Phương pháp tu hành của Phật giáo

I. Phương pháp tu hành của Phật giáo

 (I) Ý nghĩa của tu hành

Rất nhiều người cho rằng tu hành là người xuất gia đi vào núi hoặc trong chùa đóng cửa lại mới có thể tu hành. Trên thực tế hai chữ “tu hành” tuy là danh từ Phật giáo, nhưng trong cuộc sống thường nhật của mỗi một người đều hay dùng đến. Tu là tu sửa, sửa chữa hoặc tu trì. Nhà cửa của chúng ta hỏng hoặc hư thì cần tu sửa, đồ gia dụng hỏng hoặc hư thì cần tu sửa; cũng giống như vậy, hành vi sinh lý hoặc hành vi tâm lý của chúng ta nếu không thường kiểm điểm chúng ta cũng sẽ dần dần trở thành người xấu.

Tăng Tử Trung Quốc có nói “Ngô nhật tam tỉnh ngô thân”, nghĩa là chúng ta cần phải kiểm thảo hành vi của chính mình mỗi ngày. Nếu ngày nào cũng xem xét như vậy, cho dù có sai lầm cũng dễ sửa chữa vào bất cứ lúc nào. 

“Tu trì” là sửa chữa, tu sửa, hơn nữa cần bền lòng, từng ngày từng giờ cho tới từng giây đều cần phải tu hành. Có những người đã phạm sai lầm, và ngay trong ngày hôm đó đã biết lỗi và hối hận, đến ngày thứ hai lại phạm sai lầm, thì do họ không có can đảm và quyết tâm chỉnh sửa mình, đó không phải là tu hành. Tu hành nhất định cần phải phát giác sai lầm của bản thân, sau đó tu sửa, sửa chữa, đồng thời cần phải tiếp tục nỗ lực làm theo hành vi đã được sửa chữa một cách thiết thực. Cho nên chúng ta nói tu hành cần phải xem xét bản thân: Việc không nên làm thì không được tái phạm, việc nên làm mà chưa làm thì cần phải bắt đầu làm.

 (II) Độ lượng của tu hành

Từ lập trường của Phật giáo nói về tu hành, có sự phân biệt giữa đại khí và tiểu khí, cũng có nghĩa là sự phân biệt giữa đại tu hành và tiểu tu hành. Mạnh Tử của Trung Quốc từng nói: “Cùng tắc độc thiện kỳ thân, đạt tắc khiêm thiện thiên hạ.” (khi không có năng lực thì tự giúp bản thân mình, khi có năng lực thì nên giúp thiên hạ). Từ vị trí của con người mà nói, nếu có thể tu hành cải thiện bản thân thì đã là rất tốt, nếu có thể thực sự đạt đến trình độ này cũng không phải dễ dàng, nhưng đối với Phật giáo chúng ta mà nói, đó vẫn là Tiểu Thừa.

Tiểu Thừa là cách nói đối lập với Đại Thừa, Đại Thừa không những tự mình phải tu hành, mà còn cần phải giúp đỡ thiên hạ, giúp đỡ tất cả mọi người đều có thể tu hành. Ví dụ như ông cụ giao thông hiện đại của chúng ta ngày nay có rất nhiều chủng loại, từ xe đạp cho tới máy bay, từ đường thủy cho đến hàng không, lớn có nhỏ có. Nhưng xe đạp chỉ có thể đèo được một người, mà lại đi rất chậm, còn nếu ngồi tàu hỏa thì vừa nhanh lại có thể chở được rất nhiều người, có lúc cần phải ngồi tàu biển hoặc máy bay. Cho nên Đại Thừa và Tiểu Thừa, trên thực tế là nói người tự tu tự độ cũng giống như dùng công cụ giao thông vừa nhỏ vừa chậm, còn người tự độ độ người thì dùng công cụ vừa lớn vừa nhanh.

Có thể tự độ đã khó rồi, tự độ độ tha thì càng khó hơn. Ví dụ nói: Người không thể tự độ mà độ tha, giống như người không biết bơi khi thấy có người rớt xuống sông kêu cứu, liền nhảy xuống nước cứu người, kết quả không cứu được người, ngược lại bản thân lại chết đuối. Bởi thế Đại Thừa cũng được, Tiểu Thừa cũng được, nguyên tắc cơ bản nhất là tu hành thiết thực.

