Niết bàn Tiểu Thừa làm nơi quay về nương tựa; cho đến khi từ bi và trí tuệ tu hành viên mãn, cũng chính là lúc hoàn thành Bồ Tát đạo, liền thành Phật đạo.

Bởi thế muốn phát nguyện thành Phật, trước hết cần phải làm tròn trách nhiệm của người, làm tốt bổn phận của người, nâng cao thứ tự tầng bậc từ nhân gian; bằng không, trách nhiệm nhân gian chưa hoàn thành mà lại suốt ngày hy vọng muốn sinh lên cõi trời hoặc thành Phật, đó là điều không sát thực tế.

Từ đó có thể biết được rằng, bắt đầu việc hành Bồ Tát đạo là lấy việc hoàn thành tốt trách nhiệm của con người làm mục tiêu. Bởi thế Bồ Tát thị hiện với các thân phận khác nhau; hơn nữa Bồ Tát là nhập thế chứ không phải lưu luyến thế giới này, cho nên các Ngài chỉ cần biết chịu trách nhiệm không ngừng nỗ lực cung cấp cho tất cả mọi người thế gian những phương tiện và độ thoát tất cả khổ nạn, không quan tâm quyền lợi và sự hưởng thụ của vật chất.

Đương nhiên nếu thực sự xứng đáng thì phải tiếp nhận, tiếp nhận cũng không sao hết, ví dụ hôm nay tôi được sắp xếp trên vị trí cao này, bởi vì yêu cầu của buổi diễn thuyết, mà bản thân tôi lại không phải vì theo đuổi vị trí này mà đến diễn thuyết.

Phật và Bồ Tát đều là từ giúp đỡ chúng sinh mà đạt thành, không có chúng sinh, tất cả Bồ Tát không thể thành Phật, bởi thế người hành Bồ Tát đạo sẽ vô cùng cảm kích đối với người mà mình giúp đỡ, cảm tạ người được giúp đỡ thành tựu việc tu hành của mình. Giả dụ một gia đình trong đó một thành viên phát Bồ Đề tâm, tu hành Bồ Tát đạo, thì gia đình đó đương nhiên rất có phước báo.

(V) Phương pháp và mục đích tu thiền của Phật giáo

Rất nhiều bệnh mãn tính đều do áp lực cuộc sống và tinh thần căng thẳng tạo thành, thông qua tu thiền có thể khiến thân tâm thư giãn, thăng bằng và nâng cao sức khỏe. Phương pháp tu thiền đơn giản là:

1. Thư giãn thân tâm

Với tư thế ngồi thoải mái tự nhiên, cơ thể thả lỏng, hai tay trũng xuống để trên đùi, chân đặt bằng trên đất.

Sau đó, nhắm mắt lại, nhãn cầu không cần dùng sức, cơ thể dựa vào lưng ghế. Thả lỏng cơ trên mặt, sau đó từ từ dời xuống dưới, theo thứ tự thả lỏng vai, hai tay, đùi, cuối cùng đến bụng, cho tới khi toàn bộ cơ thể được thả lỏng. Không có bất kỳ suy nghĩ nào trong tâm, nhẹ nhàng chú ý hít thở, nhưng đừng cố ý khống chế hơi thở, mà chỉ là hưởng thụ cảm giác thoải mái này.

2. Thân tâm thống nhất

Khi cảm giác của cơ thể không còn trở thành gánh nặng của nội tâm, mà chỉ còn biết sự tồn tại của cơ thể, nhưng không quan tâm đến những phản ứng của cơ thể; cảm thấy rất gần gũi, hòa hợp với môi trường xung quanh, giống như hòa làm một với cả vũ trụ vậy. Lúc này cảm giác cho rằng mình là trung tâm vẫn tồn tại, chỉ có tiến thêm một bước trút bỏ thân tâm thì mới có thể đạt đến cảnh giới vô ngã.

3. Trút bỏ thân tâm

Trút bỏ không phải là vứt bỏ, thân tâm và ý nghĩ vẫn tồn tại, làm việc bình thường, chỉ là không còn chấp trước mình là trung tâm. Từ kinh nghiệm tu hành, dần dần từng bước tu trì mà đi vào cảnh giới vô ngã, điều này khác với vô ngã trên quan niệm. Người hiện đại luôn theo đuổi hiệu quả nhanh chóng, hy vọng có thể từ nhận biết kiến thức và quan niệm đạt đến đốn ngộ, khai ngộ.

