ý nghĩa của việc quy y Tam Bảo

I. Bạn có phải là tín đồ Phật giáo không?

 (I) Tín ngưỡng dân gian

Người Trung Quốc khi điền sơ yếu lý lịch hay các loại hồ sơ, trong cột “Tôn giáo” hơn một nửa sẽ điền 2 chữ “Phật giáo”; nói cách khác, đại đa số người Trung Quốc tự cho mình là tín đồ Phật giáo, trừ những tín đồ đã từng rửa tội hoặc đã tham gia vào nghi lễ theo các giáo phái lớn nhỏ cũ mới như Thiên Chúa giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo, họ tự biết rõ mình không phải là tín đồ Phật giáo, còn những người khác dù ít dù nhiều, bất luận do bản thân hay do quan hệ gia đình thì đều có chút gốc tích theo tín ngưỡng Phật giáo.

Cũng có nghĩa, chỉ cần là người không phủ định Phật giáo, không phản đối Phật giáo thì đều là tín đồ Phật giáo. Cho nên trong dân gian Trung Quốc, hàm nghĩa của tín đồ Phật giáo rất rộng, điều đó cho thấy tín ngưỡng Tôn giáo của người Trung Quốc luôn thoáng mở, bao dung, đa dạng.Ví dụ sùng bái các vị Thần thiên nhiên như nước, lửa, gió, mưa .v.v.; sùng bái tổ tiên coi trọng ma chay, nhớ ơn tổ tiên theo Nho giáo; sùng bái các vị vĩ nhân lịch sử, danh tướng, liệt sĩ, trinh nữ; sùng bái các linh vật đặc biệt như tảng đá, cây cối; sùng bái các nhân vật và Thần tiên trong lịch sử diễn nghĩa và tiểu thuyết thần thoại; và còn sùng bái quỷ Thần của các loại hiện tượng thần bí, đều có thể hòa hợp cùng tồn tại.Tuy Khổng Tử không nói về Thiêng liêng ma quỷ kỳ quái, nhưng người dân gian sùng bái và tín ngưỡng những Thần đạo này thì đã có từ lâu. Đó là do bởi nhu cầu dân gian, cho dù chịu sự phản đối của những người duy vật luận và người theo tín ngưỡng nhất Thần, song vẫn lưu hành phổ biến, những điều đó không phải là Phật giáo chính thống.

 (II) Sùng bái đa Thần

Phật giáo truyền vào Trung Quốc từ thời đại Tần và Hán, lúc đó thực tế đã có những tín ngưỡng dân gian tồn tại, trong “Sở Từ” có ghi các tên gọi của các loại vị Thần thiên nhiên. Bởi thế Phật giáo Ấn Độ khi mới truyền đến Trung Quốc thì cũng chỉ là thêm một vị Thần mới từ phương Tây đến và được liệt kê trong danh sách các vị Thần ấy mà thôi.Tuy những bản dịch, lưu thông của Kinh Phật theo năm tháng đã hình thành giáo điển Tam tạng Hán văn, đã trình bày Phật giáo không phải là loại tín ngưỡng dân gian lưu truyền nói chung, nhưng đó cũng chỉ là việc của các nhân sĩ nghiên cứu Kinh Phật, tu tập Phật Pháp thực sự mới làm. Thái độ và quan niệm của mọi người nói chung khi tiếp xúc với chư Phật Bồ Tát của Phật giáo cũng giống như khi tiếp xúc với Tổ tiên, Thần dân tộc, Thần thiên nhiên vốn có của Trung Quốc vậy.Cho nên trong truyền thuyết của truyện kể, tiểu thuyết dân gian, Thần và Phật không có sự khác biệt. Ví dụ, dân gian nói chung thường biết đến Phật Như Lai, Quán Thế Âm đều từ trong những cuốn sách như “Phong Thần Bảng”, “Tây du ký” và câu truyện dân gian như “Quan Âm đắc đạo”, chứ không phải trực tiếp hiểu từ việc nghiên cứu Kinh Phật.

 (III) Ngoại cảm và lên đồng

Trong “Kinh Hoa Nghiêm”, “Kinh Địa Tạng” của Phật giáo tuy cũng có ghi chép tên gọi của các vị Thần linh, nhưng việc sùng bái đa Thần của tín ngưỡng dân gian Trung Quốc lại không phải xuất phát từ việc truyền bá Kinh Phật, mà là từ việc Tiên Phật mượn xác ngoại cảm nhập hồn, và mọi người nói chung có được cảm ứng siêu nhiên, phổ biến nhất là đàn tế, dùng phương thức xin quẻ, do Thanh Đồng hoặc thư ký dùng lời nói và chữ viết cho quẻ được chư Thần hiển thị. Mới đầu là đại đa số các nhân vật lịch sử lưu truyền trong tiểu thuyết dân gian và các vị Thần Linh trong câu truyện thần thoại, nhưng sau khi Phật giáo phổ biến ở Trung Quốc, cũng có nhiều trường hợp giả danh Phật, Bồ Tát, La Hán, Tổ sư, xuất hiện ngoại cảm ban lời nói và quẻ thẻ. Bởi sự ghi chép về việc Thần, Tiên, Thánh, Hiền, Phật Tổ, Bồ Tát của tam giáo Thích - Đạo - Nho đều có thể xuất hiện ở bất kỳ một Thanh Đồng và đàn tế nào, vì vậy nó đã trở thành một trong những nguyên nhân coi Phật giáo cũng là tín ngưỡng dân gian. Bởi trong tín ngưỡng dân gian đã có sự pha trộn việc sùng bái Phật Tổ và Bồ Tát.

Mục đích sùng bái chư Phật Bồ Tát của tín ngưỡng dân gian không ngoài việc cầu nguyện, cầu phúc, tiêu tai, tránh nạn, trường thọ, trừ bệnh, thậm chí cầu tài, xin con, cầu hôn nhân được viên mãn, đó là động cơ cơ bản của tín ngưỡng Tôn giáo.Sùng bái Phật Bồ Tát giống như với chư Thần cũng sẽ đạt được mục đích cầu nguyện, bởi vì tất cả các thiện Thần đều hộ trì Tam bảo và phù hộ cho người tín ngưỡng Tam bảo; cầu nguyện với Phật Bồ Tát, tức sẽ nhận được cảm ứng của các thiện Thần chư Thiên, và cũng sẽ nhận được sự thương xót của chư Phật Bồ Tát.Do bởi giới Phật giáo phổ biến tín ngưỡng Bồ Tát Quan Âm và Phật A Di Đà, vì vậy người dân Trung Quốc cảm thấy thân thiết và quen thuộc nhất với Phật A Di Đà và Bồ Tát Quan Thế Âm, cho nên có câu “nhà nhà Phật Di Đà, hộ hộ Quan Thế Âm”. Người dân đã lấy Phật Bồ Tát làm đối tượng để cầu nguyện, thì đương nhiên không thể nói là họ không tin Phật giáo.

 (IV) Tam bảo Phật Pháp Tăng

Thực tế, tín đồ Phật giáo lấy Tam bảo là Phật, Pháp, Tăng làm đối tượng quy tín hoặc quy kính, chứ không phải sùng bái chư Thần lưu hành ở dân gian, bởi sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo, tín đồ tại gia mới đầu được độ hóa liền thọ Tam quy. Tam quy nghĩa là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, cụ thể gọi là quy y Tam bảo.

Phật là người đại giác, Ngài là người tự giác giác tha mà trí tuệ và phúc đức cứu cánh viên mãn; Pháp là phương pháp thành Phật và đạo lý vì sao thành Phật mà Phật đã nói; Tăng là người xuất gia cầu học Phật, giúp Phật hoằng hóa, quảng độ chúng sinh. Khi Thế tôn Thích Ca mới bắt đầu thành Phật, trước khi độ hóa cho đệ tử xuất gia, thì đã nói với hai vị đệ tử tại gia (thương gia Trapusa và Bhallika): “Quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tỳ khưu tăng tương lai.”Vì thế cần có đầy đủ Tam quy mới có thể trở thành tín đồ Phật giáo chánh tín.

Nếu chỉ ngừng ở tin Phật mà không tin Pháp, không tin Tăng, đó là sùng bái mù quáng, thì chẳng khác nào theo tín ngưỡng quỷ Thần của dân gian; nếu chỉ nghiên cứu sâu vào Pháp nghĩa mà không tin Phật, cũng chẳng tin Tăng, điều đó tương đương với các học giả nói chung, đọc sách làm học vấn, không có liên quan gì đến tín ngưỡng của mình; nếu chỉ quy y Tăng, tức giống với nhận cha nuôi mẹ nuôi, bái đại ca được lưu hành trong dân gian. Chỉ có đầy đủ Tam bảo mới có thể học Phật, tu Pháp và kính Tăng.

Tăng là đại diện trụ trì của Phật Pháp, bởi vì họ tu học Phật Pháp, cho nên là tượng trưng cụ thể của Phật Pháp. Trong thời Phật Thích Ca còn tại thế, Tăng đã thay Phật hoằng Pháp; sau khi Phật niết bàn, thì càng cần Tăng đi truyền thọ Phật Pháp. Tăng là đoàn thể do các vị xuất gia lập thành, còn gọi là Tăng thể, cũng được gọi là Tăng đoàn, mỗi một người xuất gia là người trong Tăng, được gọi là nhà tăng; trong trường hợp giáo hóa thì nhà tăng tức đại diện cho Tăng đoàn chia nhau giáo hóa những người có duyên. Vì thế Phật là nguồn của Phật Pháp, Pháp là căn bản của Phật giáo, Tăng là trọng tâm của Phật giáo, cả ba đều không thể thiếu; cả ba hòa hợp mới trở thành Phật giáo toàn thể.

 (V) Cấp bậc Tôn giáo

Phật có ở hiện tại, quá khứ, vị lai và thế giới này, thể giới khác, gọi chung là tất cả chư Phật thập phương tam thế. Điểm cơ bản của Pháp bao gồm “Ngũ giới” sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, và “Thập thiện” không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nịnh hót, không hai lưỡi, không ác khẩu, không tham, không sân, không si, những điều này chính là thiện Pháp nhân thiên của đạo đức luân lý. Tiến thêm một bước là thiện Pháp xuất thế giải thoát sinh tử; còn có thiện Pháp Bồ Tát đã giải thoát nhưng vẫn nhập thế, trụ thế.

Trong đó cấp bậc thứ nhất là thiện Pháp nhân thiên, thông dùng tại tất cả các Tôn giáo của nhân gian, cũng chính là cấp bậc “tất cả các Tôn giáo đều khuyên con người làm việc thiện” mà người đời hay nói; còn cấp bậc thứ hai là thiện Pháp xuất thế, nghĩa là vượt nhân thiên, vượt sinh tử luân hồi của tam thế là dục, sắc, vô sắc, đi vào cảnh giới giải thoát, đó chính là Thánh nhân của tiểu thừa, được gọi là cấp bậc A La Hán.Cấp bậc thứ ba là Pháp xuất thế gian, nghĩa là có thể không chịu sự ràng buộc của sinh tử, lại có thể không cần rời khỏi phạm vi của sinh tử, có thể tự do tự tại đi lại ra vào giữa sinh và tử, làm công việc quảng độ chúng sinh, mà lại vô ngã, vô chúng sinh, vô thọ giả, đó là cảnh giới Bồ Tát của Đại Thừa.

Tất cả Phật bảo, khai thị tất cả Pháp bảo; tất cả Tăng bảo, tu học và hoằng dương tất cả Pháp bảo.Tăng bảo bao gồm toàn bộ tăng ni người xuất gia phàm phu, La Hán Thánh giả của tiểu thừa, tất cả Bồ Tát của Đại Thừa. Nếu có thể quy y Tam bảo, tức có thể nhận được sự hướng dẫn, nâng đỡ, bảo vệ, phù hộ của tất cả chư Phật, tất cả Thánh giả, tất cả Bồ Tát, tất cả cao tăng hữu đạo, bất luận là ai, bất luận trình độ nào, đều có thể dựa vào mức độ phát tâm và thiện căn nông sâu của chính mình, mà có được lợi ích từ Tam bảo theo năng lực cá nhân.

(VI) Sinh thiên và hưởng phúc

Từ đó có thể thấy, nếu theo tín ngưỡng dân gian lành mạnh và các phái tín ngưỡng Thần giáo khác, bất luận là tin đa Thần hay nhất Thần, chỉ cần không vi phạm luân lý nhân gian và đủ điều kiện sinh thiên, thì đều có thể thuộc về cấp bậc thứ nhất của Phật giáo, tức là thiện Pháp nhân thiên.Tức là dạy bảo con người phải có phẩm cách, tận lực với trách nhiệm, và tu thiên phúc, dựa vào việc tu hành phúc đức các thiện của người và trời, sau khi chết đi có thể được sinh làm người hoặc sinh lên cõi trời. Cho nên tu thiện Pháp nhân thiên tốt hơn rất nhiều so với chuyên làm điều ác mà sinh làm ba loài ác báo là địa ngục, ngã quỷ, súc sinh.

Nhưng thọ mệnh nhân gian rất ngắn, nhiều nhất là khoảng trăm năm; Thọ mệnh thiên giới tuy dài hơn nhân gian, song vẫn khó tránh khỏi báo tận rồi chết đi. Từ cái nhìn của Phật giáo, trời chia làm ba loại, cao nhất là Vô sắc giới, tiếp theo là Sắc giới, đều là những nơi mà người tu đạt Thiền định sinh vào; dưới cùng là Dục giới, là nơi mà người tu phúc và làm việc thiện sinh vào.Thọ mệnh của thiên nhân Dục giới, từ cõi trời Tứ Thiên Vương, cõi trời Đao Lợi, cõi trời Diêm Ma, cõi trời Đâu Xuất, cõi trời Hóa Lạc đến cõi trời Tha Hóa Tự Tại, tất cả có 6 cấp bậc, cõi trời càng cao tuổi thọ càng dài. Thọ mệnh của cõi trời thấp nhất là Tứ Thiên Vương, 1 ngày đêm bằng 50 năm nhân gian, thọ mệnh 500 tuổi.Thọ mệnh tăng dần theo bậc cao hơn, cõi trời cao nhất là Tha Hóa Tự Tại, 1 ngày đêm bằng 1600 năm nhân gian, thọ mệnh 1600 tuổi. Nhưng sau khi thiên phúc hưởng hết, thọ mệnh trên trời kết thúc, họ vẫn quay lại nhân gian, thậm chí là đọa vào đường ác.

Hưởng thụ phúc báo của người và trời, giống như bắn cung lên trời, khi thế cùng lực kiệt thì lại rơi xuống mặt đất, bởi vì họ chưa ra khỏi sinh tử luân hồi.La Hán đã ra khỏi sinh tử tam giới. Bồ Tát tuy ra khỏi thế gian, nhưng vẫn vào thế gian để quảng độ chúng sinh. Bồ Tát vào tam giới không giống như phàm phu sinh tử luân hồi, chúng sinh giống như phạm nhân vào nhà giam hưởng án, còn Bồ Tát giống như nhân viên Tư pháp và người giáo hóa tuy cũng vào nhà giam, nhưng họ lại là người tự do.

La Hán vĩnh viễn thoát khỏi sinh tử; Bồ Tát tuy ở trong sinh tử và phiền não, nhưng lại không chịu sự ràng buộc của sinh tử và sự đau khổ của phiền não; Phật là Bồ Tát tu tập thành thành, La Hán cũng có thể chuyển thành Bồ Tát. Phàm phu nếu lấy Bồ Tát làm gương thì đó là thấy người hiền tài mà noi gương theo, phát tâm tu học Pháp môn Bồ Tát, tức sẽ trở thành người thực hành đạo Bồ Tát.

(VII) Phật giáo chánh tín

Cấp bậc Tôn giáo của tín ngưỡng dân gian chỉ giúp người theo tín ngưỡng cầu xin sự giúp đỡ của Thần, chứ không thể giúp người theo tín ngưỡng tự do đứng lên để tự cứu mình cứu người. Tín ngưỡng Phật giáo có thể giúp người theo tín ngưỡng có cầu tất ứng, càng có thể giúp người theo tín ngưỡng tịnh hóa chính mình, cường hóa bản thân, cũng có thể học tập Bồ Tát và Phật cứu người giúp người, và càng có thể trở thành Bồ Tát và Phật.Trong khu vực hóa độ của Phật giáo Đại Thừa Trung Quốc, người đi theo tín ngưỡng Phật giáo được gọi là “đệ tử Tam bảo” học Phật, tu Pháp, kính Tăng, “Phật” là người viên mãn cứu cánh đạo Bồ Tát; Bồ Tát hạnh là tiêu chuẩn hóa thế “Phật Pháp ”; “Tăng” là đại diện giữ gìn Phật Pháp.

Hành vi Tôn giáo của tín ngưỡng dân gian thực tế là có chức năng tồn tại và giá trị lưu hành của nó; chỉ có điều không có căn cứ chuẩn mực giáo nghĩa, cũng không có sự ràng buộc của giáo đoàn, càng không có hướng dẫn của thầy giáo, mà chỉ dựa vào cô đồng bóng cậu điều hành, nếu tốt thì có thể phối hợp phong tục lành mạnh, nếu không cũng có thể phá hỏng phong tục lành mạnh, ăn mòn nhân tâm. Phật giáo không phải vậy, mà có lịch sử lâu đời, cũng có giáo nghĩa và nghi lễ theo cấp bậc rõ ràng; có Giáo chủ Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra tại Ấn Độ vào 2600 năm trước, cũng có giáo đoàn và giáo sư đời đời tương truyền. Thế tôn Thích Ca Mâu Ni là Phật bảo sáng tỏa trong lịch sử; giáo nghĩa và nghi lễ của Phật giáo là Pháp bảo; giáo đoàn và giáo sư của Phật giáo là Tăng bảo. Tín ngưỡng Tam bảo và quy y Tam bảo mới thực sự là tín đồ Phật giáo chánh tín.