Tu Tiểu Thừa đầu tiên cũng cần phải học phương pháp của tu hành Tiểu Thừa, cũng giống như người không mua nổi máy bay, chí ít trước tiên cần có tiền mua chiếc xe đạp. Bởi thế bất luận là Tiểu Thừa hoặc Đại Thừa, tu hành là hàng đầu.

 (III) Cấp bậc của tu hành

Chúng ta một lúc muốn làm Bồ Tát Đại Thừa là việc có thể làm được, song Đại Thừa không phải đối lập với Tiểu Thừa, trong Đại Thừa ắt bao gồm Tiểu Thừa, đồng thời cũng bao gồm cả phàm phu của người và trời, cho nên bản thân Đại Thừa tổng cộng có 5 cấp bậc: 1. Người, 2. Trời, 3. Thanh Văn, 4. Độc Giác, 5. Bồ Tát. Tu hành là từng bước từng bước đi lên, Đại Thừa không phải biểu hiện cao siêu hơn Tiểu Thừa, mà ở chỗ phát tâm vĩ đại, các Ngài tu hành là vì độ chúng sinh, chứ không chỉ vì bản thân mình được giải thoát.

Trên thế giới có rất nhiều nhà Tôn giáo, nhà tư tưởng đều đứng ở lập trường của mình rồi chuyên phê bình các Tôn giáo khác hoặc tư tưởng khác là tà thuyết ma quỷ hại người hại đời, còn Phật giáo không nhất thiết phản đối bất kỳ Tôn giáo và tư tưởng nào. Nhìn từ lập trường của Phật giáo, tất cả các phương pháp chỉ cần có tác dụng đối với hành vi đạo đức thì đều là tốt cả, song chỉ có mức độ nông sâu và cao thấp khác nhau mà thôi.Từng có một vị tiên sinh, nói với tôi rằng ông ta tin Đạo giáo và cũng tin Phật giáo, ông ta cho rằng đạo Phật và Đạo giáo là giống nhau, hỏi tôi có thể tu hành cùng một lúc hay không? Xuất phát điểm của “Phật” và “Đạo” có thể giống nhau, nhưng phương pháp tu hành và mục đích chứng quả cuối cùng thì là khác nhau. Tuy cùng một điểm xuấ phát, song do bởi phương thức khác nhau, nên sức mạnh sau khi xuất phát và kết quả đạt được cũng sẽ không giống nhau.

Từ điểm xuất phát khuyến thiện hành thiện và tạo phước báu nhân gian giống nhau, Phật giáo có thể thừa nhận tất cả các nhà Tôn giáo, nhà triết học, nhà chính trị, nhà quân sự, nhà khoa học, cho đến tất cả người tốt của tất cả các ngành nghề đều là một phần của Phật Pháp, bởi vì Phật giáo thừa nhận giá trị bản thân của mỗi người, song phương pháp mà họ dùng cho mỗi đối tượng khác nhau, trình độ khác nhau, thì kết quả cũng sẽ khác nhau. Đặc điểm của Phật giáo Đại Thừa là dạy quý vị trước tiên nên phát tâm rộng lớn, sau khi phát tâm, quý vị vẫn phải tu hành theo trình độ của mình. Trước hết quý vị cần phải xác định rõ phương pháp nào thích hợp với sở thích và tính cách của bản thân, hoặc phương pháp nào mà quý vị có thể dễ chấp nhận và hấp thụ được. Vậy thì, phương pháp đó tốt cho quý vị, bất luận cao thấp đều là Pháp môn Đại Thừa.

Bây giờ chúng ta nói về 5 cấp bậc trong giai đoạn tu hành.

1. Người

Chúng ta không được mơ màng viễn vông, cũng không được coi thường bản thân, bởi vì mỗi người đều có lập trường hiện tại và trình độ hiện tại của mình. Quý vị đã từng nghe qua câu nói “Phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” hay chưa? Quý vị có tin một người đã giết rất nhiều người hoặc người có bản tính dã man, một khi vứt dao đi thì liền có thể thành Phật hay không? Giả dụ thực sự có việc như vậy, Phật giáo sẽ không đáng để tín ngưỡng, Phật cũng không đủ để tôn kính. Song, câu nói này chính xác không hề nói sai, bởi vì ý nghĩa của “lập địa thành Phật”, nghĩa là nếu có thể buông dao đồ tể xuống, không còn sát sinh nữa, từ đây bắt đầu từng bước từng bước tiếp cận với Phật, sẽ thành công từng chút từng chút để sau đó thành Phật.