Thực ra, nhận biết “vô ngã” từ trên quan niệm thì chỉ có thể có ích đối với thực chứng “vô ngã” trên kinh nghiệm, nhưng không thể thay thế tu trì để đạt đến cảnh giới khai ngộ. Bởi thế nếu muốn thực chứng Phật Pháp, thì phải trải qua tu hành, bằng không, chỉ là lý luận suông, không sát thực tế.

Thái độ và quan niệm tu hành đúng đắn cần phải coi trọng sự tự tại của nội tâm, nhưng xã hội ngày này vẫn có rất nhiều người, thậm chí là phần tử tri thức có trình độ giáo dục cao, vẫn say mê với bản lĩnh thần thông.

Đã từng có một vị Lạt Ma hy vọng đến quốc gia phương Tây hoằng Pháp, sư phụ của Ngài khuyên rằng, cần phải tu hành sức thần thông trước để tiện tiếp dẫn tín chúng, hoằng Pháp tiện lợi hơn. Thế là vị Lạt Ma này ngày ngày nỗ lực, cuối cùng luyện thành một loại bản lĩnh “thần thông” có thể giúp người khác tìm lại đồ vật đã thất lạc, đáng lẽ lấy việc này làm công cụ phương tiện hoằng Pháp, không ngờ rất nhiều người xôn xao tìm đến, chỉ với mục đích là để đạt được lợi ích cá nhân từ trong sức thần thông của vị Lạt Ma này, chứ không phải vì nghe Phật Pháp, đó là việc đảo ngược gốc ngọn.

(Ngày 30 tháng 04 năm 1995, Pháp sư Thánh Nghiêm giảng tại Khoa quản lý USF trường đại học Phật giáo miền Nam Tampa, bang Florida, Lý Quả Tung chỉnh lý. Bài viết này hiện được ghi tại “Động Tĩnh Giai Tự Tại”.)

V. Pháp hỷ và thiền vui

(I) Phương pháp tu hành

Phương pháp tu hành có 2 loại:

1. Chuyển hóa quan niệm

Dùng quan niệm Phật Pháp chuyển hóa nội tâm phiền não, thì sẽ đạt được “Pháp hỷ”. Lúc nào cũng lấy quan niệm để giúp cho chính mình tiêu diệt vọng tưởng chấp trước, trừ bỏ cái tự cho mình là trung tâm; mỗi khi gặp khó khăn, đau khổ, chúng ta liền dùng quan niệm Phật Pháp giải trừ áp lực, gánh nặng và không tự tại trong tâm lý.

2. Rèn luyện thân tâm

Dùng “phương pháp” rèn luyện thân tâm của chính mình, chủ yếu là ngồi thiền, lễ Phật, đọc tụng v.v Những phương pháp này có thể khiến chúng ta lấy chính niệm thay thế cho vọng niệm; sau đó, dần dần lấy chính niệm thống nhất tạp niệm, cuối cùng về với vô niệm, quá trình tu hành liền đạt “thiền vui”.

(II) Thống nhất thân tâm

Sau khi lấy chính niệm tiêu trừ tạp niệm, tự cho mình là trung tâm sẽ từ chỗ tán loạn mà dần quy về tập trung.

Khi có thể tập trung, liền có thể chỉ huy chính mình. Khi “tâm tập trung” trở thành “tâm thống nhất”, lúc này sẽ phát hiện ra sự tồn tại của bản thân đã không còn quan trọng. Cá nhân không quan trọng có nghĩa là bản thân mình và môi trường, người khác, cho đến cơ thể và tâm, đã không còn sự đối lập nữa. Nếu đã không còn đối lập, cơ thể sẽ không còn gánh nặng; đối với bên ngoài thì sẽ không còn theo đuổi và kháng cự, nội tâm sẽ thường duy trì trong một trạng thái hòa bình, vui vẻ.

Trong Kinh Phật có ghi chép, ở nơi và thời đại không có Phật Pháp, có thể nghe thấy quỷ Thần hoặc hóa nhân nói ra một câu nửa kệ Phật Pháp thì có thể đạt được vô lượng Pháp hỷ.

Trong thế giới của chúng ta, người chưa nghe qua Phật Pháp cực nhiều, quý vị không những có Phật Pháp để nghe, mà còn chí ít đã nghe trong vòng một tuần lễ, tuy chưa đạt giải thoát, nhưng có thể nghe thấy Phật Pháp, giúp đỡ bản thân xử lý những vấn đề về tâm lý và quan niệm ở mọi lúc.