Vậy thì xin hỏi: Bạn có phải là tín đồ Phật giáo chánh tín hay không?

Xin tham khảo “Phật giáo chánh tín”, đoạn văn này có ghi trong “Phật học quần nghi”

II. Ý nghĩa quy y Tam bảo

 (I) Vì sao phải quy y Tam bảo?

Chúng tôi tin rằng, trong tất cả các tín đồ Phật giáo, đại đa số chưa từng quy y; bởi vì người quy y Tam bảo sẽ đốt hương lễ Phật, nhưng người đốt hương lễ Phật thì chưa chắc đã tham gia nghi thức quy y. Tuy chưa từng quy y Tam bảo, nhưng họ lại vẫn tự xưng mình là tín đồ Phật giáo, chúng ta cũng không cần thiết phủ nhận tín ngưỡng của họ.

Có người chủ trương: Tin Phật chỉ cần thành tâm, tại sao nhất định phải quy y? Quan niệm này nghe thì có vẻ có lý, nhưng thực tế thì lại không hợp yêu cầu. Ví dụ như học sinh đi học, trước tiên cần làm thủ tục đăng ký, nếu không trong trường sẽ không có học bạ của người ấy, cho dù miễn cưỡng dự thính, cũng sẽ không có được bằng cấp học tập. Một học sinh trong trường hợp bình thường, nhất định sẽ dần được lên lớp theo học trình năm học: đầu tiên là vào tiểu học, trước tiên là đăng ký; vào cấp hai và đại học, ngoài đăng ký ra, còn phải tham gia kiểm tra, xem người ấy có đủ năng lực học tập hay không, nhưng không vào tiểu học mà muốn có được liền bằng cấp đại học, thậm chí muốn có được học vị Tiến sĩ, thì đó là điều không thể. Bởi vậy, nếu muốn tin Phật thì cần phải bắt đầu từ việc quy y Tam bảo, quy y Tam bảo tuy là bước đầu tiên đi vào cửa Phật, nhưng nếu không đi bước đầu tiên, thì làm sao có thể bước tiếp bước thứ hai, thứ ba? Muốn bước tiếp bước thứ hai, thứ ba thì nhất định phải bắt đầu với bước đầu tiên. Thứ bậc của Phật tử được định theo cấp bậc mà họ đã thọ giới: Quy y Tam bảo là cấp bậc sơ cấp đầu tiên; tiếp theo còn có Ngũ  giới, Bát giới, Thập giới, Tỳ khưu Tỳ khưu ni giới, Bồ Tát giới, toàn bộ các giới đều lấy quy y Tam bảo làm căn bản. Quy y Tam bảo là bước đầu học Phật tin Phật, Phật giáo không rời bỏ bất kỳ chúng sinh nào, vì vậy mở rộng tiêu chuẩn cho người muốn quy y: Chúng sinh trong sáu đường, ngoại trừ chúng sinh trong địa ngục chịu khổ quá lớn, quá nhiều, không có thời gian quy y Tam bảo, còn lại bất luận là người, trời, Thần, quỷ , súc sinh, chỉ cần phát tâm quy y, Phật giáo đều tiếp nhận, cũng như trẻ em đến tuổi đi học, bất luận giàu nghèo, xấu đẹp, thông minh dốt nát, không cần sàng lọc đều được nhập học, tất cả đều có thể vào các trường tiểu học quốc lập học tập. Nếu muốn tiến lên cấp cao hơn thì cần phải qua chọn lựa năng lực tư chất học tập.

Còn có người cho rằng bản thân đã có năng lực xem Kinh sách, tự mình có thể trực tiếp tìm kiếm con đường thành Phật trong Kinh Phật, cho nên không cần quy y, cũng có thể đạt được lợi ích của việc học Phật. Trên lý thuyết mà nói, dường như là hợp lý có thể thông qua, nhưng trên quy chế sự tướng thì lại là sai lầm. Kinh Phật được Phật nói ra (cũng có điều được các đệ tử Phật nói ra), rồi được các đệ tử xuất gia của Phật tập hợp viết thành sách, truyền cho đời sau; nếu chỉ biết Kinh Phật mà bỏ qua Phật bảo là người thuyết Pháp và Tăng bảo là người lưu truyền Pháp bảo, quá lắm chỉ là quy y Pháp bảo, thì đó là hành vi vong ơn! Phật giáo tuy lấy Pháp bảo làm chính - con đường giải thoát đều được lưu truyền từ trong Pháp bảo, nhưng sự hình thành của Pháp bảo bắt buộc phải do Phật bảo và Tăng bảo hoàn thành, cho nên Tam bảo không thể phân chia riêng lẻ.

Nếu nói đến chế độ hay quy thức, người tin Phật mà không quy y Tam bảo, thì cũng giống như một người nước ngoài yêu thích di sản văn hóa Trung Quốc, đến Trung Quốc sinh sống, song không đăng ký thay đổi quốc tịch của mình, nhưng lại tự xưng là người dân Trung Quốc. Người ấy có thể nhận được sự đón chào của người Trung Quốc, nhưng người ấy rốt cục không phải là người Trung Quốc; người ấy có thể làm tròn nghĩa vụ của người dân Trung Quốc, nhưng lại không thể hưởng quyền lợi của người dân Trung Quốc. Cũng giống như vậy, một người không thọ quy y mà lại tự xưng là tín đồ Phật giáo, tuy rằng người ấy có thể đạt được một chút lợi ích của Phật Pháp, nhưng cuối cùng cũng không thể có được ấn chứng thân phận. Đây không phải là chấp trước dư thừa, mà là thủ tục bắt buộc. Vì trong Kinh Phật có nói, thế nhân tuy làm việc thiện, nhưng cuối cùng cũng không thể diệt trừ ác nghiệp của đời này, nếu có thể thọ giới Tam quy y, thì có thể giảm trừ ác nghiệp trong đời này.

Thọ quy y là vấn đề hình thức mà cũng là vấn đề tâm tánh. Khi thọ quy y không chỉ miệng niệm, cơ thể bái lạy, trong lòng cũng phải nghĩ. Chủ yếu vẫn là sự lĩnh thọ của tâm - tiếp nhận giới thể Tam quy, giới thể phải là người đã thọ qua Tam quy giới, thầy thầy tương truyền, đó là một dòng truyền thừa của Pháp thống, đối với phàm phu không thể không có thầy mà tự chứng, cho nên Tam quy y không được đứng trước tượng Phật Bồ Tát tự thề nguyện tự thọ chứng. Từ đó có thể biết được rằng, tính trang nghiêm và tính quan trọng của cầu thọ Tam quy y.

Nếu nói không thọ Tam quy y mà muốn trở thành một tín đồ Phật giáo chánh tín, đó là việc không thể; nếu chỉ tin Phật Pháp mà không lễ bái Tăng bảo, thì trên căn bản đã vi phạm Phật Pháp rồi. Trong Phật Pháp, Tam bảo không thể chia rẽ, nếu cố chia rẽ Tam bảo thì là phá hoại Phật Pháp, một người vi phạm Phật Pháp rồi còn phá hoại Phật Pháp mà vẫn có thể đạt được thiện quả của việc học Phật, thì đó là việc vĩnh viễn không thể nào có. Nếu không, đã tin thờ Tam bảo, thì sao không quy y Tam bảo?

Ngoài ra còn có một số người, chưa tin Phật nhưng lại rất thích Phật giáo, họ không muốn quy y Tam bảo ngay lập tức, họ sợ rằng sau khi quy y thì sẽ phải chịu sự ràng buộc hoặc sau khi quy y sẽ không thể gỡ bỏ, cho nên họ giữ thái độ chờ xem sao. Họ coi ý nghĩa của quy y giống như hôn nhân giữa nam nữ vậy, khi chưa quen biết tương đối lâu, thì không dám kết hôn, nếu không, tính cách không hợp nhau, không tâm đầu ý hợp, thì khó tránh khỏi đau khổ suốt đời. Thực ra, quy y Tam bảo và vấn đề hôn nhân giữa nam nữ hoàn toàn là hai việc mang hai tính chất khác nhau! Ví dụ như chúng ta muốn học một loại kỹ năng, cần phải bái sư học đạo, nếu không vậy thì khó có thể trở thành chuyên gia hàng đầu. Lợi ích của việc tìm thầy học tập là tiếp nhận những gì mà thầy giáo đã học và thành công, thầy giáo cũng là người tiếp nhận sự chỉ bảo từ thầy giáo, thậm chí tích lũy những kinh nghiệm hàng trăm ngàn năm, chúng ta tìm tìm thầy học tập cũng là thừa kế kinh nghiệm quý báu hàng trăm ngàn năm. Nhưng sau khi học xong một loại kỹ năng, chúng ta có thể chỉ học mà không dùng đến, nhẫn đến trong suốt thời gian học tập cảm thấy không phù hợp với sở thích của mình, thì cũng không có nghĩa là không thể thể lập tức thôi học; sau khi học xong, có thể theo thầy giáo đến hết đời, nhưng cũng có thể rời thầy để tự độc lập? Còn quy Tam bảo cũng tương tự như tìm thầy học tập kỹ năng, muốn biết về Phật Pháp nhiều hơn thì cần phải bắt đầu từ quy y Tam bảo, nếu chỉ là quan sát, cuối cùng cũng chỉ đứng ngoài cửa, mà đứng ngoài song lại muốn hiểu nhiều về giáo lý Phật Pháp thì đó là vọng tưởng. Cửa Phật không phải là nhà giam mà là con đường lớn để giải thoát. Sau khi quy y, nếu phải chịu sự ràng buộc thì cửa Phật không thể được gọi là con đường giải thoát. Phật giáo đương nhiên hy vọng mọi người quy y Tam bảo, và bắt đầu từ việc tự quy y, cứ thế hướng đến cảnh giới thành Phật, nhưng nếu bởi căn cơ khác nhau, không thể tiếp nhận ý nghĩa thiêng liêng của Phật Pháp, không thể tuân hành theo Pháp, thì sau khi quy y vẫn cho phép có thể tin các Tôn giáo khác, hoặc không tin vào bất kỳ Tôn giáo nào nữa; đáng quý ở chỗ, sau khi rời khỏi cửa Phật, cửa từ bi của Phật giáo vẫn luôn luôn mở rộng sẵn sàng đón chào kẻ lêu lổng quay đầu trở lại.

Bởi thế, tôi muốn khuyên tất cả mọi người đều quy y Tam bảo. Bất luận là quý vị đã tin Phật giáo, hay chuẩn bị tin Phật giáo, hoặc đang đứng ngoài cửa của Phật giáo quan sát, thậm chí quý vị đã là một tín đồ của các Tôn giáo khác, có thể mời quý vị tạm thời bỏ xuống những thành kiến hoặc tín ngưỡng vốn có ấy, thử đến quy y Tam Bảo, quý vị nhất định sẽ có được lợi ích, đồng thời cũng sẽ chẳng mất đi sự tự do của mình. Nếu sau khi thực sự quy y Tam bảo, trừ phi có ma chướng che lấp tâm mình, còn không sẽ không lùi ra khỏi cửa của Tam bảo.

 (II) Quy y Tam bảo là gì?

Từ mặt chữ giải thích hai chữ quy y, “quy” là hồi chuyển hay quay đầu trở lại; “y” là nương tựa hay tin tưởng. Phàm là hành vi hồi chuyển nương tựa hay quay đầu tin tưởng thì đều có thể gọi là quy y, cho nên hai chữ quy y cũng không phải là từ chuyên dùng của Phật giáo.

Đứa trẻ quay về trong lòng người mẹ, nương tựa mẹ, tin tưởng mẹ, cho nên có được cảm giác an toàn, cảm giác an toàn ấy được sinh ra chính bởi sức mạnh của quy y. Bởi thế, cứ là hành vi có cảm giác an toàn được sinh ra bởi quay đầu tin tưởng đều có thể được gọi là quy y.

Vì thế mới nói, con cái tin tưởng cha mẹ, học sinh tin tưởng thầy giáo, người làm doanh nghiệp tin tưởng dự toán, người cấp dưới tin tưởng cấp trên, người theo thuyết vận mệnh tin tưởng vận mệnh, thậm chí nhà độc tài tin tưởng vũ lực, chính trị gia tin tưởng mưu lược, người tham lam tin tưởng tài sản .v.v., dù nhiều dù ít đều có thành phần của quy y. Nói cách khác: Những sự việc mà do tín ngưỡng sản sinh sức mạnh thì đều có thể liệt kê vào nhóm quy y. Theo tín ngưỡng Phật giáo tất nhiên được gọi là quy y, theo tín ngưỡng của các Tôn giáo khác, thậm chí là tín ngưỡng, sùng bái, lễ tế Thần quỷ yêu quái, đều được gọi là quy y.

Nhưng nói đến chân nghĩa của việc quy y, thì nếu là những niềm tin và tín ngưỡng không cứu cánh, không thực tế, không đáng tin cậy đều không được gọi là quy y thực sự. Ví dụ sảy ra hỏa hoạn lớn, con người có thể trèo lên ngọn cây, trèo lên nóc nhà, chạy lên gò đất, nhưng sảy ra lũ lụt lớn, sóng gió gấp gáp, nước dâng, cây đổ, nhà sập, gò đất cũng sẽ bị ngập. Cho nên, trong trường hợp và môi trường đó, nếu gần đó có một ngọn núi cao, mọi người có nên leo lên ngọn núi cao đó không? Tin rằng trừ phi người ấy là người ngốc nghếch, còn không tuyệt đối sẽ không bỏ lỡ cơ hội sinh tồn đó. Bởi vì hiệu quả an toàn mà núi cao có được, khác xa với cây cối, nóc nhà và gò đất!

Vậy thì, những người có thể nhận thức rõ sự vô thường của thế sự, những người có thể hiểu rõ tất cả sự tướng đều do nhân quả trước sau mà thành, thì có họ có thể biết được rằng: Cha mẹ, thầy giáo, dự toán, cấp trên, vận mệnh, thậm chí là vũ lực, mưu lược, tài sản .v.v..., tuy có thể sinh ra hiệu quả an toàn tạm thời, nhưng cuối cùng vẫn không thể tuyệt đối đáng tin cậy và vĩnh viễn đáng tin cậy. Cha mẹ sẽ mất đi, tri thức của thầy giáo sẽ lỗi thời, dự toán sẽ vượt mức, cấp trên sẽ bị điều động, vận mệnh không thể dựa dẫm, còn về vũ lực, mưu lược và tài sản thì càng như khói mờ huyền ảo. Vua phương Nam của ngày hôm này có thể sẽ là tù nhân cấp dưới của ngày mai; nhà triệu phú của ngày hôm nay có thể sẽ là ăn xin hè phố của ngày mai.

Còn theo tín ngưỡng của các Tôn giáo khác có thể sinh lên cõi trời, nhưng chưa chắc theo tín ngưỡng mà nhất định được sinh lên cõi trời. Ví dụ như Cơ Đốc giáo, tín đồ có thể được cứu thoát, nhưng cũng chưa chắc được cứu thoát, Thượng đế không thương xót thì cho dù người ấy có tin tưởng tha thiết như thế nào thì cũng sẽ không được chọn lựa để trở thành người dân của Thiên quốc. Hơn nữa, từ cái nhìn cấp bậc của Phật giáo, tất cả các Tôn giáo ngoại trừ Phật giáo, cho dù là Tôn giáo cao cấp nhất thì lý tưởng cao nhất của họ không ngoài phạm vi sinh lên cõi trời. Cõi trời trong Phật giáo, cho dù là sinh vào cõi trời cao nhất thì vẫn ở trong sinh tử luân hồi. Thọ mệnh trên trời tuy dài hơn nhân gian, nhưng cũng có hạn, khi phước báo trên trời hưởng hết, sau khi chết đi vẫn bị đọa xuống, vì thế đó là nơi không đáng tin cậy để quy y. Chỉ có quy y Phật giáo mới có thể giúp con người dần dần đi đến con đường giải thoát cứu cánh hết khổ hưởng lạc. Tổng thể của Phật giáo chính là Tam bảo Phật Pháp Tăng.

Trên thực tế, khuynh hướng quy y cần phải bắt đầu từ việc quy y Tam bảo bên ngoài, quay đầu về Tam bảo, nương tựa vào lời dạy và hướng dẫn của Tam bảo, hướng về con đường giải thoát đại niết bàn. Song khi bước vào niết bàn (giải thoát), tự thân lúc đó cũng chính là Tam bảo thực tướng. Tất cả chúng sinh đều có Phật tính, do bởi mê lầm chướng ngại, cho nên không thấy được Phật tính, mục đích quy y Tam bảo của chúng ta chính là ở chỗ tìm kiếm sự hiển hiện Phật tính. Chúng ta đáng lẽ cũng như Phật, đáng lẽ cũng ở trong Tam bảo, chỉ vì đánh mất bản tính, lang thang trong đường sinh tử, không biết lối trở về nhà, thế nên có tên là chúng sinh! Nếu chúng ta có thể bắt đầu từ ngày hôm nay quay về trong lòng Tam bảo, cũng như kẻ lêu lổng quay đầu trở lại quê hương ban đầu mà thôi.

Bởi thế, chỉ có quay lại con đường về nhà mới có thể được tính là quy y thực sự. Những nơi chỉ để cho người ta tạm dừng nghỉ chân thì tuyệt đối không đủ để chúng ta một mực dốc lòng quy y, bằng không thì giống như cưỡi bò đất qua sông, vừa mới xuống nước, có thể có chút tưởng tượng an toàn, nhưng khi xuống nước thì bò đất tự thân còn khó bảo toàn, thì sao có thể làm công cụ giúp người qua sông?