Còn một câu nói “khổ hải vô biên, quay đầu là bờ” có nghĩa là chúng ta cứ hướng ra biển mà bơi; hoặc lênh đênh trên biển, thì không thể lên bờ được, chỉ có khi chúng ta muốn lên bờ và quay ngược đầu lại, hướng về phía bờ, quay đầu lại tuy chưa thể lập tức lên bờ, nhưng đã đối diện với bờ và tiếp cận về hướng bờ, đó là việc không thể nghi ngờ. Do đó chúng ta phát tâm thành Phật, trước tiên cần phải bắt đầu từ lập trường và trình độ hiện tại của chúng ta. Chúng ta là con người, thành Phật thì cần phải bắt đầu từ địa vị của con người, nếu làm người còn chưa thể làm tốt, thì không thể thành Phật được.

2. Trời

 “Trời” là đối tượng tín ngưỡng và cảnh giới muốn hướng tới của tất cả các tôn giáo tại các quốc gia, các dân tộc, các thời đại. Không có tôn giáo nào là không cầu sinh lên cõi trời, đạo giáo Trung Quốc nói “bạch nhật phi thăng”, “trường sinh bất lão”, “vũ hóa đăng tiên” đều là muốn sinh lên cõi trời; Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo, Cơ Đốc giáo của phương Tây cũng đều yêu cầu sinh lên cõi trời. Nhưng giả dụ đến làm người còn chưa thể làm tốt, thì có thể sinh lên cõi trời hay không? Đích thực, có Tôn giáo cho rằng chỉ cần tín ngưỡng Thần, và may mắn được Thần chọn trúng, cho dù là làm rất nhiều việc xấu cũng có thể nhờ Thần ân xá mà được cứu vớt thăng thiên, cách nói này là không phù hợp logic, mà phải nói rằng: Ngươi đã làm người tốt, lại tín ngưỡng Thần, thì có khả năng sinh lên cõi trời.

Rất nhiều người đều nói Phật giáo chủ trương xuất thế, thực ra Phật giáo coi trọng nhập thế hơn, nếu không có huấn luyện đạo đức cơ bản của nhập thế, thì sẽ không thể xuất thế. Rất nhiều người thấy tôi làm hòa thượng mà hỏi tôi rằng: “Hòa thượng, nếu mọi người đều làm hòa thượng, loài người trên thế giới này chẳng phải sẽ bị tiêu diệt hết sao?” Gặp phải trường hợp như vậy, thông thường tôi sẽ quay ngược lại hỏi họ: “Trên thế giới này có mấy người xuất gia như tôi?” Bởi vì không phải mọi người ai cũng đều có thể xuất gia và thích hợp xuất gia. Phật giáo đương nhiên nguyện độ hết tất cả chúng sinh dứt đau khổ được an lạc, giải thoát sinh tử, nhưng trên thực tế chẳng thể khiến cho tất cả người trên nhân thế đều đi xuất gia.

Cho nên Phật giáo cho rằng trước tiên phải có người tại gia tốt, mới có được người xuất gia tốt. Nếu làm cha mẹ mà không làm tốt trách nhiệm của cha mẹ, làm con cái mà không làm tốt hiếu đạo, làm thầy giáo mà không làm tốt đạo làm thầy, làm bạn bè mà không làm tốt đạo bằng hữu, thì tư cách của những người này khi trở thành tín đồ Phật giáo là có vấn đề, xuất gia càng khó khăn hơn. Chỉ có thể hoàn thành yêu cầu cơ bản của việc làm người, thì mới có thể tiến thêm một bước xem xét có thích hợp xuất gia tu hành hay không, bởi thế làm người vừa là điều kiện cơ bản để sinh lên cõi trời, vừa là nhân tố cơ bản để thành Phật.

3. Thanh Văn

 “Thanh Văn” nghĩa là xuất thế, sau khi làm người tốt, làm một cách hoàn thiện, thì sẽ bước lên con đường xuất thế. Nhưng xuất thế không nhất định phải xuất gia, do đó trong Thanh Văn có 4 giai đoạn khác nhau, chúng ta gọi là: Sơ quả Tu Đà Hoàn (bảy lần sinh tử), Nhị quả Tư Đà Hàm (một lần sinh tử), Tam quả A Na Hàm (không trở lại chịu sanh tử nữa), Tứ quả A La Hán (giải thoát sinh tử). Từ quả thứ nhất đến quả thứ ba, người tại gia đều có thể đạt đến, quả thứ tư người tại gia cũng có thể làm được, song đến giai đoạn đó, tự nhiên sẽ vứt bỏ tất cả dục vọng danh lợi, quyền thế mà đi xuất gia, lúc đó, toàn bộ phiền não và tâm tham dục, tâm sân hận, tâm không rõ thị phi đều đã đoạn, thì sẽ thực sự đạt được xuất thế, cũng có nghĩa là vật dục của thế gian – tài sản, quyến thuộc, cho tới sự sống của bản thân đều đã không còn có tâm ràng buộc cái “tôi” và “của tôi”, lúc này mới thực sự đạt đến cảnh giới A La Hán.