Nếu đã tu hành dưới sự hướng dẫn của Phật Pháp mọi lúc, thì chẳng có khi nào là thất vọng, đau khổ, bi ai, oán hận hoặc ganh tỵ cả.

(III) Nhận thức Pháp hỷ

“Phật Pháp”, quý vị rốt cục đã nghe thấy những gì? Nghe xong 7 ngày Phật Pháp, quý vị có thể sẽ hỏi: “Làm thế nào mới có thể khiến cho chúng ta vui mừng? Câu nói nào có thể khiến chúng ta hoan hỷ?” Đó là vì quý vị đã nghe quá nhiều trong vòng 7 ngày này, ngược lại làm cho quý vị không rõ “Phật Pháp” là gì. Giống như chúng ta ngày ngày hít thở không khí mà người có thể ý thức được không khí giúp chúng ta có được sự sống và cảm giác của sinh mệnh, rốt cục thì có bao nhiêu người?

Trong 7 ngày này, quý vị có thể từng nghe đến “nhân quả”, “nhân duyên”, “lòng tin”, “sám hối”, “xấu hổ”? Lại có thể từng nghe thấy “cúng dường”, “phát nguyện”, “hồi hướng”, “tự mình thả lỏng” và “mở rộng cánh cửa trái tim”? “Đừng khép cánh cửa của trái tim lại, và đóng chặt vậy”, “sau khi mở cánh cửa trái tim ra, để cho toàn bộ ý nghĩ tự do ra vào, mà trong lòng đừng thêm bớt bất kỳ thứ gì” v.v quý vị đã nghe thấy rồi, những điều này có được coi là Phật Pháp không?

Trên thực tế, những điều đó đều là đại cương của Phật Pháp, cũng có thể nói là tổng trì của Phật Pháp.

Tín ngưỡng Tam bảo, quý vị sẽ không đánh mất phương hướng tiến về phía trước. Tin vào “nhân quả”, quý vị sẽ không oán trời trách phận hoặc kiêu ngạo tự đắc. Tin vào “nhân duyên”, quý vị sẽ không coi đau khổ là những gì vĩnh viễn, hay cho rằng hạnh phúc là những gì thực tại. Hiểu được việc sử dụng “lòng hổ thẹn”, quý vị sẽ không có lòng kiêu ngạo, tâm ngã mạn, cũng không còn lòng ganh tỵ.

Chúng ta phát nguyện “cúng dường”, cúng dường nghĩa là cống hiến thân tâm của chúng ta cho Tam bảo, tu trì Tam bảo, tiếp nhận Phật Pháp, và cống hiến cho chúng sinh. Sau khi cống hiến chính mình, thì vấn đề của bản thân đã không còn quan trọng nữa. Bởi thế chúng sinh quan trọng hơn chính mình; khi quý vị có thể coi chúng sinh quan trọng hơn bản thân, quý vị sẽ không vì chính mình mà phiền não, đương nhiên sẽ hoan hỷ!

Phật dạy chúng ta “ít tham muốn, biết đủ, biết hổ thẹn”- chỉ có ít tham muốn, biết đủ mới có thể yên tâm để tu học Phật Pháp; và cũng chỉ có ít tham muốn, biết đủ thì mới thực sự sinh khởi lòng hổ thẹn. Sau khi biết hổ thẹn, mới có thể sám hối nghiệp chướng tội lỗi trước đây. Sau khi sám hối, mới có thể khiến tâm chúng ta được an lạc. Đó chính là Phật Pháp, đó chính là “Pháp hỷ”.

Như vậy có thể giúp chúng ta cảm thấy hạng mục của Pháp hỷ thực sự rất nhiều. Kinh nói: “Phật Pháp khó nghe thấy, nay đã được nghe thấy”, có thể trong 7 ngày này được nghe khá nhiều Phật Pháp, cho dù chưa tự chứng được thể tính hoặc tính không của các Pháp, nhưng có thể được nghe chánh Pháp của Phật Đà thì càng nên vui mừng mới phải.

(IV) Thấm nhuần thiền vui

Bảy ngày này, chúng ta đều rèn luyện thân tâm một cách chặt chẽ. Khi mới bước vào Thiền đường, bởi cơ thể chưa thích ứng với cuộc sống của thiền, nên có khá nhiều chướng ngại, cảm thấy nặng nề, đau nhức, không thoải mái.