Tam bảo là gì? Tại sao gọi Phật Pháp Tăng là bảo? Điều này rất quan trọng. Một người muốn tin Phật, thì bắt buộc phải quy y Tam bảo trước tiên, nhưng trước khi quy y thì trước hết cần phải hiểu rõ đại ý của Tam bảo, nếu không, không rõ đầu đuôi mà quy y thì không thể được gọi là quy y thực sự. Cũng như chúng ta thi vào đại học và học tập trong trường đại học, nếu không biết trường đại học đó tên là gì, thì có phải là chuyện cười hay không. Nhưng chúng ta cũng dám nói rằng trong các đệ tử Tam bảo ngày hôm nay khi tiếp nhận quy y chưa chắc đã hiểu rõ đại ý của Tam bảo, các vị thầy quy y cũng chưa chắc khai thị đại ý của Tam bảo. Nói ra thì thật là đáng xấu hổ!

Tam bảo chính là Phật Pháp Tăng, bởi trong Phật Pháp Tăng có thể sản sinh công đức vô lượng, phát huy diệu dụng vô tận, và còn lấy không hết, dùng không hết, vô hạn vô cực, vô biên giới. Thế gian lấy giá trị cao, công dụng lớn của vàng bạc đá quý gọi là bảo; diệu dụng công đức của Phật Pháp Tăng thông suốt thế gian, xuất thế gian, cho nên càng được gọi là bảo. Bởi sự chỉ dẫn hóa độ của Tam bảo, có thể giúp con người sống bình an tại nhân gian, và càng giúp con người rời khỏi đau khổ tìm về an lạc. Cho nên Tam bảo là bảo mà còn là bảo vượt xa các loại bảo.

Chủng loại của Tam bảo trước đây có rất nhiều kiểu phân biệt, nhìn từ đại thể, không ngoài sự khác nhau về sự tướng và lý thể. Được chia làm hai loại lớn:

  • Nhìn từ sự tướng, có trụ trì Tam bảo và hóa tướng Tam bảo.
  • Nhìn từ lý thể, có nhất thể Tam bảo và lý thể Tam bảo.

Trước khi giải thích Tam bảo là gì, trước tiên cần biết hàm nghĩa của Tam bảo: Phật là người giác ngộ, tự giác giác tha, giác hành viên mãn; Pháp là phép tắc, tiêu chuẩn có chức năng giúp con người lý giải và giữ gìn không làm mất tự tính; Tăng là hòa hợp chúng, tại sự tại lý hòa hợp tướng.

 “trụ trì Tam bảo” có nghĩa là: (1) Tượng Phật được làm bằng mài ngọc, khắc đá, đúc vàng, đun đồng, nặn đất, trổ gỗ, bôi sơn, vẽ mực, thêu may, vẽ giấy, đều là Phật Bảo; (2) Kinh điển Tam tạng hoặc tác phẩm sách báo Phật giáo của các vị Đại đức từ trước tới nay, đều là Pháp bảo; (3) Tỳ khưu, Tỳ khưu ni cạo tóc mặc áo nâu sòng, đều là Tăng bảo. Bởi Phật giáo sau khi Phật nhập diệt luôn dựa vào Tam bảo như vậy để tiếp tục huệ mệnh của Phật Pháp, duy trì tinh thần của Phật giáo, truyền bá giáo nghĩa của Phật giáo, cho nên được gọi là trụ trì Tam bảo.

 “hóa tướng Tam bảo” có nghĩa là: (1) Trong giai đoạn Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo đến khi nhập diệt tại Ấn Độ, Phật Thích Ca chính là Phật bảo; (2) Các Pháp giáo mà Đức Phật thuyết cho các đệ tử trong thời điểm đó, như các đạo lý về Tứ thánh đế, Bát chính đạo, Mười hai nhân duyên, đều là Pháp bảo; (3) Các đệ tử phàm Thánh xuất gia theo Phật trong thời điểm đó, đều là Tăng bảo. Đó là những hình tướng chỉ có thời Đức Phật còn tại thế ứng hóa mới có, cho nên gọi là hóa tướng Tam bảo.

 “nhất thể Tam bảo” có nghĩa là: Trong Tam bảo Phật Pháp Tăng, mỗi cá nhân đều có công đức của Tam bảo: (1) Phật có khả năng giác chiếu, cho nên là Phật bảo; Phật có thể thuyết Pháp, tự tại ở Pháp, vì có khả năng giữ gìn nề nếp, cho nên là Pháp bảo; Phật không vi phạm tội lỗi, cho nên là Tăng bảo. (2) Bản thể của Pháp vốn có khả năng sinh ra tính của chư Phật, nên là Phật bảo; bản thân Pháp có khả năng giữ gìn nề nếp, cho nên là Pháp bảo; các Pháp đều bình đẳng không cản trở lẫn nhau, cho nên là Tăng bảo. (3) Tăng là người có trí tuệ quán chiếu, cho nên là Phật bảo; Tăng là người biết giữ gìn nề nếp, cho nên là Pháp bảo; Tăng là một thể trong hòa hợp chúng, cho nên là Tăng bảo.

“lý thể Tam bảo” có nghĩa là: Tất cả chúng sinh mỗi một cá nhân đều có Tam bảo, chia làm hai loại: (1) Nhìn từ việc tu chứng, phàm phu đều “hoặc, nghiệp, khổ” mà lưu chuyển sinh tử, nếu có thể chuyển mê thành ngộ, “hoặc” tức sẽ thành Bát nhã, “nghiệp” tức sẽ thành giải thoát, “khổ” tức sẽ thành Pháp thân; Bát nhã là Phật bảo, giải thoát là Pháp bảo, Pháp thân là Tăng bảo; (2) Nhìn từ lý thể (chân như), lý có thể quán là Phật bảo, sự việc được quán là Pháp bảo, lý sự như một là Tăng bảo.

Thực ra, tuy Tam bảo được chia làm 4 loại, nhưng chỉ có hai loại tính chất: Không ngoài hai mặt lý sự. Tam bảo sự tướng là hiện thực, cho nên dễ hiểu hơn. Tam bảo lý thể trừu tượng, cho nên không dễ hiểu lắm, trừ phi đã khai ngộ, đã chứng được tự tính chân như, nếu không thì luôn cảm thấy xa lạ, nhưng đó lại là nơi quy y cứu cánh của chúng ta. Để giúp cho người đọc được dễ hiểu hơn, chép ra một đoạn giải thích về vấn đề này của Hòa thượng Ấn Thuận như sau, bạn đọc cùng tham khảo:

 “Nghiên cứu về nơi quy y chân thực, là công đức chân thực của Tam bảo, từ trước đến nay có khá nhiều phân biệt, bây giờ nói qua hai loại. 1. Công đức vô lậu của Phật là Phật bảo: Nói theo Thanh Văn, là Pháp thân ngũ phân (Thánh Nghiêm án: Giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, là Pháp thân ngũ phân của Phật); nói theo Đại Thừa, là tất cả công đức vô lậu được bồ đề vô thượng (tứ trí) nhiếp chiếu. Chính Pháp hay niết bàn là Pháp bảo. Công đức vô lậu của hữu học vô học là Tăng bảo: Nói theo Thanh Văn thừa, tức là công đức vô lậu của tứ song bát bối (Thánh Nghiêm án: Tứ hướng tứ quả của Tiểu Thừa, hợp lại gọi là tứ song bát bối); Nói theo Đại Thừa, là công đức vô lậu của Bồ Tát, Thanh Văn, Bích Chi Phật. 2. Giáo lý Đại Thừa nói: Pháp giới thanh tịnh nhất mà viên mãn cứu cánh hiện ra (dùng nghiệp thể tướng nhiếp chiếu) là Phật bảo; Pháp giới thanh tịnh ít hiển hiện là Tăng bảo; Pháp giới không tăng không giảm, vô nhị vô biệt (hoặc tên là chân như, thực tướng) ở khắp thập Pháp giới là Pháp bảo. Bình thường nói Tam bảo nhất thể, Tam bảo lý thể, Tam bảo thường trụ, đều là giải thích khác nhau cho 1 ý nghĩa này.” (“Con đường thành Phật” trang 29)

Chúng ta xem xong đoạn văn này, nếu không có chút học Phật cơ bản thì sẽ không hiểu được; nhưng chúng ta vẫn là phàm phu, có thể hiểu được Tam bảo lý thể, đương nhiên rất tốt, nếu không thể lý giải thì chỉ tin Tam bảo sự tướng, sau khi tin đến một giai đoạn nào đó, Tam bảo lý thể cũng sẽ tự nhiên hiển hiện ra. Giống như khi chúng ta chưa từng tham quan vũ trụ bao giờ, chúng ta sẽ không biết làm báo cáo cụ thể về cảnh tượng vũ trụ, người ngoài vũ trụ như thế nào, mà luôn thấy xa vời, thậm chí là không chân thực, chỉ có đích thân ra ngoài vũ trụ một chuyến mới có thể biết được rõ ràng. Cho nên, người phàm phu chúng ta có thể tín ngưỡng Tam bảo trụ trì cũng đã đủ rồi. Nhưng chúng ta cần nên biết rằng: Không có Tam bảo trụ trì thì không hiển hiện Tam bảo lý thể; không có Tam bảo lý thể thì Tam bảo trụ trì cũng không được yên lập. Tam bảo trụ trì là đại dụng của Tam bảo lý thể; Tam bảo lý thể là toàn thể của Tam bảo trụ trì.Theo tín ngưỡng Phật giáo phải bắt đầu từ tín ngưỡng Tam bảo trụ trì, mục đích của tín ngưỡng Tam bảo trụ trì là theo đuổi sự hiển hiện (phát minh) của Tam bảo lý thể. Bây giờ có Phật tử tại gia bản thân chưa chứng Tam bảo lý thể nhưng chỉ tin Tam bảo lý thể làm lý do mà bất kính với Tam bảo trụ trì, thì đó là việc làm ngược đời đảo ngược gốc ngọn, là hành vi muốn thăng nhưng ngược lại bị đọa!

Phàm phu chúng ta chỉ có thể thấy được Tam bảo của sự tướng, Tam bảo hóa tướng trong sự tướng, chỉ ở thời Đức Phật còn tại thế mới có, sau khi Phật nhập diệt thì chỉ có Tam bảo trụ trì. Tuy nhiên trong Tam bảo, Phật là tối tôn tối quý, Pháp là tối cao tối thắng, nhưng lại coi địa vị của Tăng là tối trọng tối yếu. Sau khi Đức Phật nhập điệt, đạo tràng của Phật giáo cần được Tăng bảo trụ trì; Kinh điển của Phật giáo cần được Tăng bảo lưu giữ; văn hóa của Phật giáo cần được Tăng bảo truyền bá; tín đồ của Phật giáo cần được Tăng bảo tiếp dẫn.Bởi thế, khi Đức Phật còn tại thế, Phật giáo lấy Phật làm trọng tâm; sau khi Đức Phật nhập diệt, Phật giáo lấy Tăng bảo làm trọng tâm. Cho nên hiện tại mà nói, tín ngưỡng Phật giáo cần phải lấy Tăng bảo làm y quy; tôn kính Tam bảo cũng phải lấy Tăng bảo làm tiêu điểm. Trong các vị tăng tất nhiên sẽ hỗn tạp nhiều loại thành phần, chúng ta quy y cần phải chọn lựa thầy tốt mà theo, nhưng với tâm cung kính cúng dường thì tất cả đều bình đẳng. Trong Kinh Phật nói: Tuy Tỳ khưu phá giới, song vẫn đủ tư cách làm thầy của người và trời, cho nên không được phân biệt cao thấp, càng không được phê bình vô lý.

Còn về quy y Tam bảo, ở phần trên có nói, đó là nền tảng tin Phật học Phật, nhưng sau khi đặt chân lên nền tảng và bước vào cửa Phật, thì không được vứt bỏ nền tảng, mà dựa vào nền tảng ấy dần dần nâng cao, dần dần mở rộng.Nâng cao từng cấp, mở rộng từng bậc, Tam quy y chính là hòn đá xây dựng nghiệp đạo đó, cho nên chủng loại quy y Tam bảo gồm có 5 loại:

  • Tam quy Phiên tà - Mới đầu vào cửa Phật.
  • Tam quy Ngũ giới - Sau khi tin Phật và thọ Ngũ giới.
  •  Tam quy Bát giới - Sáu ngày ăn chay thọ trì Bát quan trai giới.
  • Tam quy Thập giới - Sa môn (ni) thọ Thập giới.
  • Tam quy Cụ túc giới - tỳ khư (ni) thọ Đại giới.

Bởi vì một khi thọ giới tất có Tam quy. Mới đầu học Phật tất nhiên cần Tam quy; sau đó thọ tiếp Ngũ giới, Bát giới, Thập giới, đều lấy Tam quy làm đắc giới mà thu nạp giới thể, Thức-xoa-ma-ni giới, Tỳ khưu Tỳ khưu ni giới, tuy lấy Yết-ma Pháp thọ giới, nhưng trong thọ giới lại cần Tam quy. Ngoài ra có người thọ Đại Thừa Bồ Tát giới, trước khi sám hối và phát nguyện cũng cần phải thọ Tam quy trước tiên. Bởi thế, tuy nói Tam quy không phải là giới, nhưng lại là căn bản của tất cả các giới (thực ra trong Tam quy gồm có giới nghĩa).

Tam quy y không chỉ là căn bản của tất cả các giới, mà còn là căn bản trong tu trì thường ngày của tín đồ Phật giáo, bài tập sớm tối trong chùa, đều có Tam quy; khi kết thúc tất cả các hoạt động Phật sự cũng đều phải lấy Tam quy làm căn bản. Tại các khu vực Phật giáo Tiểu Thừa, họ đặc biệt coi trọng Tam quy, lấy việc hát tụng Tam quy để hành trì, cũng lấy việc hát tụng Tam quy để chúc nguyện cho mọi người.

 (III) Phương pháp quy y Tam bảo

Sau khi chúng ta đã hiểu khái niệm của quy y Tam bảo, thì nên quy y Tam bảo.

Còn về nghi lễ của quy y Tam bảo, khi Đức Phật còn tại thế, bởi căn cơ của người thọ quy y khá dày, cho nên cũng không cần dùng đến nghi lễ gì. Ví dụ đệ tử Tam quy đầu tiên của Thế tôn Thích Ca là cha của Da-du-già, nói trước Phật rằng: “Con hôm nay quy y Phật, quy Pháp, quy Tăng, chỉ mong Thế tôn nhận làm Ưu-bà-tắc.” Nói lời như vậy liền coi như đã thọ Tam quy y.

Theo thực tế mà nói, trước khi Phật chưa độ cho năm vị Tỳ khưu, thời điểm chưa có Tăng bảo Tỳ khưu, Phật đã thọ quy y cho hai người thương gia và Long vương, tức nói Tam quy yêu cầu họ quy y các vị tăng tương lai. Có thể thấy Tam bảo là một thể, quy y Phật, quy y Pháp, mà không quy y Tăng, thì sẽ không phải quy y.

Câu từ của quy y Tam bảo thực sự rất đơn giản, nhưng trước khi quy y tốt nhất nên niệm thuộc trước. Những người thọ quy y, khi quy y, vị thầy quy y niệm một câu thì họ niệm theo một câu, có người vì lời nói của thầy quy y không rõ ràng hoặc tâm lý của bản thân căng thẳng, sau khi quy y chẳng hề biết nội dung câu từ của quy y là gì, theo lý mà nói, quy y như vậy không phải là quy y. Câu từ của quy y gồm có Tam quy tam kết, được chép lại như sau:

Con tên là (Pháp danh hoặc tên thật đều được), suốt đời quy y Phật. Suốt đời quy y Pháp. Suốt đời quy Tăng (nói 3 lần). Quy y Phật rồi, quy y Pháp rồi, quy y Tăng rồi (cũng nói 3 lần).

Phía trước Tam quy nói 3 lần, tức là chính thọ của Tam quy y giới, phía sau là tam kết của Tam quy. Thời điểm quan trọng của quy y tức là khi chính thọ của tam thuyết Tam quy; tiếp nhận giới thể vô tác của Tam quy y, cũng chính ở thời điểm chính thọ này. Tốt nhất khi chính thọ Tam quy, có thể quán tưởng: Khi nói lời quy y lần thứ nhất, bởi công đức phát tâm của bản thân, cảm nhận được vùng đất mười phương rung chuyển, và đám mây công đức từ mặt đất mười phương dần dần bay lên; khi nói lời quy y lần thứ hai, đám mây công đức tỏa ra từ mười phương từ từ tụ lại trên đỉnh đầu, kết thành hình lọng che; khi nói lời quy y lần thứ ba, lọng che vân tập này hóa thành hình cái phễu, từ từ bay xuống vào trong đỉnh đầu, rồi khắp toàn thân, sau đó từ trong thân tỏa ra, khiến cho thân tâm của chính mình ở khắp thập phương thế giới theo sự lan tỏa rộng khắp của đám mây công đức - cho đến lúc này, bản thân đã tiếp nạp giới thể của Tam quy, thân tâm của chính mình cũng như công đức của giới thể đã cùng hòa vào với vũ trụ. Thiết nghĩ, quy y như thế thì thiêng liêng và trang nghiêm như biết bao!