“Giải thoát” nghĩa là không chịu ảnh hưởng của bất kỳ tư tưởng và hành vi vật chất nào, và sống trong cảnh giới thân tâm tự tại, sinh tử nhất như. Cho nên xin đừng lo lắng rằng: “Nếu có một ngày mọi người đều đạt đến quả thứ tư, thì không còn con người trên thế giới này nữa.” Tôi nói cho quý vị nghe: Giả dụ tất cả chúng ta đều là A La Hán không có phiền não, không có đau khổ, chẳng lẽ không tốt sao? Nhưng để ngày đó xuất hiện thật không dễ dàng.

4. Độc Giác

Trên thực tế, Độc Giác và Thanh Văn có ý nghĩa giống nhau, nhưng do bởi nhập môn tu hành khác nhau mà có tên gọi khác nhau. Thanh Văn là nghe thấy Phật thuyết Pháp, Tăng thuyết Pháp hoặc đọc thấy phương pháp thoát ly sinh tử trong kinh điển mà tu hành chứng quả. Còn Độc Giác là khi thời đại không có Phật giáo, thời đại không có kinh Phật để xem, và thời đại không có ai thuyết Phật Pháp, từ sự khởi phát của một hiện tượng nào đó của giới tự nhiên mà đạt được chân lý của Phật Pháp và khai ngộ giải thoát. Hai thành phần này đều gọi là “xuất thế gian đạo”, cũng được gọi là Phật giáo xuất thế. Đối với người bình thường mà nói, thực sự là điều không hề dễ dàng.

5. Bồ Tát

Bồ Tát là vĩ đại nhất, cao thượng nhất, nhưng cũng bình dị nhất, bởi vì từ người bình thường mới bắt đầu tin Phật giáo đã đồng ý thực hành theo phương pháp thành Phật mà Phật giáo đã nói, đó chính là Bồ Tát sơ phát tâm. Cho nên thành Bồ Tát dễ hơn là thành A La Hán. Song, Bồ Tát chia làm 52 giai đoạn, từ bậc sơ cơ nhất đến bậc cao nhất – giai đoạn Phật, cần trải qua 52 cấp bậc. Lúc đầu, chúng ta cần phải làm người tốt, hy vọng người khác cũng sẽ trở thành người tốt, bất luận quý vị có năng lực giúp đỡ người khác đạt được hạnh phúc hay không, chỉ cần trong lòng quý vị thực sự hy vọng như vậy, tâm này đã là tâm Bồ Tát rồi

Bây giờ xin hỏi quý vị: Giả dụ ngôi nhà này xảy ra hỏa hoạn, còi báo hiệu ở ngoài đang kêu, chỗ nào cũng có khói, lúc này quý vị sẽ nghĩ gì? Tôi nghĩ rằng, phản ứng đầu tiên là bản thân mình làm sao có thể thoát ra ngoài, người chỉ quan tâm đến an nguy của bản thân mà không quan tâm đến người khác, thì không thể gọi là Bồ Tát. Nếu có người nào trước tiên đã nghĩ rằng làm thế nào giúp đỡ người già, người yếu, phụ nữ, trẻ em thoát khỏi đám cháy, mà không quan tâm đến an nguy của bản thân, thì người đó đã có tấm lòng Bồ Tát.

Bồ Tát Địa Tạng từng nói: “Địa ngục không hết, thề không thành Phật.” Lại nói: “Ta không xuống địa ngục, thì ai xuống địa ngục.” Chí nguyện lớn nhất của Ngài là đến địa ngục cứu người, chứ không phải ở chỗ thành Phật hay không. Điểm này rất quan trọng, người mới tin Phật sẽ muốn được thành Phật, đó là điều tất yếu, khi quý vị tin Phật và tu hành có cơ sở tương đối rồi, thì sẽ dạy quý vị nên đem suy nghĩ thành Phật gác lại một bên, bởi vì suy nghĩ muốn thành Phật tuy là điều tốt, nhưng vẫn có vọng tưởng của cái “tôi”, cho nên nếu quý vị muốn mình thành Phật, thì quý vị sẽ vĩnh viễn không thể thành Phật.