Nhưng sau khi trải qua huấn luyện ngồi thiền, cơ bắp và thần kinh thư giãn, khí mạch của cơ thể lưu thông, khiến cho cơ thể sản sinh cảm giác thoải mái vô cùng. Cảm giác thư giãn và an định này có thể đem lại cho chúng ta “thiền vui”

Lúc đó tự nhiên sẽ giảm thiểu sự biến động của tâm trạng và cảm giác không biết phải làm sao, mà cảm thấy bản thân mình đang sống trong tâm cảnh tràn đầy tự tin và sức sống, vừa sáng suốt mà lại ổn định; luôn biết được bản thân mình đang ở trong tình trạng như thế nào, cũng luôn biết được mọi việc mình phải cố gắng, không được có lòng được mất giữa ta và người, không cần phải ưu buồn khổ não, đó chẳng phải là “thiền vui” hay sao?

Trong 7 ngày này, thường hướng dẫn quý vị “thả lỏng thân tâm”, quý vị dần dần có thể đã làm được. Nếu đã biết thân tâm có thể hóa căng thẳng thành thả lỏng, thì đã bắt đầu nếm thấy mùi vị của “thiền vui” rồi.

(V) Hiểu được thả lỏng thư giãn

Khi ngồi thiền, có thể luyện tập thả lỏng thân tâm, ở bất kỳ lúc nào cũng đều có thể luyện tập.

Nếu có thể luyện tập phương pháp thả lỏng trong một thời gian, thì sau đó ở bất kỳ lúc nào cũng đều có thể thư giãn thân tâm.

Thư giãn thân tâm nghĩa là chúng ta cần nghỉ ngơi. Khi đầu óc không thể không nghỉ ngơi, thì phải cho nó nghỉ ngơi; khi cơ thể, cơ bắp và thần kinh căng thẳng, cũng phải cho nó nghỉ ngơi. Có thể để cho đầu óc và cơ thể có được sự nghỉ ngơi đầy đủ, không dùng đầu óc để nghĩ ngợi, không dùng mắt để nhìn, không dùng tai để nghe, không dùng cơ thể để cảm xúc, vậy thì thoải mái làm sao! Trong cuộc sống thường nhật, duy trì thân tâm an định, thư giãn, cũng là sự thể nghiệm của “thiền vui”, cho nên trong phạm vi đời sống của chúng ta, “nơi nơi đều có thiền vui”.

Sáng hôm nay đã nói đến 2 danh từ, một là “thiền vui”, một là “Pháp hỷ”. Giữa hai cái đều có liên quan lẫn nhau và có mối quan hệ chặt chẽ, quý vị chí ít đã có một loại trong đó, vì vậy sau khi kết thúc thiền thất, tôi sẽ chúc phúc quý vị “thời thời Pháp hỷ”, “nơi nơi thiền vui”.

(Ngày 01 tháng 06 năm 1990, Pháp sư Thánh Nghiêm khai thị vào ngày thứ 7 của thiền thất kỳ thứ 48 tại chùa Đông Sơ Thiền New York, Tống Tô Dung chỉnh lý, bài viết này hiện được ghi tại “Thiền và Ngộ”)

Giới thiệu về Pháp Cổ Sơn

“Phật pháp tuyệt vời như thế mà người biết đến thì quá ít, ngược lại số người hiểu sai Phật pháp thì lại quá nhiều.” Đây là hạnh nguyện mấy chục năm khổ tu, khổ học, quyết chí hoằng dương Phật pháp của Hòa thượng Thánh Nghiêm. Kiến tạo Pháp Cổ Sơn là muốn tiếp nối gánh vác sứ mệnh của chư Phật chư Tổ, giúp cho chúng sanh xa rời đau khổ và đạt được an lạc giải thoát.

Năm 1989, Hòa thượng Thánh Nghiêm đã tìm được một mảnh đất rừng thuộc xã Kim Sơn, huyện Đài Bắc lúc bấy giờ, và đặt tên gọi là “Pháp Cổ Sơn”, với tâm nguyện muốn kiến tạo một cơ sở để hoằng truyền Phật giáo Hán truyền, đẩy mạnh “khu vườn giáo dục Phật giáo thế giới” trong hệ thống giáo dục lúc bấy giờ. Trải qua mười sáu năm xây dựng và hoàn thành, vào tháng 10 năm 2005 đã tiến hành lễ khánh thành một cách trọng thể và trang nghiêm.