Nếu không thể quán tưởng như vậy, mức độ thấp nhất cũng phải nghe rõ ràng câu từ quy y, đọc một cách trôi chảy, đó là việc tuyệt đối không được sơ sót. Cho nên Đại sự Hoằng Nhất đã từng nói một đoạn vô cùng tha thiết, được chép lại như sau:

“Bất luận là người xuất gia hay tại gia, khi thọ Tam quy, có hai điểm quan trọng nhất: Thứ nhất, cần chú ý quy y Tam bảo có ý nghĩa như thế nào. Thứ hai, khi thọ Tam quy, phải hiểu rõ những điều mà sư phụ nói, hoặc những lời mà sư phụ nói toàn là lời văn cổ không thể hiểu rõ, như vậy thì không thọ được Tam quy; hoặc khoảng cách quá xa, nghe không rõ, thì cũng không thọ được Tam quy; hoặc tuy nghe thấy và cũng hiểu được đại đa số, trong đó có 1-2 phần nghi ngờ, thì cũng không thọ được Tam quy. Rồi khi chính thọ, tức là khi nói 3 lần “quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng” là lúc quan trọng nhất, cần phải đặc biệt chú ý; sau đó “quy y Tăng rồi, quy y Pháp rồi, quy y Tăng rồi” là tam kết, không quan trọng; cho nên các vị phát tâm thọ giới nên hiểu rõ về ý nghĩa Tam quy trước đã. Rồi khi chính thọ, cần chú ý ba lời như “quy y Phật” thì mới có thể thọ được Tam quy y.” (Xem “Luật học yếu lược”)

Từ đó có thể thấy, Tam quy tuy rất đơn giản, nhưng muốn thực sự thọ được giới thể của Tam quy thì lại không dễ dàng chút nào. Chúng tôi tin rằng theo lập luận đó, ngày nay có nhiều đệ tử Tam quy chưa thọ được Tam quy, nếu tự biết chưa thọ được Tam quy thì có thể thỉnh cầu sư phụ quy y của mình hoặc mời thầy khác thọ lại lần nữa. Trong nghi thức quy y với quy mô lớn có tập thể mấy chục người hoặc mấy trăm mấy ngàn người là không đáng tin cậy nhất, chỉ có những người có thiện căn mới thọ được mà thôi.

Từ việc nuôi dưỡng và bồi luyện tinh thần Tôn giáo mà nói, nghi thức thọ giới càng long trọng thì càng có thể gợi lên lòng thành kính; yêu cầu của thọ giới càng nghiêm khắc thì càng làm cho con người sinh khởi cảm giác thiêng liêng trang nghiêm. Cầu thọ Tam quy đáng lẽ chỉ cần thỉnh cầu một vị sư phụ quy y, tam thuyết tam kết trước Phật là được. Vì lợi ích trọng thể, Hòa thượng Luật sư Kiến Nguyệt ở núi Bảo Hoa Nam Kinh cuối đời nhà Minh, đã viết một bộ “Tam quy Ngũ giới chính phạm” để đối chiếu nghi thức truyền thọ của Bồ Tát giới thậm chí là Cụ túc giới, quyển sách này cho đến ngày nay vẫn được lưu truyền và vẫn được đại đa số các sư phụ quy y lấy làm bản mẫu noi theo.

Trong Tam quy chính phạm gồm có 8 hạng mục:

  • Trải chỗ mời thầy - Người thọ quy y sắp xếp Pháp tọa cho sư phụ, bày hương hoa cúng dường, đèn nến ngăn nắp, rồi lễ thỉnh sư phụ quy y lên ngồi.
  •  Dạy bảo - Khai thị ý nghĩa của Tam quy y.
  • Thỉnh Thánh - Mời thập phương Tam bảo chứng minh thọ quy và Long thiên hộ pháp giám đàn hộ giới.
  • Sám hối - Sám hối những nghiệp chướng trước đây, để cầu ba nghiệp thân khẩu ý thanh tịnh, sau đó, tiếp nạp giới thể Tam quy vô tạp vô nhiễm.
  • Thọ quy - Tam quy tam kết và phát tam thệ.
  • Phát nguyện - Phát tâm vô thượng Bồ đề, nguyện độ tất cả chúng sinh.
  • Hiển ích khuyên nhủ - Giải thích công đức thù thắng của Tam quy và nhắn nhủ y giáo phụng hành.
  • Hồi hướng - Đem công đức của thọ quy hồi hướng cho tất cả chúng sinh đang trầm luân, mau thoát khỏi sinh tử, sớm sinh về Phật độ.

Nói ra thì thọ Tam quy y chỉ có như vậy mới coi là trịnh trọng cứu cánh viên mãn. Chỉ có điều, Tam quy chính phạm đó, trước mắt cũng không thực sự thiết thực, bởi vì những câu chữ được sử dụng trong đó đều là văn cổ, tuy câu chữ điển lệ cao nhã, nếu sư phụ quy y thực cổ bất hóa, khi ngồi nói quy y mà đọc theo nguyên văn ngữ cổ, thì người thọ quy y không thể tiêu hóa, một khi không thể tiêu hóa thì cũng không thọ được quy y. Cho nên Đại sư Hoằng Nhất cũng phê bình vấn đề này:

“Cuốn sách “Tam quy Ngũ giới chính phạm” do sư phụ tu Luật tạng Kiến Nguyệt ở núi Bảo Hoa biên soạn, tất cả các khai thị hầu hết sử dụng văn thể biền, người nghe nếu không thể lý giải thì cũng như hư văn mà thôi; tốt nhất là thỉnh sư phụ dịch thành bạch thoại.” (Xem “Luật học yếu lược”)

Nói về phần thực dùng, trong 8 hạng mục được liệt kê trong “Tam quy Ngũ giới chính phạm”, dường như đều cần thiết và không thể thiếu bất kỳ một điều nào.Tỳ khưu không được đứng thuyết Pháp cho bạch y, cho nên phải rải chỗ ngồi; cần hiểu biết ý nghĩa của Tam bảo, cho nên phải dạy bảo; sư phụ quy y là đại diện cho Tam bảo thọ quy y cho người, vì vậy phải thỉnh Thánh; vì cầu cải thiện trở lại làm người lương thiện, nên cần sám trừ tội lỗi trước kia; Tam quy tam kết và tam thệ là trọng tâm của thọ quy, nên cần phải thực hành; Tam quy gồm chia làm tam phẩm: Phát tâm tự độ độ người là thượng phẩm, chỉ tự độ thoát sinh tử là trung phẩm, chỉ cầu không đọa vào 3 đường ác vẫn được sinh vào cõi người và trời là hạ phẩm, cho nên khuyên phát tâm là rất cần thiết; để tăng cường lòng tinh tấn và ý chí kiên định, hiển ích khuyên nhủ cũng cần phải làm; để trở thành người từ bi vị tha không ích kỷ, thì hồi hướng công đức cho tất cả chúng sinh cũng là đúng.

Tại đây tôi muốn chỉ ra một điểm: Phật giáo nguyên thủy không có sự phân biệt giữa Đại Tiểu Thừa, nhưng lại thiên về hình thái Tiểu Thừa. Cho nên Tam quy trong Luật tạng vô cùng đơn giản, ngoài Tam quy theo từ ngữ thì không có gì khác. Phật giáo truyền đến Trung Quốc, tất cả quy về Đại Thừa, tất cả giới đều thọ trì theo Đại Thừa mà tăng thêm rất nhiều hạng mục, nhưng việc gia tăng hạng mục đó đều tốt, không có gì đáng ngại. Ngày nay nếu không lấy Tam quy mới đầu làm hành môn Đại Thừa, thì cũng có thể không cần các hạng mục phát nguyện và hồi hướng.

Nếu bị sự hạn chế về thời gian và hoàn cảnh, cũng có thể giản hóa nghi thức Tam quy, hiện nay, tôi đang thử một hình thức đơn giản như sau:

Sau khi sư phụ quy y lễ Phật và an tọa, người thọ quy y quỳ xuống, chắp hai tay. Sau khi sư phụ quy khai thị ý nghĩa quy y Tam bảo, rồi hướng dẫn người thọ quy y đọc kệ sám hối:

“Những ác nghiệp đã tạo trước đây, đều do vô sử tham sân si;
từ thân miệng ý phát sinh ra, nay đối trước Phật cầu xin sám hối.”

Đọc 3 lần, mỗi lần lễ một lạy. Tiếp theo là chính thọ của Tam quy y và tam kết:

“Con là…, suốt đời quy y Phật, suốt đời quy y Pháp, suốt đời quy y Tăng.”

Đọc 3 lần, mỗi lần lễ một lạy, rồi niệm:

 “Con là…, quy y Phật rồi, thà xả thân mệnh, cũng không quy y Thiên ma ngoại đạo.

Con là…, quy y Pháp rồi, thà xả thân mệnh, cũng không quy y tà thuyết ngoại đạo.

Con là…, quy y Tăng rồi, thà xả thân mệnh, cũng không quy y tín chúng ngoại đạo.”Đọc 3 lần, mỗi lần lễ một lạy, sau đó phát tứ hoằng thệ nguyện:

“Con là…, chúng sinh vô biên thệ nguyện độ.
Con là…, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Con là…, Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Con là…, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.”

Đọc 3 lần, mỗi lần lễ một lạy. Sư phụ quy y khai thị công đức của quy y, và khuyên răn y giáo phụng hành, tức niệm kệ hồi hướng:

“Quy y công đức thù thắng hạnh, vô biên thắng phúc giai hồi hướng,
Phổ nguyện trầm luân chư chúng sinh, tốc vãng chư Phật tịnh lạc độ.
Thập phương tam thế nhất thiết Phật, chư tôn Bồ Tát Ma Ha Tát,
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.”

Đến đây công đức quy y viên mãn, sư phụ quy y xuống chỗ ngồi lễ Phật, sau đó người thọ quy y lễ tạ sư phụ quy y, bình thường 3 lạy, thực tế lễ Phật lễ Tăng, một lễ là được.

Quy y theo hình thức giản hóa được nêu trên không cần hát sướng, nhưng cần đọc rõ ràng từng chữ, giúp cho người thọ quy y có thể lĩnh thọ là được.

Trong đó cần phải giải thích, tam thệ ở phần dưới của Tam quy tam kết: “Không quy y Thiên ma ngoại đạo”, “không quy y tà thuyết ngoại đạo”, “không quy y tín chúng ngoại đạo”. Thiết lập tam thệ như vậy, Tam quy đã có được tính chất và tác dụng của giới. Đây không phải là tính biệt lập của Phật giáo mà là vì ngoại đạo - toàn bộ các học thuyết Tôn giáo ngoài Phật giáo, tuy có phần có lý, nhưng những điều đó đều không cứu cánh. Phật là người đại giác có đầy đủ phúc tuệ, cho nên quy y Phật, không cần quy y Thiên ma ngoại đạo; Pháp là bảo tạng của tất cả trí tuệ, quy y phụng hành, không cần dứt khổ mà được an lạc, cho nên không cần quy y tà thuyết ngoại đạo; Tăng là thầy giáo của người và trời có khả năng truyền thọ con đường thanh tịnh nhất, cho nên không cần quy y tín chúng ngoại đạo. Mục đích của tam thệ này được thiết lập để giúp cho người đã đi vào chính đạo phòng trừ lại đi lạc lối.

Còn sau khi đã thọ Tam quy y, nếu vì bảo vệ nhà cửa, tài sản, quốc thổ, nhân dân và sinh mệnh được an toàn, mà tế Thần lễ quỷ và lễ trời bái Thánh, chỉ cần không có tâm quy y thì vẫn có thể không mất quy y, nếu có tâm quy y Thiêng liêng thì liền mất quy y.

Lại nói về vấn đề “giới”, sau khi đã quy y Tam bảo, đích thực có một số việc cần phải nghiêm cấm. Người quy y thượng phẩm, các giới Tam bảo, tự nhiên đầy đủ; cho dù người quy y hạ phẩm cũng nên chỉ ăn 5 loại tịnh nhục (không phải vì mình mà giết, không nhìn thấy, không nghe thấy, tự chết, chim thú ăn còn sót lại), và không được theo các ngành nghề làm ác như buôn thịt, bán rượu, mại dâm, cờ bạc .v.v., tháng một, tháng năm, tháng chín hàng năm và sáu ngày ăn chay hàng tháng (mùng 8, 14, 15, 23 và 2 ngày cuối tháng âm lịch) phải trì trai giới. Nếu được như vậy, thì trong sơ hội của Phật Đương Lai Di Lặc sẽ được giải thoát.

Quy y Tam bảo còn có một quan niệm vô cùng quan trọng cần phải hiểu rõ: Sau khi chúng ta quy y Tam bảo, tức là đã quy tất cả Tam bảo thập phương tam thế, cho nên kệ hồi hướng có “Thập phương tam thế nhất thiết Phật, chư tôn Bồ Tát Ma Ha Tát, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.”Câu thứ nhất là tất cả Phật bảo, câu thứ hai là tất cả Tăng bảo, câu thứ ba nghĩa là vô thượng Pháp bảo. Trong 3 câu này, đã bao gồm Tam bảo của lý thể và sự tướng. Hiện nay chúng ta lấy sự tướng làm chính, cho nên cần phải cung kính cúng dường tất cả Thánh tượng của Phật Bồ Tát, tất cả các Pháp điển của Phật giáo, tất cả các vị xuất gia của Phật giáo.

Song Bản sư Phật của chúng là Phật Thích Ca Mâu Ni, Bản sư Tăng chúng ta là sư phụ quy y, để báo ơn thì thiên trọng về Bản sư Phật và Bản sư Tăng, cũng là chuyện thường tình. Nếu chỉ coi Bản sư Phật làm Phật, các chư Phật khác không phải là Phật, thì là đi ngược với Phật giáo; cũng giống vậy, nếu chỉ kính quy sư phụ quy y mà không kính tất cả các vị tăng khác, thì cũng không đúng. Giống như phủ định trăm nghìn hành động lương thiện, mà chỉ khẳng định một cử chỉ lương thiện; chỉ trồng một mảnh vườn, mà hoang phí trăm ngàn mảnh vườn, đó chẳng khác nào là sự ngu dốt.

 (IV) Lợi ích của quy y Tam bảo

Lợi ích của quy y Tam bảo thực sự rất nhiều, có thể cầu được an lạc tại đời này, có thể cầu được an lạc ở đời sau, càng có thể đạt đến an lạc cứu cánh của niết bàn tịch tịnh. Tổng hợp lại, có khoảng 8 loại: 1. Trở thành đệ tử Phật. 2. Là cơ bản của thọ giới. 3. Giảm nhẹ nghiệp chướng. 4. Có thể tích phúc đức rộng lớn. 5. Không đọa vào đường ác. 6. Nhân và phi nhân đều không thể quấy rối. 7. Tất cả các việc tốt đều sẽ thành công. 8. Có thể thành Phật đạo.

Nếu muốn lấy ví dụ riêng, trong Kinh Phật thực sự rất nhiều, chọn 5 câu chuyện, dùng chữ văn dịch kể lại như sau:

1. Nếu người quy y Tam bảo, phúc đức sau này được hưởng sẽ rất lớn, lớn đến không thể cùng tận. Ví dụ có một bảo tạng, nhân dân toàn quốc di rời 7 năm, rời mãi bất tận, công đức Tam quy lớn hơn như thế trăm ngàn vạn lần. (“Ưu-bà-tắc giới Kinh”)

2. Trong quá khứ, có một vị Thiên tử trên cõi trời Đao Lợi, sau khi thiên phúc hưởng hết, thân thể cũng tàn tạ ghê gớm, đồng thời thọ mệnh chỉ còn 7 ngày là kết thúc. Thiên tử tự biết sau khi mệnh chung sẽ đầu thai làm heo, cho nên rất đỗi sợ hãi, thế là thỉnh giáo Thiên chủ, nhưng Thiên chủ cũng không có cách nào, Thiên chủ mách Thiên tử cầu cứu Đức Phật, Đức Phật dạy Ngài quy y Tam bảo, sau khi chết không đầu thai làm heo, mà được thân người, và gặp được Xá Lợi Phất, thỉnh Phật thuyết Pháp, bởi thế mà chứng được Thánh quả. (“Chiết phục La Hán Kinh”)

3. Trong quá khứ, có một vị Thiên tử trên cõi trời Ba mươi ba, hưởng hết thiên phúc, còn 7 ngày nữa là chết, mọi hoan lạc ngày xưa đều rời khỏi Thiên tử, Thiên nữ xinh đẹp cũng không còn gần gũi Ngài nữa, tướng mạo uy đường trước kia giờ đây biến thành không còn khí sắc, thân thể của Ngài suy nhược và nhơ bẩn vô cùng, hai nách luôn ra mồ hôi hôi thối suốt ngày. Thiên tử cũng tự thấy mình sẽ đầu thai làm heo, bởi thế nằm trên đất đau buồn, khóc lóc, kể khổ. Thiên chủ biết được việc này, chỉ dẫn cho Ngài thành tâm quy y Tam bảo, dạy Ngài miệng niệm “quy y Phật lưỡng túc tôn, quy y Pháp ly dục tôn, quy y Tăng chúng trung tôn”, Thiên tử liền làm theo lời của Thiên chủ, quy y Tam bảo. Kỳ hạn 7 ngày đã đến, Thiên tử chết đi. Thiên chủ muốn biết vị Thiên tử này sau khi chết rốt cụ sinh vào nơi đâu, nhưng theo khả năng của mình Ngài đã coi những nơi mà có thể thấy, đều không thể nhìn thấy dấu vết của vị Thiên tử này. Chỉ còn cách đi hỏi Đức Phật, Đức Phật nói rằng: “Bởi công đức quy y Tam bảo, nên đã chuyển đọa thành thăng, sinh lên cõi trời Đâu Xuất rồi. Thiên nhân các vị chỉ có thể nhìn thấy bậc dưới, chứ không nhìn thấy tầng trên.” (“Sai Miệt Năng Pháp Thiên Tử Thọ Tam quy Y Hoạch Miễn Ác Đạo Kinh”)

4. Nếu như trong bốn đại bộ châu Đông, Tây, Nam, Bắc toàn là Thánh nhân quả vị Nhị Thừa, có người cúng dường suốt đời cho đến tạo tháp cho một hai vị, công đức của người ấy lớn chẳng thể tính lường, nhưng chẳng bằng công đức quy y Tam bảo. (“Giảo Lượng Công Đức Kinh”)

5. Trong quá khứ, có một vị Tỳ khưu tên Sa Đẩu chuyên tụng danh hiệu Tam bảo suốt mười năm liền chứng được sơ quả Tu-đà-hoàn, hiện nay ở thế giới Phổ Hương làm Bích Chi Phật. (“Mộc Hoạn Tử Kinh”)