Có quan niệm “tôi”, tức là lòng ích kỷ, có lòng ích kỷ mà có thể thành Phật, điều này chẳng lẽ có lý hay sao! Bồ Tát trước tiên phải thử quên đi bản thân, chuyên vì người khác, tuy mãi luôn làm việc cứu người, song lại quên đi toàn bộ cái tôi có thể cứu, đối tượng được cứu, cho đến trí tuệ và sự vật để cứu người, đó mới là Bồ Tát thực sự.

 (IV) Phương pháp của tu hành

Đối với người tu hành mà nói, một vị sư phụ cao minh là không thể thiếu, họ có thể giúp quý vị tránh khỏi những con đường oan ức, và hơn nữa là không đi nhầm đường. Đối với công phu của việc chuẩn bị tu hành, thì tiết chế ngũ dục là rất quan trọng. Đó là do trung gian ngũ quan sản sinh ra các loại hoạt động tâm lý không tốt, những thứ được sản sinh bởi phản ứng của ngũ quan này là chướng ngại của việc tu hành. Phản ứng của ngũ quan nghĩa là những thứ mà mắt nhìn thấy, tai nghe thấy, lưỡi nếm thấy, mũi ngửi thấy và cơ thể tiếp xúc cảm nhận được, và khiến cho tâm lý sản sinh những tâm trạng hỷ nộ ái lạc, đó được gọi là ngũ dục. Bởi thế, người tu hành phải đạm bạc đối với cuộc sống vật chất thường ngày, không được để ngũ dục thanh, sắc làm mê loạn, sau đó mới có thể nói đến phương pháp tu hành chủ yếu.

Phương pháp tu hành chủ yếu của Bồ Tát Đại Thừa, gọi là “Lục độ”. Lục độ là dùng 6 loại phương pháp có thể giúp cho mình từ một bờ phàm phu có sinh tử phiền não, đến một bờ không có sinh tử, không có phiền não. Cũng có nghĩa là từ biển khổ sinh tử đạt đến Niết bàn, từ phàm phu phiền não chuyển thành Bồ đề. Giống như ngồi một chiếc thuyền có 6 loại thiết bị máy móc, thuyền đi về hướng thành Phật ở bờ bên kia, đó được gọi là Lục độ.

1. Bố thí

Lục độ, thứ nhất là “Bố thí”, bố thí là phương pháp dễ nhất, thông thường, có tiền bố thí tiền, có sức bố thí sức, người không có tiền cũng không có sức thì phải làm sao? Vậy thì đứng bên cạnh nói vài câu cũng tốt, vậy còn người câm thì sao? Thì chỉ cần trong lòng nghĩ đây là việc tốt, nếu tôi có năng lực thì nhất định sẽ làm, người khác làm việc tốt, trong lòng tôi cũng thật hoan hỷ. Nhưng nếu có người không bỏ tiền, không bỏ sức, chỉ chuyên khuyên người khác đi làm việc tốt, giúp người, như vậy có được coi là bố thí hay không? Trên thực tế, hành vi mà họ khuyên người làm việc thiện, đó cũng là bố thí sức lực.

Người làm thiện bố thí trên thế giới chưa chắc đều là phú ông, thậm chí là cùng bệnh mới có thể thương nhau, bản thân có đau khổ, khó khăn, cần sự giúp đỡ của người khác, bởi thế khi thấy người khác có đau khổ và khó khăn, thì cũng hy vọng có người đến giúp đỡ họ. Có người giàu có không chịu bỏ tiền làm việc thiện, bố thí, nên bị gọi là “làm giàu bất nhân”. Thực ra tiền của người giàu có, nếu không phải là tiền tài không chính đáng, thì đều do họ không nỡ dùng tiền, tiết kiệm từng đồng từng xu, tích lũy mà thành người giàu có; nếu dùng toàn bộ số tiền đó, thì họ không thể trở thành phú ông. Cho nên chúng ta nên khuyên người giàu bố thí, nhưng không được mỉa mai họ.

Bố thí có 2 đối tượng: Một là bố thí cho người nghèo khó, tức là giúp đỡ người cần cứu tế; hai là bố thí cho đoàn thể Tôn giáo, tức là Tam bảo Phật, Pháp, Tăng mà Phật giáo đã nói.