Pháp Cổ Sơn lấy “Bảo vệ môi trường tâm linh” làm trung tâm, làm ngọn cờ đầu của hệ thống giáo dục. Đồng thời, Pháp Cổ Sơn còn là một đoàn thể giáo dục đời sống, không ngừng ra sức thúc đẩy vận động mở mang tinh thần, đề xướng “bốn loại bảo vệ môi trường” như: Tâm linh, lễ nghi, đời sống và tự nhiên, chuyển hóa tinh thần và nội hàm của Phật pháp thành “tâm ngũ tứ vận động”(vận động năm điều bốn về tâm, như Bốn an: an tâm, an thân, an gia, an nghiệp; Bốn yếu: Nhu yếu, muốn, có thể muốn, nên muốn; Bốn nó: Đối diện nó, tiếp thọ nó, xử lý nó, buông bỏ nó; Bốn cảm: Cảm hóa, cảm động, cảm ơn, cảm tạ; Bốn phước: Biết phước, tích phước, bồi phước, trồng phước.) một cách cụ thể và dễ thực hành. Ngoài ra, còn chú trọng lấy ba phạm trù lớn trong giáo dục “Đại học viện, đại phổ hóa, đại quan hoài” làm lý tưởng để thực hiện việc “tăng phẩm chất của con người, xây dựng tịnh độ nhân gian”, đồng thời, thông qua sự hợp tác giao lưu trong việc hoằng hóa ra phạm vi quốc tế, công trình Pháp Cổ Sơn đã trở thành điểm nhấn để cho toàn nhân loại chú ý, trở thành công trình kiến thiết Tịnh hóa và Tâm linh của thế giới.

Pháp Cổ Sơn còn phục vụ nhu cầu của thời đại, lấy Thiền Phật giáo Hán truyền làm lập trường, sau đó dung hợp các tông phái để mở ra “Thiền tông Pháp Cổ của Trung Hoa”, với việc hướng dẫn và thúc đẩy quan niệm cũng như tư tưởng hiện đại, đưa Phật pháp đi vào trong cuộc sống, hy vọng tiếng trống từ bi và trí tuệ của Phật pháp có thể khiến cho mọi người được an lạc, biến xã hội con người thành cõi Cực lạc, với sự thanh tịnh và giải thoát.

Giới thiệu sơ lược về quỹ giáo dục Thánh Nghiêm

Quỹ giáo dục Thánh Nghiêm được Bộ giáo dục phê chuẩn và cấp giấy phép thành lập vào ngày 18 tháng 01 năm 2006. Tông chỉ của Qũy này là lấy việc thúc đẩy lý tưởng “tăng phẩm chất con người, kiến tạo tịnh độ nhân gian” do Hòa thượng Thánh Nghiêm đề xướng để làm sự nghiệp giáo dục nhằm tịnh hóa lòng người, tịnh hóa xã hội. Lý tưởng của Hòa thượng Thánh Nghiêm là chú trọng đến việc thực hiện xiển dương tịnh độ nhân gian. Suốt cả cuộc đời Ngài luôn hướng đến mục đích đưa Phật pháp đi vào trong đời sống hiện đại, dùng Phật pháp để nâng cao đời sống cũng như phẩm chất của người hiện đại. Hy vọng rằng các nhân sỹ trong giới tôn giáo học thuật hoặc những ai có hứng thú, có tâm nguyện, đều hướng đến tham thảo, nghiên cứu cũng như thực hiện rộng rãi phương diện này.

Qũy sẽ dựa vào tông chỉ này để thúc đẩy các công việc như sau:

1, Chủ yếu là thu thập, chỉnh lý, nghiên cứu, phân thứ lớp, phân loại, phiên dịch, in ấn, chế tác, phát hành, mở rộng, hoằng dương, phổ biến những tài liệu do Hòa thượng Thánh Nghiêm trước tác như sách vở, tạp chí, băng đĩa, các văn hiến văn vật vân vân, tặng đến các giai tầng trong xã hội, với kỳ vọng sẽ làm tăng thêm phẩm chất con người, nơi nơi đều thực hiện việc biến nhân gian thành cõi tịnh độ giải thoát.

2, Thứ nữa là tán dương và trợ lực cho các hạng mục trong công tác giáo dục, khế hợp với lý tưởng của Hòa thượng Thánh Nghiêm như: Thúc đẩy giáo dục Phật giáo; nghiên cứu học thuật Phật giáo; xuất bản các tác phẩm Phật giáo; tịnh hóa nhân tâm và tịnh hóa xã hội vân vân.