Từ 5 câu chuyện được nói ở trên, chúng ta có thể biết được quy y Tam bảo là việc rất đáng quý. Đồng thời Đức Phật cũng đã từng nói, chỉ cần có người quy y Tam bảo, liền có tứ Thiên vương phái 36 vị thiện Thần đi theo hộ trì, và hy vọng các đệ tử sau khi đã thọ Tam quy thì viết tên của 36 vị thần này đem theo người, liền có thể trừ được tà ác, xuất nhập không sợ. Bây giờ có thể chép tên của 36 vị thiện Thần như sau, để hành giả có thể chuẩn bị ứng dụng: 

  • Di Lật Đầu Bất La Bà (thiện quang), chủ bệnh tật.
  • Di Lật Đầu Bà Ha Sa (thiện minh), chủ đau đầu.
  • Di Lật Đầu Bà La Ba (thiện lực), chủ nóng lạnh.
  • Di Lật Đầu Kháng Đà La (thiện nguyệt), chủ đầy ruột.
  • Di Lật Đầu Đà Lợi Xa (thiện kiến), chủ mụn nhọt.
  • Di Lật Đầu A Lâu Ha (thiện cúng), chủ điên khùng.
  • Di Lật Đầu Già Bà Đế (thiện xả), chủ ngu si.
  • Di Lật Đầu Tất Đế Chĩ (thiện túc), chủ sân huệ.
  • Di Lật Đầu Bồ Đề Tát (thiện giác), chủ dâm dục.
  • Di Lật Đầu Đề Ba La (thiện thiên), chủ tà quỷ.
  • Di Lật Đầu Ha Sa Đế (thiện trụ),  chủ thương vong.
  • Di Lật Đầu Bất Nhược La (thiện phúc), chủ mồ mả.
  • Di Lật Đầu Tất Đô Già (thiện thuật), chủ tứ phương.
  • Di Lật Đầu Già Lệ Sa (thiện đế), chủ oan gia.
  • Di Lật Đầu La Đô Già (thiện chủ), chủ trộm cướp.
  • Di Lật Đầu Tu Càn Đà (thiện hương), chủ trải chủ.
  • Di Lật Đầu Đàn Na Ba (thiện thí), chủ cướp giật.
  • Di Lật Đầu Chi Đa Na (thiện ý), chủ dịch độc.
  • Di Lật Đầu La Bà Na (thiện cát), chủ ngũ dịch. 
  • Di Lật Đầu Bát Bà Đà (thiện sơn), chủ xác chết.
  • Di Lật Đầu Tam Ma Đà (thiện điều), chủ chú liên.
  • Di Lật Đầu Lệ Đế Đà (thiện bị), chủ chú phục.
  • Di Lật Đầu Ba Lợi Đà (thiện kính), chủ tương dẫn.
  • Di Lật Đầu Ba Lợi Na (thiện tịnh), chủ ác đảng.
  • Di Lật Đầu Kiền Già Địa (thiện phẩm), chủ mê độc.
  • Di Lật Đầu Tỳ Lê Đà (thiện kết), chủ khủng bố.
  • Di Lật Đầu Chi Đà na (thiện thọ), chủ ách nạn.
  • Di Lật Đầu Già Lâm Ma (thiện thệ), chủ sản sữa.
  • Di Lật Đầu A Lưu Già (thiện nguyện), chủ huyện quan.
  • Di Lật Đầu Đô Lợi Đà (thiện cố), chủ miệng lưỡi.
  • Di Lật Đầu A Già Đà (thiện chiếu), chủ phiền não.
  • Di Lật Đầu A Kha Bà (thiện sinh), chủ bất an.
  • Di Lật Đầu Sa Hòa La (thiện chí), chủ bách quái.
  • Di Lật Đầu Ba Lợi Na (thiện tạng), chủ ganh tỵ.
  • Di Lật Đầu Cố Đà Na (thiện âm), chủ bùa chú.
  • Di Lật Đầu Vi Đà La (thiện diệu), chủ chán ghét.

36 vị thiện Thần được được liệt kê như trên, xuất từ “Quán đỉnh Tam quy ngũ giới đới bội hộ thân chú Kinh”, Kinh này nói, người đã thọ Tam quy sẽ có tứ Thiên vương phía họ đến hộ trì, đồng thời 36 vị Thần vương này, mỗi vị có vạn tỷ hằng hà sa số quỷ Thần là quyến thuộc, thay nhau hộ trì người đã thọ Tam quy. Nếu có thể chép tên các Thần vương và mang theo người, thì là tốt nhất.Trong đó vị Thần thứ 24 và 34 giống nhau về âm dịch, nhưng ý dịch khác nhau, như vậy cũng không có gì trở ngại. 

Song chúng ta nên biết: Quy y Tam bảo tuy có thể cầu được bình an và hạnh phúc trong đời này, nhưng mục đích cuối cùng của quy y Tam bảo là trở về trong lòng của Tam bảo, và giúp cho chính mình cũng trở thành Tam bảo - đều có thể thành Phật, nên không được tự ruồng bỏ mình.

III. Nền tảng học Phật

 (I) Kiến thức Tôn giáo

Trên thế giới, Tôn giáo mang tính toàn cầu và có lịch sử lâu đời, chỉ có 3 Tôn giáo: Thứ nhất, Phật giáo ở Ấn Độ; thứ hai, Cơ Đốc giáo ở Trung Đông; thứ ba, Hồi giáo. CơĐốc giáo và Hồi giáo bắt nguồn đều là Do Thái giáo. Do Thái giáo thuộc Tôn giáo mang tính dân tộc, cho đến nay đều không có thay đổi. Trung Quốc và Ấn Độ của Đông phương cũng có các Tôn giáo mang tính dân tộc, như Đạo giáo của Trung Quốc, Bà La Môn giáo hoặc Ấn Độ giáo của Ấn Độ, cho đến nay, ngoại trừ người Ấn Độ thì rất ít người của dân tộc khác có thể tiếp nhận những Tôn giáo đó.

Đạo giáo của Trung Quốc chia làm hai hệ thống: Thuộc hệ thống triết học là Lão Tử và Trang Tử, được gọi là Đạo gia; thuộc hệ thống đạo thuật thì có hệ kim đan và hệ bùa chú. Hệ kim đan luyện đan, luyện khí, còn phân nội đan và ngoại đan.

Nội đan là luyện khí công, ngoại đan là luyện kim thuật, tức là luyện kim loại thành đan dược, họ tin rằng con người ăn kim đan có thể vũ hóa thăng thiên, trường sinh bất lão.Hệ bùa chú thì lợi dụng phương pháp bùa chú, sai khiến sức mạnh của quỷ Thần giải quyết vấn đề nhân gian, được gọi là Đạo giáo.

Đạo giáo của Trung Quốc cho đến ngày nay chưa trở thành một Tôn giáo mang tính thế giới, nhưng trên học thuật mang tính thế giới thì đã có một môn tư tưởng Đạo gia.

Phật giáo phát triển tại Ấn Độ vào 2600 năm trước. Sau khi Phật Thích Ca Mâu Ni niết bàn khoảng 250 năm, thì đã trở thành Tôn giáo mang tính thế giới.Bởi duyên cớ của vua A Dục mà truyền bá đến các nơi ở châu Á, thậm chí truyền bá đến châu Âu.

Ở Đông phương, trở thành Tôn giáo mang tính thế giới đầu tiên đó là Phật giáo, cho đến ngày nay, Tôn giáo Đông phương được công nhận mang tính thế giới thì chỉ có Phật giáo.

Tôn giáo cao cấp mang tính thế giới, bắt buộc phải có 3 điều kiện: Giáo chủ, giáo lý, giáo đoàn. Đối với Phật giáo mà nói, Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ, Kinh giáo mà Phật thuyết là giáo lý, Tăng đoàn được xây dựng bởi các đệ tử đời đời truyền thừa là giáo đoàn. Giáo chủ của Cơ Đốc giáo là Jesus, giáo lý là “Kinh Thánh”, giáo đoàn là các môn đồ, tín đồ của họ. Giáo chủ của Hồi giáo là Muhammad, “Kinh Koran”, các tín đồ là giáo đoàn.

Tôn giáo mang tính thế giới có một lịch sử lâu đời, nhất định là có nguyên nhân của nó. Nhưng trong quá trình lịch sử, còn có rất nhiều thăng trầm lên xuống mà không biết là bao nhiêu.Có thể nói từ khi có lịch sử loài người đến nay, thì đã có vô số người phát sinh vô số các nhu cầu và hiện tượng Tôn giáo: Mang tính khu vực, tính dân tộc, tính bộ lạc, và còn có tính thời đại. Những hiện tượng mà Tôn giáo phát sinh ra ấy đều có được do kinh nghiệm thần bí của sự cảm ứng quỷ Thần, trong xã hội cổ đại của Tây phương, coi đó là phù thủy, ma, không được phép truyền bá, còn ở Đông phương thì luôn giả danh là Phật giáo, bị Phật giáo chính thống gọi là kèm Phật Pháp ngoại đạo, họ không có lý luận và chế độ của riêng mình, cho nên lên lên xuống xuống.

Trong xã hội đa văn hóa của thời đại mở cửa hôm nay, Tôn giáo mới như mọc nấm sau cơn mưa. Ở Âu Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kông, thậm chí là Trung Quốc, đều có tông tích của các loại Tôn giáo mới, từ chỗ chỉ có mấy chục người, mấy trăm người, mấy trăm nghìn người, rồi đến mấy triệu người đều có.

Chỉ có điều, qua một thời gian hoặc sau khi người sáng lập qua đời, sức thu hút liền giảm xuống yếu dần, tín đồ cũng dần không thấy đâu. Tôn giáo như thế trong xã hội Hoa kiều tại nước Mỹ cũng có không ít.

 (II) Lịch sử và xu thế hiện nay của Phật giáo

1. Phật giáo phát sinh tại Ấn Độ

Phật giáo phát sinh tại Ấn Độ. Phật giáo Ấn Độ tổng cộng chia làm 3 thời kỳ. Một là giai đoạn khi Phật Thích Ca còn tại thế và sau khi Phật Thích Ca nhập diệt, được gọi là thời kỳ Phật giáo nguyên thủy. Đó là Phật giáo vô cùng đơn giản, chất phác. Phật Thích Ca Mâu Ni phản đối mê tín tế lễ, phản đối sùng bái ngẫu tượng. Ngài chủ trương người người cần phải làm theo giáo lý của Ngài, làm theo giới luật mà Ngài đặt ra, chứ không phải là coi người làm Thần để sùng bái. Ngài thường nói: “Ta không lãnh đạo người, ta cũng là một phần tử trong Tăng.” Phật dùng ý niệm và phương pháp thực tế giúp chúng sinh giải thoát những đau khổ của thân tâm. Đối tượng của Kinh Phật là người, là để độ người.

Khoảng ba đến bốn trăm năm sau khi Phật nhập diệt, tư tưởng Phật giáo dần dần sản sinh sự thay đổi theo tính khu vực, tính tư tưởng. Bởi sự khác biệt của khí hậu, ngôn ngữ, dân tộc ở Ấn Độ, trên hình thái tư tưởng mà Phật giáo lưu truyền đã có những thay đổi. Các tu sĩ tự hóa độ mỗi phương khác nhau, để thích ứng với nhu cầu đại chúng xã hội của địa phương đó trong thời điểm đó, đã phát sinh ra những tư tưởng khác nhau và các phái với hình thái khác nhau, cái gọi là Phật giáo bộ phái lúc này được sản sinh. Thời kỳ Phật giáo bộ phái chú trọng chỉnh lý của lý luận và biện minh quan niệm, có khuynh hướng coi trọng sự giải thoát cá nhân, bởi thế Phật giáo bộ phái sau này được Phật giáo Đại Thừa gọi là Tiểu Thừa. Nhưng bản thân nó lại chia là hai phần lớn: Phần bảo thủ gọi là Thượng tọa bộ, phần mở mang được gọi là Đại chúng bộ.

Ý nghĩa của Tiểu Thừa là chỉ cứu bản thân, tự độ, tự lợi. Song Tiểu Thừa cũng khuyên người ta tu hành, cũng truyền bá Phật Pháp. Cũng giống như bản thân có một chiếc xe nhỏ, cũng cho người khác một chiếc xe con. Họ ngồi chiếc xe nhỏ này có thể chứng niết bàn, kết thúc sinh tử, cũng khuyên người ta ngồi chiếc xe con đó để chứng niết bàn, kết thúc sinh tử, cho nên Tiểu Thừa Pháp là căn bản của Đại Thừa Pháp.

Phật giáo Đại Thừa là hình thái Phật giáo dần được sản sinh giữa 500 năm đến 1000 năm sau khi Phật nhập niết bàn. Mới bắt đầu đã nhấn mạnh, vì quảng độ chúng sinh, vì thành tựu Phật đạo, cần phải phát tâm Bồ đề quảng đại. Ý nghĩa của tâm đại Bồ đề là “nguyện chúng sinh đều thoát khổ, không vì tự cầu an lạc”.

Phật giáo Đại Thừa của Ấn Độ lại chia thành 3 hệ thống: Căn cứ tư tưởng Bát nhã, sản sinh hệ Trung quán học; căn cứ tư tưởng Duy thức, sản sinh hệ Du già học; căn cứ tư tưởng duy tâm, sản sinh hệ Như Lai Tạng học. Ba hệ học lớn này lại có thể quy về 2 loại: Thứ nhất, là thuyết không, gọi là “hệ Trung quán”; thứ hai, là thuyết hữu, chia làm “hữu duy thức” và “hữu duy tâm”. Hữu duy thức gọi là “hệ Du già”, hữu duy tâm gọi là “hệ Như Lai Tạng”.

2. Truyền bá Phật giáo từ Ấn Độ đến phương Bắc

Phật giáo truyền bá từ Ấn Độ đến phương Bắc, chia làm hai hệ thống. Hệ thống thứ nhất là phạm vi văn hóa dân tộc Hán Trung Nguyên của Trung Quốc, hệ thống thứ hai là phạm vị văn hóa Mông Cổ Tây Tạng biên cương Trung Quốc. Phật giáo mới đầu được truyền bá đến Trung Quốc khoảng vào năm 67 Công nguyên, do 2 vị phàm tăng là Ca Diếp Ma Đằng (Kāśyapa Mātaṇga) và Trúc Pháp Lan(Dharmaratna), dùng ngựa trắng thồ Kinh đến Lạc Dương. Bộ Kinh Phật đầu tiên truyền đến Trung Quốc được dịch thành Hán văn là “Kinh Tứ Thập Nhị Chương”. Qua hơn 1000 năm truyền dịch bằng Hán văn, đã hình thành Phật giáo dân tộc Hán của Trung Quốc. Phật giáo của dân tộc Hán lại truyền ra ngoài, đầu tiên là truyền đến Hàn Quốc, rồi lại từ Hàn Quốc truyền đến Nhật Bản, sau khi Nhật Bản đón nhận Phật giáo truyền từ Hàn Quốc, lại phái học sinh đến Trung Quốc cầu học Pháp. Từ thời Tùy Đường đến Tống Minh, người Nhật Bản được trời hậu đãi, họ đem các tông phái của Phật giáo Trung Quốc đều truyền về nước mình. Rất nhiều Kinh điển Phật Giáo Trung Quốc, sau giáo nạn Tam võ nhất tông đều bị hủy hoại, nhưng người Nhật Bản lại lưu giữ rất tốt, điều này chúng ta cần phải cảm ơn Nhật Bản. Ngoài Hàn Quốc, Nhật Bản ra, còn có Phật giáo Đại Thừa của Việt Nam, cũng được truyền từ Trung Quốc.

Phật giáo Trung Quốc thông thường có 10 tông Đại Tiểu Thừa. Tiểu Thừa có 2 tông là Câu Xá và Thành Thực. Sau này tông Câu xá nhập vào tông Duy Thức, tông Thành Thực nhập vào tông Tam Luận, chỉ còn 8 tông Đại Thừa, đó là: Thiên Thai tông, Tam Luận tông, Hoa Nghiêm tông, Luật tông, Tịnh Độ tông, Mật tông, Thiền tông và Pháp Tướng tông. Cho đến ngày này trong 8 tông phái này, thì Thiền tông và Tịnh Độ tông có thế lực mạnh nhất. Trên thực tế, chùa chiền Trung Quốc đại đa số thuộc Thiền tông. Nhưng những ngôi chùa chỉ tu thiền mà không niệm Phật thì rất ít, vì thế lại mở ra Pháp môn Thiền Tịnh song tu. Thiên Thai tông, Duy Thức tông, Hoa Nghiêm tông hơn nửa thuộc về nghiên cứu học vấn, chùa chiền và tín chúng chuyên tu không nhiều. Tất cả người xuất gia đều phải thọ giới, trước mắt đã không còn cố định phải là trong chủa Luật tông mới có thể truyền giới, hiện tại chỉ có số ít tăng lữ trì Luật, học Luật, và không nhất định là ở chùa Luật. Trung Quốc trước năm 1949, ngôi chùa Luật tông thực sự chỉ có khoảng mấy chùa. Mật Tông được truyền vào Trung Quốc từ thời nhà Đường, sau khi từ Trung Quốc truyền đến Nhật Bản, Mật tông của chính Trung Quốc không còn nữa. Người Trung Quốc tại sao lại không thích Mật tông? Đây có lẽ có liên quan đến tư tưởng Nho gia của Trung Quốc. Các quan niệm về sự độ trì, thần lực, sức thần chú của Mật tông từ góc độ tư tưởng Nho gia Trung Quốc là hiện tượng khá kỳ lạ, cho nên trong phạm vi văn hóa Hán ngữ của Trung Quốc không thể thịnh hành.

Vào thế kỷ thứ 7, Phật giáo Đại Thừa thời kỳ sau từ Ấn Độ truyền đến phương Bắc một hệ thống khác, đầu tiên truyền đến Tây Tạng, sau đó truyền đến Mông Cổ, đây là Phật giáo thuộc phạm vi văn hóa Mông Tạng. Phật giáo Ấn Độ thời kỳ đó, Mật giáo đã rất thịnh hành, sau khi truyền vào Tây Tạng, dần dần thích ứng với nhu cầu của người dân địa phương, kết hợp với tín ngưỡng Tôn giáo của người dân tộc mà trở thành Mật tông Tây Tạng như ngày nay. Bản thân Mật tông tại Ấn Độ là thuộc về Phật giáo nhất chi của hệ thống Duy Tâm.

3. Truyền bá Phật giáo từ Ấn Độ đến phương Nam

Năm 240 trước Công nguyên, Phật giáo bắt đầu được truyền từ Ấn Độ đến phương Nam tới Sri Lanka, trở thành một hệ thống khác. Sau đó truyền đến Miến Điện, rồi tới Thái Lan và các nước Lào, Campuchia, Cao Miên trong khu vực Đông Nam Á. Đây là thuộc Phật giáo Thượng tọa bộ.Bởi vì ở địa phương chưa có Tôn giáo cao cấp, cũng không có bối cảnh văn hóa tư tưởng triết học, cho nên sau khi Phật giáo được truyền vào thì cũng không có nhiều sự thay đổi. Nếu chúng ta cần hiểu thêm về Phật giáo đơn giản hơn, thì có thể tìm thấy những vết tích tại các khu vực Nam truyền.

4. Phật giáo truyền đến Âu Mỹ và toàn thế giới

Phật giáo truyền đến Âu Mỹ, sớm nhất là thuộc hệ Thượng tọa bộ của phương Nam, đặc biệt là các vị truyền giáo của Cơ Đốc giáo châu Âu, theo thế lực chính trị của chủ nghĩa thực dân đến các khu vực Đông Nam Á và Tây Nam Á, tiếp xúc với Phật giáo tại địa phương và dịch Phật điển thành tiếng Âu Mỹ. Ví dụ bản dịch của “Thế giới Phật giáo Thánh điển” nổi tiếng, chính là lấy Tam Tạng chữ Pali là chính. Các vị có thể thấy đó là một bộ sách hay.

Ngoài ra, truyền đến Âu Mỹ còn có Thiền của hệ Nhật Bản. Phật giáo của hệ thống Nhật Bản cũng có khá nhiều tông phái, trong đó Tịnh Độ Chân tông và Nhật Liên tông đã là Tôn giáo của văn hóa bản thổ Nhật Bản. Chỉ có Thiền tông Nhật Bản là còn giữ được phong cách Trung Quốc khi được truyền vào. Bởi thế, người Âu Mỹ sẵn sàng tiếp nhận Thiền của Nhật Bản. Thiền Nhật Bản mới đầu truyền đến Mỹ, cống hiến lớn nhất là Ngài D.T.Suzuki. Trước tiên Ngài diễn thuyết về Thiền tại đại học Colombia, sau đó tư tưởng Thiền của Ngài bay khắp nước Mỹ, khắp châu Âu. Dần dần có khá nhiều vị Thiền tăng Nhật Bản đầu tiên là đến thành phố San Francisco, sau đó tới phía Đông, hiện tại đã truyền đến phía Trung Tây. Trước mắt, Thiền của Nhật Bản cũng đã đến châu Âu.

Phật giáo thứ ba được truyền đến Âu Mỹ là thuộc Mật giáo của hệ Tây Tạng.Giữa những năm 1953 đến 1958, Đạt Lai Lạt Ma đem mấy vạn người từ Tây Tạng đến Ấn Độ. Các vị Lạt Ma trẻ tuổi vô cùng nỗ lực học tập tiếng Anh, và di dân đến các nơi trên thế giới. Bởi thế rất nhiều nơi ở Âu Mỹ đều có dấu chân của người Tây Tạng. Đi cùng với các vị Lạt Ma di dân này, đại đa số đều là các phần tử ưu tú đã qua huấn luyện tu học thời gian dài. Từ khi còn là chú tiểu Lạt ma 7-8 tuổi, họ đã bắt đầu tiếp nhận giáo dục Phật giáo tầng lớp quy luật.Khi Lạt ma đến hơn 20 tuổi thì đã có thể thuyết Pháp lợi sinh. Có người sau khi đi ra ngoài, tham gia học hội ngôn ngữ tại địa phương, tôi vừa tới Mỹ nhìn thấy các vị Lạt Ma trẻ tuổi di dân ấy liền cảm thấy xấu hổ. Bởi vì họ dùng tiếng Anh nói chuyện với tôi, nhưng tôi không bằng họ.

Sức thích ứng của Lạt Ma Tây Tạng rất tốt. Sau khi họ đi ra ngoài, đối tượng truyền giáo chủ yếu là người địa phương. Sau những năm 70, Phật giáo Tây Tạng dần trở thành một phái cực kỳ được quan tâm trên vũ đài thế giới, đến đâu cũng đều có thể thấy được Trung tâm Tây Tạng. Đạt Lai Lạt Ma du lịch khắp các nơi trên thế giới, gây rầm rộ khắp nơi. Có một vị Lạt Ma từng du học ở Anh sau đó đến Mỹ, tên là Trungpa, Ngài ở thành phố Denver thuộc bang Colorado đã sáng lập một Trung tâm Tây Tạng có tên là Naropa Instituete, trong thời gian 4-5 năm ở Mỹ đã thành lập trên 130 chi nhánh Trung tâm. Sau khi Ngài mất vào năm 1988, tuy những Trung tâm này dần dần suy yếu, nhưng các tác phẩm của Ngài vẫn còn sức ảnh hưởng tương đối lớn.

Phật giáo hệ Hán ngữ của chúng ta vô cùng xấu hổ, cho đến ngày hôm nay, các tín đồ Phật giáo di dân đến Mỹ đều vẫn chỉ hoạt động trong xã hội Hoa kiều, châu Âu thì chưa có ai đi. Nguyên nhân là Phật giáo Trung Quốc của chúng ta chưa có nền giáo dục mang tính hệ thống và kế hoạch! Không có nền giáo dục cơ bản, không có nền giáo dục cấp bậc, càng không có nền giáo dục cao cấp. Phật giáo Trung Quốc chúng ta không phải người xuất gia không có năng lực, mà chưa có nền giáo dục tốt!

Cho nên chúng ta cần tổ chức giáo dục Phật giáo để bồi dưỡng nhân tài hoằng dương lợi sinh. Trong các nghiên cứu sở Phật học Trung Hoa của chúng ta, tiếng Nhật và tiếng Anh là môn học bắt buộc, hy vọng các nhân tài Phật giáo sau khi tốt nghiệp sẽ không trở thành người mù chữ ngôn ngữ quốc tế. Đối với hoằng truyền mang tính thế giới mà nói, Phật giáo Trung Quốc vẫn đang chỉ ở giai đoạn khởi bước.

Phật giáo từ góc nhìn lịch sử, đã từng trải qua giai đoạn phân tông phái, phân rồi lại phân. Hiện tại các tín đồ Phật giáo của các tông phái đều thử ra khỏi khu vực của mình đi về hướng chung của thế giới, cho nên lại dần quy họp về một nhà. Trước đây Tiểu Thừa nói xấu Đại Thừa, Đại Thừa nói xấu Tiểu Thừa. Phật giáo Tiểu Thừa nói Đại Thừa không phải là Phật giáo, Đại Thừa nói Tiểu Thừa tự lợi. Phật giáo Tạng truyền nói xấu hiển giáo của chúng ta không hiểu tu hành, không có phương pháp tu hành; hiển giáo Hán địa thì lại nói xấu Phật giáo Tạng truyền đều làm những chuyện mê tín. Hiện tượng nói xấu lẫn nhau ấy đang được cải thiện, và đang có khuynh hướng hiểu biết nhau, học tập lẫn nhau. Phật giáo Tây Tạng có những điều mà chúng ta không có, nghiên cứu sở của chúng ta cũng đang huấn luyện nhân tài Tạng văn chuyên môn. Kế hoạch là dịch từng bộ sách Phật điển Tạng văn ra Hán văn. Nghiên cứu sở Phật học Diệu Lâm của Đài Loan (ghi chú: Năm 1995 đổi tên thành “Nghiên cứu sở Phật học Nguyên Hanh”), đã làm công tác phiên dịch chữ Tam Tạng Pali Nam truyền ra Hán văn.

(III) Phật giáo và giáo nghĩa cơ bản

1. Phật giáo lấy Tam bảo làm trung tâm

Tam bảo nghĩa là Phật, Pháp, Tăng. Phật giáo có danh bởi “Phật”, Phật Thích Ca Mâu Ni trải qua vô lượng kiếp tu hành, cuối cùng đã trở thành Phật. Quá trình thành Phật, phương pháp tu hành, đạo lý tu hành mà Ngài nói ra, chính là “Pháp” bảo. Nếu không có Phật thì cũng không có Pháp. Nhưng Phật chỉ có một người, không thể độ thoát quảng đại chúng sinh.Hơn nữa sau khi Phật nhập niết bàn, phàm phu không biết Phật ở đâu, cho nên muốn học Phật thì phải học theo “Tăng”. Tăng có Thánh tăng và phàm tăng. Bồ Tát sơ địa trở lên và người xuất gia sơ quả trở lên đều là Thánh tăng, người xuất gia nói chung thì là phàm tăng, trụ trì Phật Pháp thường là phàm tăng là chủ yếu. Thánh tăng xuất hiện trong phàm phu cũng dùng thân phàm phu, tướng phàm phu để tiếp xúc với phàm phu, hóa độ phàm phu.Cho nên các nhân vật trong lịch sử Phật giáo, thường được gọi là Bồ Tát, gọi là Phật, gọi là Thánh tăng, đều không phải các Ngài tự xưng, mà do đệ tử của các Ngài gọi tên hoặc người đời sau xưng danh. Như Mã Minh, Long Thọ, Vô Chấp, Thế Thân ở Ấn Độ đều được người đời sau xưng làm Bồ Tát, các Ngài không tự xưng mình là Thánh giả, Bồ Tát. Đại sư Trí Giả của Thiên Thai tông Trung Quốc sau này có người xưng Ngài là “tiểu Thích Ca Đông thổ”, nhưng bản thân Ngài nói mình vẫn là phàm phu chưa đắc lục căn thanh tịnh.Sau này có người xưng Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ là Phật A Di Đà tái sinh, và ghi nhớ ngày sinh của Ngài vào ngày 17 tháng 11 âm lịch làm ngày Phật A Di Đà đản sinh. Nhưng Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ chưa bao giờ tự xưng mình là Phật A Di Đà. Trên thực tế nếu có người tự xưng mình là Thánh nhân, tự xưng là Phật, thì là có vấn đề.

2. Phật giáo lấy Tứ thánh đế làm giáo lý cơ bản

Tứ thánh đế nghĩa là, một là sự thật của đau khổ, hai là nguyên nhân của đau khổ, ba là phương pháp dứt đau khổ, bốn là kết quả đạt được sau khi dứt đau khổ.

Con người trên thế giới từ khi sinh ra đến khi chết đi có đau khổ có hoan lạc. Song hoan lạc là cái giá của đau khổ và cũng là sự bắt đầu của đau khổ, cái gọi là khổ tận cam lai, cái gọi là lương tiêu khổ đoản, đều đã giải thích bản thân hoan lạc là lấy đau khổ để đánh đổi mà có được, hoan lạc không thể mãi mãi, Phật Pháp gọi đó là hoại khổ. Sinh lão bệnh tử được gọi là khổ khổ. Sự thật của cuộc sống, bản thân nó là khổ quả. Chủng loại của đau khổ rất nhiều, khổ khổ tổng cộng có 8 loại: Sinh, lão, bệnh, tử, ái biệt ly khổ, cầu không được khổ, oán tằng hội khổ, ngũ uẩn xí thạnh khổ. Ngũ uẩn xí thạnh khổ là chỉ sự cảm nhận của thân tâm mà có sự liên tục của sinh tử.

Nguyên nhân của đau khổ được gọi là “tập”, là vì bản thân không hiểu rõ tất cả những gì trên thế gian đều là mơ hồ mà ghét khổ thích lạc, cầu được hoan lạc rồi lại còn cầu an toàn, vĩnh viễn không cảm thấy an toàn, đó chính là tham lam tột độ.Mê tín rằng có tiền thì có thể khiến quỷ xay cối, rồi ra sức kiếm tiền. Người có tiền thì không chịu dùng, người không có tiền thì dốc sức kiếm tiền. Những điều đó đều là nguyên nhân của đau khổ. Đời này vì ghét khổ mà cầu lạc, cho nên gây ra các nghiệp sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối. Sau khi tạo các nghiệp, khi nhân duyên đã đủ thì liền thọ các báo, thiện có thiện báo, ác có ác báo, đó chính là nguyên nhân của đau khổ. Dưới đây chúng ta sẽ nói về phương pháp dứt khổ.

Phương pháp cơ bản của dứt khổ là Bát chính đạo. Chúng ta muốn dứt khổ thì phải tu chính đạo, tu chính đạo nhất định cần có chánh tri chánh kiến: Tin sâu vào tất cả các hiện tượng trên thế giới đều không rời nguyên tắc nhân quả; suy nghĩ tất cả các hiện tượng trên thế giới đều là do nhân duyên hòa hợp mà thành. Tin vào nhân quả thì sẽ không tham rẻ hoặc không chịu trách nhiệm với hành vi của mình, và tin rằng thực sự muốn dứt khổ thành Phật thì nhất định phải dựa vào nỗ lực của bản thân. Có thể thể nghiệm được tất cả các hiện tượng trên thế giới đều là duyên khởi, vô thường thì có thể chiến thắng mà không kiêu ngạo, thất bại mà không đau buồn, thành công là do mọi người giúp đỡ, chúng duyên mà thành, các sự việc đã thành tựu cũng thường thay đổi. Ví dụ chúng ta bây giờ là kẻ phàm phu đầy phiền não, trong tương lai có thể thành Phật, Phật dùng đại từ bi, đại trí tuệ khởi phát thiện nhân duyên, thiện phúc đức của chính chúng sinh mà độ chúng sinh. Tin vào nhân quả, hiểu rõ nhân duyên, chính là chánh tri chánh kiến và chính tư duy.

Sau khi có được chánh tri chánh kiến thì cần có hướng tu hành chính xác: Thứ nhất, phải có nghề nghiệp chính đáng, những ngành nghề có liên quan đến 5 loại như sát sinh, trộm cướp, dâm dục, dối trá, rượu chè, đều phải cố gắng tránh khỏi. Thứ hai, phải có phương thức hoạt động chính đáng, không chìm đắm trong cuộc sống mê muội với ăn, uống, tình dục, cờ bạc. Thứ ba, phải có hành vi ngôn ngữ chính đáng, không nói dối, không hai lưỡi, không ác khẩu, không nịnh hót. Ngoài ra còn phải nỗ lực trì giới, nỗ lực tu định, nỗ lực cầu trí tuệ. Những việc làm hại người khác tuyệt đối không được làm; những việc có lợi cho người khác thì không thể không làm, đó là tinh thần của Bồ Tát giới. Trì giới thanh tịnh và dùng phương pháp Thiền định giúp cho thân tâm luôn ở trạng thái cân bằng, thì mới có thể khiến lòng tin kiên cố; nỗ lực đọc tụng Kinh điển, nghe Phật Pháp, tu hành theo Pháp, thì sẽ khai phát trí tuệ, có được trí tuệ rồi mới có thể dứt khổ.

Kết quả đạt được sau khi dứt khổ, đối với Tiểu Thừa mà nói là giải thoát sinh tử, thoát ra khỏi từ trong sinh tử ở thế giới phàm phu này của chúng ta. Còn giải thoát của Đại Thừa thì là vẫn ở trong thế giới phàm phu để độ chúng sinh và không bị ràng buộc với phiền não của chúng sinh, đó gọi là đại niết bàn.

 (IV) Đặc thù của Phật giáo

Điểm đặc thù của Phật giáo là bao hàm nhưng lại có thứ lớp, chánh tín mà không phải mê tín, thiêng liêng nhưng không thần bí.

1. Bao hàm nhưng có thứ lớp

Phật giáo dùng “Pháp” để cứu tế, không phải lấy người hay Thần làm cứu tế. Phật Pháp không có chấp trước một phía đối với tất cả các Pháp thế gian, cho nên là vô ngã, từ bi, trí tuệ. Bởi thế tất cả các thiện Pháp của thế gian đều là Phật Pháp, bất kỳ Tôn giáo, triết học, tri thức, kỹ năng nào có sự trợ giúp đối với nhân tâm xã hội và đời sống con người, đều không bài trừ. Cho nên Phật giáo bao hàm toàn bộ thiện Pháp thế gian.

Phật giáo chia thiện Pháp làm 5 cấp bậc: Người, Trời, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát.

Con người tức là chỉ cho nhân cách đầy đủ hoàn mỹ. Làm tròn trách nhiệm và nghĩa vụ của người, đó là điều kiện cơ bản nhất, nếu cộng thêm tu hành bố thí làm lợi cho người, đương nhiên càng tốt. Định nghĩa của việc làm thiện là cùng tắc độc thiện kỳ thân, đạt tắc khiêm thiện thiên hạ, độc thiện là thiện Pháp của người, khiêm thiện là thiện Pháp của trời. Có tiêu chuẩn của người và trời, cộng thêm tu hành thiền định và trí tuệ, cuối cùng đạt đến giải thoát và đi vào niết bàn, là cấp bậc của Thanh Văn và Duyên Giác.Lấy thiện Pháp người và trời làm cơ bản, phát đại Bồ Đề tâm, nỗ lực làm lợi ích cho người không cùng tận, phục vụ, cống hiến cho chúng sinh không cầu trả ơn đáp tạ, đó là tự giác giác tha, là cấp bậc của Đại Thừa Bồ Tát hạnh, cấp bậc cao nhất của Bồ Tát chính là Phật, lấy 4 cấp bậc được nêu trên làm căn bản mà đạt đến cảnh giới không, vô tướng, vô nguyện.

2. Chánh tín mà không mê tín

“Mê tín” có 4 điểm đặc trưng: Sùng bái mù quáng, không hợp tình hợp lý, như thật mà giả, không phân tà chính.

“Sùng bái mù quáng” nghĩa là người ta làm thì mình làm theo, nghe nói có người thần thông rất linh nghiệm thì liền tìm đến mà không suy nghĩ kỹ lưỡng. Giống như khi có việc nghe nói tìm lưu manh có hiệu quả hơn cảnh sát, liền tìm lưu manh giúp đỡ. Có thể lưu manh vào thời điểm nào đó có hiệu quả hơn cảnh sát, giải quyết vấn đề trước mắt cho quý vị, nhưng còn hậu chứng thì có thể nghĩ cũng biết được như thế nào. 

“Không hợp tình hợp lý” nghĩa là đi ngược lại với nguyên tắc nhân quả. Ví dụ tin vào “lúa không có nước trên trời thì không ra cây, người không kiếm tiền không chính đáng thì không giàu có” mà tìm mọi thủ đoạn, đầu cơ làm ăn, mưu cầu lợi ích không hợp lý, cho vay lấy lợi nhuận cao .v.v., đều là không hợp tình hợp lý. Hậu quả đem đến rất có thể là thân bại danh liệt, thậm chí tán gia bại sản, người chết, gia đình tan nát. Lại như nịnh nọt quỷ đút lót Thần để cầu tài lộc không chính đáng, có thể giúp quý vị phát tài một thời gian, nhưng có được mau thì đi cũng mau. Việc không hợp lý, bất luận mượn sức mạnh của Thần cũng vậy, sức mạnh của quỷ cũng vậy, sức mạnh của người cũng vậy, bởi không phù hợp với đạo lý nhân quả, cho nên đó là mê tín.

 “Như thật mà giả” nghĩa là bất kỳ Tôn giáo nào cũng đều có đạo lý riêng của mình. Có Tôn giáo nói dựa vào sức mạnh của Thần hoặc sức mạnh gia trì, chỉ cần tin Thần, y theo Thần, nhất định sẽ linh nghiệm, có thể nói quý vị lập tức thành Phật, lập tức khai ngộ, hoặc có bệnh thì hết bệnh, không có bệnh thì tiêu tai. Trên giấy bảo đảm vạn linh do họ viết cũng có các lý luận đường đường chính chính, như thật mà giả, nhưng đối với nguyên nhân thực sự thì lại cấm kỵ không nói đến. Đối với Tôn giáo như vậy tốt nhất cần cẩn thận, để tránh rắc rối sau này.

 “Không phân tà chính” nghĩa là những mê tín mà hiện tượng quỷ Thần tạo ra, là không phân tà chính. Quỷ Thần luôn thông qua công cụ cảm ứng và lên đồng với tư thái lương thiện để khuyên người làm thiện, giúp người hạnh phúc, thu hút người tin tưởng và phục tùng, sau khi quý vị bước vào cửa rồi thì thuận được sống, nghịch cho chết, đe dọa dụ dỗ, khiến quý vị sợ hãi, cũng khiến quý vị thuần phục, nếu muốn rời bỏ thì có thể sẽ sảy ra chướng ngại của thân tâm và gia đình cùng sự nghiệp sẽ gặp khó khăn. Họ không có tiêu chuẩn và khác với người thường, quan niệm nhân quả của họ cũng mơ hồ không rõ.

 “Chánh tín” trong Phật giáo là lấy Tam bảo Phật Pháp Tăng làm đối tượng tín ngưỡng. Tin Phật không phải sùng bái cơ thể của Phật, mà sùng bái trí tuệ và từ bi của Đức Phật và những ân đức mà Đức Phật để lại cho chúng ta.

Tin giáo Pháp của Đức Phật, khiến cho chúng ta y giáo phụng hành mà đạt đến mục đích tự lợi lợi tha. Khi Phật Thích Ca Mâu Ni sắp nhập niết bàn, có đệ tử hỏi Ngài: “Sau khi Ngài nhập diệt, chúng con phải làm sao?” Phật nói: “Các ông phải lấy Pháp làm thầy, lấy giới làm thầy.” Có nghĩa là dựa vào chính Pháp mà Phật đã nói, xây dựng lòng tin, tu hành theo Pháp, thì sẽ được giải thoát, chứng Bồ Đề.

Tin vào Tỳ khưu, Tỳ khưu ni của giáo đoàn đời đời tương truyền, truyền Pháp thọ giới, lấy Tăng làm đại diện cho Tam bảo, trụ trì Phật Pháp. Lấy Tăng bảo làm đối tượng của chánh tín, không có nghĩa là Thiêng liêng hóa người xuất gia, mà là người xuất gia lấy Pháp làm thầy, dựa vào giới mà trụ, lấy định, tuệ để tự tu, và dạy người tu, cho dù họ chưa thành Phật và cũng chưa khai ngộ, nhưng hình tượng của người xuất gia cũng đã trở thành biểu tượng thanh tịnh ly dục của Phật giáo.

Chánh tín là tin vào Tam bảo Phật Pháp Tăng, không thể thiếu một trong ba. Nếu chỉ tin Phật mà không tin Pháp, không tin Tăng, thì cũng như tin vào quỷ Thần vậy; nếu chỉ tin Pháp mà không tin Phật, không tin Tăng, thì cũng như mọt sách mà thôi; nếu chỉ tin Tăng mà không tin Phật, không tin Pháp, thì cũng như bái nhận cha mẹ nuôi. Nhất định phải có đầy đủ Tam bảo Phật Pháp Tăng mới là Phật giáo chánh tín.

3. Thiêng liêng mà không thần bí

 “Thần bí” là không thể với tới nhưng lại có thể cảm thấy được uy lực của nó; có thể khống chế quý vị mọi nơi nhưng lại không biết nó từ đâu đến; có thể chăm sóc quý vị mọi lúc nhưng lại không biết vì lý do gì; có thể trừng phạt quý vị mọi lúc mà lại không tìm ra nó ở bất kỳ đâu; luôn biểu hiện năng lực siêu nhiên nhưng lại chưa chắc đã có tác dụng đối với quý vị. Những hiện tượng đó, có cái do con người làm ảo thuật tạo thành, có cái do tâm lý bất bình thường của chính chúng ta, có cái thực sự là do sức mạnh của quỷ Thần tạo ra.

Còn Phật, Pháp, Tăng thì là thiêng liêng. Phật là người cứu cánh viên mãn đầy đủ nhân cách vĩ đại, từ bi và trí tuệ; Pháp là đạo lý và phương pháp giải trừ phiền não chứng Bồ Đề; Tăng là người tu hành trên cầu vô thượng chính giác, dưới độ vô biên chúng sinh. Cả ba đều không phải các Tôn giáo nói chung trên thế gian có thể so bì. Cho nên là thiêng liêng không thể nghĩ bàn, mà không thần bí quỷ Thần. Tín đồ Phật giáo cần phát vô thượng đại Bồ Đề tâm, học Phật, tu Pháp, hành Bồ Tát đạo, dùng Phật Pháp cứu giúp chúng sinh, giúp cho chúng sinh những việc ác đã làm mau dứt bỏ, những việc ác chưa làm không gây ra, như vậy chúng sinh sẽ mau chóng dứt lìa đau khổ. Còn cần giúp chúng sinh những việc thiện đã làm tăng trưởng, những việc thiện chưa làm mau sinh, như vậy chúng sinh sẽ mau chóng đạt được an lạc. Không vì bản thân cầu an lạc, nhưng khiến cho chúng sinh được an lạc, đó chính là đại Bồ Đề tâm của vô ngã. Không cần dùng hình tượng của đại Bồ Tát và Phật sống để khuyên người, mà hiện tướng chúng sinh khuyên hóa chúng sinh mà không để lại dấu vết. Cho nên là thiêng liêng mà không thần bí.

(V) Sự khác biệt giữa Phật giáo và phi Phật giáo

1. Sự khác biệt giữa vô Thần và hữu Thần

Phật giáo là Tôn giáo vô Thần luận, nhưng cũng không phải là duy vật luận. Phật giáo chủ trương tất cả các hiện tượng mà chúng sinh tiếp xúc đều là nhân duyên khởi, nhân duyên diệt. Sự hình thành thế giới này của chúng ta là do kết quả cảm được bởi các loại nghiệp được tạo ra trong quá khứ của chúng sinh đến thế giới này, được gọi là “nghiệp quả” hay “nghiệp báo thể”. Môi trường chung là do cộng nghiệp cảm được; môi trường và thân tâm của cá nhân là biệt nghiệp của mỗi người cảm được. Bởi do chúng sinh tự tạo chứ không phải Thần sáng tạo, cho nên là Tôn giáo vô Thần luận. Nhưng Phật giáo không phủ nhận các loại Thần quỷ. Chỉ có điều Thần quỷ mà Phật giáo nói đến là loài chúng sinh, chứ không phải là người thống trị của vũ trụ.

Các Tôn giáo ngoài Phật giáo đều là hữu Thần luận, có 3 loại cấp bậc:

(1) Tín ngưỡng đa chủng hình thái nguyên thủy: Cho rằng bất kỳ hiện tượng nào trong vũ trụ đều có các loại Thần khác nhau cai quản, ví dụ như nước, sông có Thần sông, biển thì có Thần biển, rãnh nước nhỏ thì có Thần của rãnh nước nhỏ, nhà bếp, nhà vệ sinh, thậm chí là cỏ, cây đều có Thần linh nhất định quản lý. Giữa các vị Thần không có lãnh tụ, không liên quan đến nhau.

 (2) Tín ngưỡng đa thần hình thức tập trung quyền lực trung ương: Ví dụ Đạo giáo của Trung Quốc, Bà La Môn giáo của Ấn Độ, đều là có một vị Thần lớn nhất trên các vị Thần, thống nhiếp toàn bộ các Thần. Đạo giáo của Trung Quốc là Nguyên Thủy Thiên tôn, còn gọi là Ngọc Hoàng Đại đế; Bà La Môn giáo của Ấn Độ là Đại Phạm Thiên, còn gọi là Thần Shiva.

(3) Tôn giáo duy nhất Thần luận: Tin vào Thần thống trị sáng tạo và hủy diệt vũ trụ duy nhất mà mình tin, còn tất cả các Thần linh khác ở thế giới tâm linh đều là ma quỷ, ví dụ Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo, Hồi giáo.

2. Sự khác biệt giữa tịnh hóa và Thần hóa, tục hóa

 “Thần hóa” là đặc trưng có chung của tất cả các Tôn giáo khác ngoại trừ Phật giáo. Họ tin Thần linh có thể thống trị họa phúc nhân gian, nên đem toàn bộ vận mệnh của bản thân giao cho Thần linh mà mình không thể biết, không thể lường. Có tôn giáo tin rằng Thần là toàn tri toàn năng, có thể giúp chúng ta lên cõi trời và cũng có quyền lực đưa chúng ta xuống địa ngục. Không vì phạm lỗi mà không sinh cõi trời, cũng không vì hành thiện mà không đày địa ngục, nhưng còn phải xem mình tin Thần  triệt để hay không. Người tin thì được sinh lên trời, kẻ không tin sẽ không được cứu vớt mà bị đày xuống địa ngục. Người như vậy nếu lòng tin kiên định, tuy khác với lý luận của Phật giáo, cũng luôn có thái độ đối nhân xử thế rất đúng đắn, nhưng khó tránh khỏi có chút giống như chim Đà Điểu của châu Úc. Một loại tín ngưỡng khác, là mượn sức mạnh của Thần để tự tu luyện thành Thần. Những ngoại đạo dựa hơi Phật pháp thì nói rằng nhờ sức gia trì của họ có thể lập tức tu luyện thành Phật. Những Tôn giáo Thần hóa đó giống như khi nghèo khổ đi vay tiền của ngân hàng đen. Nhất thời đã có tiền sài, nhưng không phải của mình. Cũng giống như giật gấu vá vai, tuy giải quyết được vấn đề nhất thời, nhưng theo vấn đề phát sinh thì cuối cùng không thể giải quyết.

Còn về tín ngưỡng “tục hóa” thì là hối lộ Thần linh để cầu Thần linh ban cho lợi lạc và phước báu cần có ở thế tục. Bái Thần tài cầu phát tài, bái Chú Sinh Nương Nương cầu con cháu, bái Mã Tổ và Thần biển cầu ra biển bình an, bốc quẻ vận mệnh cầu Hoàng Thạch Công, thậm chí muốn trúng xổ số cầu Thổ Địa Công, tế Tổ ngày Tết, chúc khánh tế Thần hy vọng phù hộ con cháu bình an. Đó là những tín ngưỡng tục hóa.

Phật giáo không phủ nhận tín ngưỡng dân gian thế tục hóa và các cấp Tôn giáo Thần hóa, vì đều có tác dụng nhất định. Nhưng khẳng định Phật giáo tịnh hóa, càng có tác dụng hơn đối với nhân tâm thế đạo. Phật giáo lấy Tam bảo Phật Pháp Tăng hóa đạo thế gian, lại lấy ngũ giới không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu để tịnh hóa hành vi thân khẩu của nhân gian, rồi lấy công phu của thiền định tịnh hóa hành vi tâm lý của chúng ta, càng chủ chương lấy trí tuệ lý tính xử lý các vấn đề của bản thân và lợi ích cho người. Nếu có thể y giáo phụng hành, thì thân tâm của bản thân sẽ khỏe mạnh, đối với người khác thì gia đình hòa lạc, xã hội yên lành. Tịnh hóa nhân gian của Phật giáo cũng có đầy đủ chức năng của Thần hóa và sức mạnh của tục hóa, nhưng lại không vì Thần hóa, tục hóa mà nghiêng lệch gây ra rắc rối cho cá nhân và tạo lên sự mất cân bằng trong xã hội.

 (VI) Phương pháp tu hành cơ bản

Chức năng hóa độ thế gian của Phật giáo là lấy Phật Pháp tịnh hóa nhân gian, nâng cao nhân phẩm, giúp cho chúng sinh có được lợi ích của đời này, cũng có được an lạc ở đời sau. Làm thế nào để đạt được mục đích ấy? Đó chính là thực tập, tu hành các giáo Pháp mà Đức Phật đã nói.

Phương pháp tu hành cơ bản không ngoài phước nghiệp, định nghiệp, tuệ nghiệp. Phước nghiệp là bố thí và trì giới, định nghiệp là thiền định, tuệ nghiệp là trí tuệ. Công đức của tu “bố thí”, “trì giới” có thể có được phước báo của người và trời, cũng có thể tiến đến đạt thành Phật quả, chỉ có Đức Phật là người phước tuệ viên mãn. Công đức của tu “thiền định” có thể có được sức khỏe sinh lý thực tế và tâm lý cân bằng, cũng có thể tiến đến trực tiếp sinh lên cõi trời Thiền Thiên, Phạm Thiên sau khi vãng sinh, càng có thể thành tựu Phật quả, chỉ có cảnh định của Đức Phật là cao nhất, thế nên có công đức “Như Lai thường trong đinh, không có lúc nào là không định”. Đã có thâm định, đại định mới có thể có đại từ bi và đại trí tuệ. Công đức của tu “trí tuệ” có thể ít dục biết đủ, ít phiền não trong đời này, tiến đến có thể dứt khổ, đoạn khổ được giải thoát, cuối cùng có thể dùng trí tuệ sâu rộng độ vô lượng chúng sinh.

1. Tu bố thí như thế nào

Loài người vì đảm bảo cuộc sống và an toàn tính mạng, bắt buộc luyện tập quan niệm và thói quen tích trữ mọi lúc, phương thức tích trữ có thể có 2 loại: Một là có hạn, một là vô hạn. Có hạn là đưa tài sản cất vào ngân hàng, vô hạn là lấy tài sản cho ra xã hội. Đưa tài sản cất vào ngân hàng là để đảm bảo cá nhân và an toàn gia đình, còn lấy tài sản cho ra xã hội là để đảm bảo an toàn xã hội tổng thể. Cá nhân không rời toàn thể, cho nên hai loại tích trữ đều có lợi cho cá nhân.

Thời gian tích trữ cũng có 2 loại: Một là tích trữ ở đời này, hai là tích trữ vĩnh hằng. Tích trữ ở đời này là để tự mình nhận được sự đáp trả, tích trữ vĩnh hằng là hưởng dùng bất tận trong tương lai vô hạn. Tiền gửi ngân hàng nói chung và phúc lợi xã hội đều có thể nhận được ngay lập tức, cho nên tích trữ làm lợi ích ở đời này. Sự nghiệp hoằng Pháp của Phật giáo, hộ trì Tam bảo, lấy Phật Pháp cứu tế nhân tâm là tích trữ vô tận, bởi vì một người hoằng truyền Phật Pháp cho mười người, không chỉ mười người có được lợi ích, mười người nếu mỗi người lại truyền mười người nữa tức thành trăm người, trăm người lại truyền bá Phật Pháp cho xã hội ngày nay, thế giới ngày nay, truyền bá cho đời sau thì Phật Pháp truyền bá trong xã hội tương lai là vô tận. Chỉ cần những nơi có Phật Pháp, chỉ cần thời điểm có Phật Pháp lưu truyền, công đức của quý vị cũng theo đó được truyền rộng, lưu truyền khắp cả, đó không phải sự tích trữ rộng khắp và vĩnh hằng ư? 

Bởi thế chúng ta cần phải nỗ lực tích trữ, tích cát thành tháp, tích sợi thành túi, với phương thức nước chảy đá mòn, tích ít thành nhiều, ngày lại qua ngày, dùng vật lực, trí lực, thể lực, tâm lực có hạn mà không ngừng tu hành công đức bố thí. Vì trước mắt tất nhiên cần bố thí, vì vĩnh hằng càng cần bố thí. Duy có công đức bố thí là dễ làm nhất, tùy lực tùy tâm. Bố thí cho người nghèo khó bệnh tật là công đức lớn; hộ trì Phật Pháp, bồi dưỡng nhân tài hoằng Pháp, công đức càng lớn hơn.

2. Tu trì giới như thế nào

Mục đích của giữ giới là cải tà quy chính. Sửa chữa tội lỗi là không tạo tất cả ác nghiệp, có thể có được quả bảo dứt khổ; làm việc thiện là nỗ lực thực hiện tất cả các thiện nghiệp, có thể có được quả báo hạnh phúc. Nếu chỉ cầu dứt khổ được lạc mà không thiết thực cải tà quy chính từ phương diện hành vi thân tâm, thì đi ngược với định luật nhân quả thường tình thường lý.

Nội dung trì giới mà Phật Pháp dạy người, có 2 loại cấp bậc: Một là Ngũ giới tự làm lợi ích và tự bảo vệ mình, hai là bốn loại tinh tấn lợi lạc chúng sinh.

Ngũ giới là:

  • (1) Không sát sinh, chủ yếu là không giết người.
  • (2) Không trộm cắp, chủ yếu là không lấy đồ vật không phải của mình, không nhận tiền tài bất nghĩa.
  • (3) Không tà dâm, chủ yếu là không vi phạm trật tự xã hội, không vi phạm luân lý nhân gian, không làm trở ngại gia đình, không tổn hại sức khỏe.
  • (4) Không nói dối, chủ yếu là không được dùng lời nói làm tổn hại người khác.
  • (5) Không uống rượu, bao gồm thuốc mê, chủ yếu là không sử dụng cồn rượu và thuốc mê, đánh mất năng lực tự chế mà có các hành vi phạm tội giết hại, trộm cắp, dâm dục, nói dối.

Bốn loại tinh tấn, còn gọi là Tứ chánh cần. Đó là khuyên bảo người khác trừ tất cả ác, tu tất cả thiện, cũng chính là hai câu đầu trong “Thất Phật Thông Giới Kệ” nói rằng: “Không làm việc ác, làm các việc thiện.” “Việc ác đã làm khiến cho ngừng, việc ác chưa làm sẽ không làm; việc thiện đã làm khiến tăng trưởng, việc thiện chưa làm sẽ tu hành.” Nỗ lực không ngừng tu hành 4 câu này, gọi là bốn loại tinh tấn. Hai câu đầu là vì chúng sinh dứt khổ, hai câu sau là đem lại hạnh phúc cho chúng sinh. Dứt khổ được lạc chính là Bồ Tát hạnh của tâm đại bi. Nếu có thể khuyên bảo thế nhân cùng tu hành 4 câu này, thì trước hết cần lấy lợi ích đời này, lợi ích hiện tại khiến họ cảm động, rồi tiếp đó họ sẽ tiếp nhận quý vị, tin tưởng quý vị. Cho nên thông thường bắt đầu với việc làm bố thí là dễ dàng nhất.

3. Tu Thiền định như thế nào

Ý nghĩa của thiền định là tâm không có hai niệm, mới bắt đầu luyện tập cần phải có phương pháp, tác dụng của phương pháp là giúp tâm của chúng ta từ trạng thái tán loạn đi đến trạng thái tập trung, rồi từ trạng thái tập trung đi tới trạng thái thống nhất. Đạt được trạng thái thống nhất thì được gọi là định, nhưng trạng thái thống nhất cũng có các cấp bậc khác nhau: Từ thân tâm thống nhất đến nội tâm và ngoại cảnh thống nhất, rồi tiếp thêm một bước là niệm trước và niệm sau thống nhất. Muốn đạt đến niệm trước và niệm sau thống nhất, bắt buộc phải trải qua sự liên tục của niệm trước và niệm sau giống như chiếc dây chuyền, một niệm móc vào một niệm, niệm niệm cùng ở một niệm, sau đó mới có thể tiêu hóa ngăn cách niệm trước và niệm sau, chỉ còn lại sự tồn tại của một niệm, lúc này dừng lại tại một niệm, gọi đó là định. Khi đạt tới đến một niệm này cũng không còn tồn tại, thì tức là vừa định vừa tuệ.

Khi mới học thiền định, có thể có nhiều phương pháp, như lễ bái, đọc tụng, niệm Phật, trì chú, nhẩm chú, Kinh hành .v.v., đều vì mục đích đạt được tâm an, tĩnh tâm và tịnh tâm, chủ yếu là do tu hành mà giúp cho thân tâm được cân bằng, đều là hiệu quả của định. Nếu không có thầy chuyên nghiệp cao minh, thì các mục được liệt kê ở trên đều là các phương pháp tu định có thể tìm thấy tại mọi nơi trong Kinh Phật, an toàn đáng tin cậy mà không gây ra tác dụng phụ và hậu chứng về sau. Song đó là thuộc về tán tâm tu định.

Nếu gặp thầy đã có kinh nghiệm thiền định và có chánh tri chánh kiến đối với Phật Pháp, thì nên học tập phương pháp tu định chuyên tâm của họ. Đó là thiền quán Pháp, hoặc được gọi là phương pháp chỉ quán, Thiền tông thì gọi đó là phương pháp tham thiền.

Phương pháp Thiền quán nhất định không rời 3 nguyên tắc, đó là: Tư thế điều thân, điều hòa hít thở, chăm chú điều tâm. Lấy thư giãn cơ bắp trên cơ thể, thư giãn thần kinh của não bộ làm yêu cầu cơ bản. Tư thế chính xác, bao gồm 4 loại đi, đứng, nằm, ngồi, lấy thư giãn ngay ngắn làm nguyên tắc. Hít thở chính xác, lấy tốc độ tự nhiên làm nguyên tắc. Chăm chú chính xác, thì lấy chỉ chú ý phương pháp mà không hỏi được mất làm nguyên tắc. Nếu có ý định muốn nhanh chóng đạt được công phu đạt được lợi ích một cách mạnh mẽ, thì sẽ đem đến cho quý vị sự rắc rối với cảnh giới ma quỷ. Ý nghĩa của chém Phật chém quỷ là, bất luận là bất kỳ cảnh tượng và cảm nhận nào xuất hiện khiến cho vui mừng hay sợ hãi, thì đều xử lý bằng cách coi đó là ảo cảnh và ảo giác. Bằng không nếu gặp ác cảnh dễ sinh lùi bước, thậm chí hủy báng Tam bảo, cho rằng vì tu hành mà không được quả báo tốt; nếu gặp thiện cảnh dễ sinh ngạo mạn, thậm chí tuyên xưng đã đắc thần thông, đã chứng Thánh quả thành Phật, thì thực sự là rất đáng thương.

4. Lễ bái và đọc tụng

Phương pháp lễ bái và phương pháp chắp tay có liên quan đến nhau. Tốt nhất là thỉnh một vị Pháp sư hay cư sĩ làm mẫu các động tác cho quý vị.

Còn lễ bái gì? Vì sao phải lễ bái? Mới bước vào cửa Phật, cầu lễ bái và hữu tướng lễ bái. Việc cầu bình an, cầu trí tuệ, cầu hạnh phúc là tâm thái bình thường. Hữu tướng nghĩa là có đối tượng, có mục đích. Đối diện với Thánh tượng Phật Bồ Tát hoặc đối với Kinh Phật nhất định, mỗi ngày lễ bái theo giờ theo lượng, vì mình vì người tiêu nghiệp chướng, trừ phiền não. Học Phật đã lâu thì biết không cầu không tướng mới là mục tiêu cứu cánh của tu hành, cho nên cũng đối diện Thánh tượng Phật Bồ Tát lễ bái mỗi ngày, chỉ là một loại bài tập.

Đọc tụng Kinh Phật, nhưng phải xem là vì mục đích gì, rồi xem có bao nhiêu thời gian. Thông thường Kinh điển mà các tín đồ Phật giáo đọc tụng không ngoài “Kinh Bát Nhã”, “Phổ Môn Phẩm”, “Kinh A Di Đà”, “Kinh Kim Cang”, “Kinh Dược Sư”, “Kinh Địa Tạng”, một bộ phận những người có nhiều thời gian hơn có thể đọc tụng “Kinh Pháp Hoa”, “Kinh Hoa Nghiêm”. Phương thức tụng Kinh, nếu chỉ có một người thì có thể sử dụng mõ mà cũng có thể không sử dụng mõ, còn hai người trở lên cùng tụng thì cần sử dụng mõ. Tốt nhất xác định một bộ Kinh, phát nguyện trong kỳ hạn nhất định đọc hết bao nhiêu lần, đừng hôm nay tụng Kinh này, ngày mai lại đổi Kinh khác. Tụng Kinh không vì cầu hiểu nghĩa, chỉ cầu âm chữ không sai, không cần biết nghĩa Kinh là gì. 

Còn về việc xem Kinh vì muốn biết nghĩa Kinh, thì bao gồm các bộ Kinh được nêu phần trên, còn có “Kinh Vô Lượng Thọ”, “Kinh Quán Vô Lượng Thọ”, “Kinh Lăng Nghiêm”, “Kinh Viên Giác”, “Kinh Thắng Man”, “Kinh”Duy Ma, “Kinh Lăng Già”, “Kinh Giải Thâm Mật”, “Kinh Niết Bàn”, “Kinh Đại Bát Nhã” .v.v. Song bản thân tôi bắt đầu từ 4 loại “Kinh A Hàm”, thứ tự trước sau là “Kinh Tạp A Hàm”, “Kinh Tăng Nhất A Hàm”, “Kinh Trung A Hàm”, “Kinh Trường A Hàm”. Những luận điển cần xem thì có “Luận Đại Thừa Khởi Tín”, “Luận Bảo Tính”, “Luận Câu xá”, “Luận Du Già Sư Địa”, “Luận Trung Quán”, “Luận Đại Trí Độ”, “Luận Lục Tổ Đàn” .v.v. Khi xem hết những Kinh luận này, quý vị đã là một thông gia Phật học.

5. Niệm Phật và trì chú

Niệm Phật và trì chú đáng lẽ bắt nguồn từ một trong các phương pháp tu định, song sau khi Tịnh độ giáo và Mật giáo thành phái độc lập, thì phân ra khỏi phương pháp tu định. Nếu đứng từ lập trường tổng thể của Phật Pháp, thì vẫn liên quan đến nhau.

Phương pháp niệm Phật có thể bao gồm niệm Thánh hiệu của tất cả Phật và tất cả Bồ Tát, không chỉ có niệm A Di Đà Phật.Ví dụ trong 7 ngày đơn niệm Phật A Di Đà, được gọi là Di Đà Thất; đơn niệm Phật Dược Sư, được gọi là Dược Sư Thất; ngoài ra còn có Di Lặc Thất, Địa Tạng Thất, Quan Âm Thất, Văn Thù Thất, Phổ Hiền Thất.

Niệm Phật như thế nào? Có 2 loại lớn: Một là tán tâm niệm, hai là chuyên tâm niệm. Tán tâm niệm là có thể niệm ra tiếng hoặc niệm nhẩm tại bất kỳ thời gian nào ở bất kỳ hoàn cảnh nào, thậm chí vừa nói chuyện vừa niệm Phật. Còn chuyên tâm niệm phương pháp niệm Phật có kỳ hạn thời gian, phương pháp tu hành trong thời gian chuyên tu nhất định, thông thường niệm liên tục, niệm lớn tiếng, tự nghe tiếng niệm của mình, Đại sư Ấn Quang khuyên dùng niệm từng câu, niệm từng câu khác với niệm ghi nhớ, niệm ghi nhớ là dùng tràng hạt để tính, niệm từng câu là mỗi lần niệm một câu danh hiệu Phật nhớ nhẩm một số, niệm đến mười câu, đếm đến mười, thì lại bắt đầu lại từ một, như một chu kỳ vòng quay, thì sẽ đạt được hiệu quả chuyên tâm. Niệm Phật niệm đến trình độ “nhất tâm bất loạn” thì nhất định là chuyên tâm niệm Phật chứ không phải là tán tâm niệm Phật.

Còn về trì chú, có nhiều người cho rằng trì chú tức là tu Mật Pháp, thực ra không phải vậy, Mật Pháp chính quy bắt buộc phải được sư sư tương truyền bởi Thượng sư, phải có nghi thức tu Pháp. Trì chú nói chung giống như trì danh niệm Phật vậy, vì thế các phái hiển giáo cho đến Thiền tông Trung Quốc sau đời nhà Minh cũng dùng khá nhiều minh chú. Phương pháp trì chú là miệng tụng, tai nghe, tâm nghĩ, ba nghiệp thân khẩu ý tương ứng, thì trì chú mới thực sự đắc lực, đó cũng là một loại định. Nếu tán tâm trì chú đương nhiên cũng có công đức và cảm ứng. Trì loại văn chú nào? Dựa vào tâm hướng thói quen và nhân duyên của người trì chú. Thông thường nhiều người trì “Chú Đại Bi”, “Chú Quan Âm”, “Chú Chuẩn Đề”, ‘Chú Cát Tường”, ‘Chú Dược Sư”, “Chú Địa Tạng”, “Chú Vãng Sinh”, “Chú Lăng Nghiêm” .v.v. Có thể dùng tràng hạt để đếm số niệm, cũng có thể niệm theo số giờ.

6. Tu trí tuệ như thế nào

Trí và tuệ được giải thích theo Kinh luận Đại Tiểu Thừa có sự khác biệt. “Trí” có trí thế gian và trí xuất thế gian, tri thức của thế gian và tài trí thông minh của thế gian đều lấy “tôi” làm trung tâm, bất luận là tiểu ngã cá thể hay đại ngã toàn thể, đều chưa thoát khỏi phiền não ngã chấp, cho nên gọi là trí hữu lậu của thế gian. Chỉ có vận dụng tâm lý hay tinh thần siêu vượt trung tâm tự ngã, được gọi là trí vô lậu của xuất thế gian. 

Khai ngộ tức là sự hiển hiện chức năng của trí vô lậu, khi khai ngộ tự bản thân được đoạn phiền não, trừ chấp trước, sau khi khai ngộ bố thí Pháp vũ, cứu khổ cho chúng sinh. Tự độ độ người mà lại tự tri tự giác, vô ngã cũng vô chúng sinh.

Còn về “tuệ” gồm có 3 bậc, gọi là tam tuệ: văn, tư, tu:

  •  (1) Văn tuệ là dựa vào việc nghe Phật Pháp, đọc Kinh luận Phật giáo, lý giải các đạo lý Phật Pháp và nguyên tắc tu hành.
  •  (2) Tư tuệ là dựa vào tuệ giải đã được nghe, tu hành theo Pháp, vừa theo Kinh giáo, vừa đạt được thể nghiệm trong quá trình tu hành.
  •  (3) Tu tuệ là từ tư tuệ tiến thêm một bước, không theo Kinh giáo, vận dụng vào đời sống hiện tại, nhưng không làm ngược với Kinh giáo.

7. Ai có chánh tri chánh kiến?

Người mới bắt đầu học Phật cần phải nghe thật nhiều thuyết Pháp của Pháp sư và cư sĩ có chánh tri chánh kiến, đọc thật nhiều các Kinh luật Phật giáo được nêu trong bài viết này, xem thật nhiều những sách báo hiện đại của Phật giáo chính thống, đồng thời còn cần lý giải và tu hành, đó là bước vào cửa Phật, mở ra con đường trí tuệ tốt nhất.

Còn ai là Pháp sư và cư sĩ có đủ chánh tri chánh kiến, thì đứng ở lập trường con người và góc độ lý giải để phán đoán, nếu người thường nói thần thoại, nói bừa, thường biểu diễn thần thông, làm bùa phép, tự xưng là Thánh, là Phật, là Thần, là Bồ Tát, vận dụng quẻ bói dẫn dắt ma quỷ, khởi linh giáng Thần, cho dù cũng có dùng Kinh Phật, Phật ngữ, nhưng thực tế đều là ngoại đạo dựa hơi Phật Pháp mà thôi.

Còn về các tác phẩm Phật giáo chính thống ngày nay, tốt nhất là những tác phẩm đã được thu tập vào bộ sách hay tập sách như “Nguyệt san học thuật Phật giáo hiện đại”, đó là tác phẩm đã được chuyên gia chắt lọc kỹ lưỡng, có thể tin tưởng.

Mục đích học Phật của tín đồ Phật giáo là dùng trí tuệ và từ bi để tự lợi lợi tha, chứ không phải dùng sức mạnh tà ma quỷ Thần và tự xưng là Thánh là Phật để mê hoặc chúng sinh.

Trí tuệ tất nhiên phù hợp với quan niệm nhân duyên và quan niệm nhân quả, tất nhiên là hợp tình hợp lý. Biểu hiện của từ bi không phải ở chỗ lấy lòng, mà là ở chỗ cảm tạ ân nhân, tha thứ kẻ thù, giúp đỡ người khốn khó, cứu tế người bần cùng, hạ phục người ngoan cố, chỉ dẫn cho người ngu dốt, cảm hóa người hung ác, khích lệ người lương thiện, cảnh cáo người lười nhác, tỉnh giác người mê muội. Đó chính là tinh thần Bồ Tát dùng toàn tâm chăm sóc tất cả chúng sinh.

 (Ngày 27 tháng 10 năm 1990, giảng tại Trung tâm văn hóa Hoa kiều vịnh Nam bang California nước Mỹ, bài viết này được ghi tại “Phật giáo nhập môn”) 

Án: Danh đề của bài viết là “Đại ý cơ bản Phật giáo”. Do bà Trịnh Tố Châu ghi âm chép lại từng chữ, sau đó tôi đã sửa bỏ hai lần và thêm vào mục thứ sáu, Nguyên đán năm 1991 hoàn thành bài viết, đổi thành tên như bây giờ.