Khi tôi ở New York đã từng nói với học sinh, quý vị cần bố thí nhiều hơn cho Tam bảo, có một học sinh bật cười, tôi nói: “Anh cười, có phải vì tôi là người xuất gia trong Tam bảo, tôi muốn quý vị bố thí, muốn quý vị không được tham lam, kết quả là đều đem tiền cho tôi?” Anh ta nói, đúng rồi.

Quý vị có nghĩ vì sao cần phải bố thí Tam bảo không? Phật giáo nói bố thí Tam bảo công đức lớn hơn bố thí người nghèo. Chúng ta dùng tiền cứu giúp người, là hy vọng lấy 1 đồng tiền cứu 10 người, hay là hy vọng 1 đồng tiền không thể cứu nổi 1 người? Bố thí Tam bảo, việc mà Tam bảo làm là giúp đỡ người cần cứu tế có được Phật Pháp. Bởi vì đau khổ thực sự của loài người không phải ở chỗ thiếu thốn vật chất. Trọng điểm của Phật giáo là giúp đỡ mọi người giải quyết đau khổ, phiền não trong tâm của mình, đó là phương pháp giải quyết đau khổ một cách triệt để. Bố thí Tam bảo, Tam bảo có thể giúp đỡ càng nhiều người giải quyết vấn đề trọng đại, cho nên bố thí Tam bảo công đức lớn hơn nhiều so với bố thí người nghèo.v

Cũng có người nói, người xuất gia không làm kinh doanh, cũng không có tiền bố thí cho người, có phải cũng tu công đức bố thí không? Nói cho quý vị nghe, bố thì không phải toàn dùng tiền bạc, hơn nữa dùng tiền bạc bố thí chỉ là tiểu bố thí, dùng trí tuệ Phật Pháp bố thí mới là đại bố thí. Bởi vì cứu tế khó khăn của thân con người là tiểu bố thí, còn cứu tế tâm con người để được giải thoát khỏi đau khổ của sinh tử là đại bố thí. Ở đây tôi nói “phương pháp tu hành của Phật giáo”, tức là làm đại bố thí.

2. Trì giới

Thứ hai là “trì giới”, trì giới không chỉ có nghĩa là tuân thủ quy định. Nghĩa gốc của trì giới là: Tất cả những việc xấu không nên làm và phải chừa bỏ, những việc xấu đã chừa bỏ được thì không được tái phạm; những việc tốt chưa làm thì cần phải làm, những việc tốt đã làm phải duy trì và tiếp tục thực hiện. Tóm lại, “không làm tất cả các việc ác, cần làm tất cả các việc thiện.”

3. Nhẫn nhục

Thứ ba là “nhẫn nhục”, nhẫn nhục không những phải nhẫn chịu tất cả những sỉ nhục, mà còn phải nhẫn chịu tất cả những đau khổ, và càng phải nhẫn chịu những niềm vui có được. Nếu có thể nhẫn chịu được đau khổ, nhẫn chịu được niềm vui, thì đó là cảnh giới “bát phong thổi bất động” mà hôm qua tôi có nói.

4. Tinh tấn

Thứ tư là “tinh tấn”, tinh tấn là vì sự sống nhục thể của chúng ta và Pháp thân huệ mạng của Phật Pháp. Sự sống của nhục thể là hiện tượng sinh hoạt của cơ thể bằng xương bằng thịt này; Pháp thân huệ mạng của Phật Pháp là hiện tượng hoạt động của tín ngưỡng mà chúng ta nương vào để tiếp tục tu tập.Vì bi nguyện thiêng liêng, chúng ta cần phải mất một nỗ lực lớn nhất, không nản lòng, không thoái lui và tiếp tục thực hiện, thì đó là tinh tấn, nếu không có tinh thần tinh tấn, thì việc tu tập sẽ trở thành đầu voi đuôi chuột hoặc buổi đực buổi cái. Như thế bất luận là đối với cuộc sống thường nhật, duy trì sức khỏe, hay cho tới việc tu trì sinh hoạt tín ngưỡng, nếu không bỏ cuộc giữa chừng thì cũng nản lòng nhụt chí, và không thể đạt được mục đích như dự định ban đầu.

5. Thiền định

Thứ năm là “thiền định”, tôi dạy thiền định và chia làm 3 bước, cũng có thể nói chia làm 3 giai đoạn, mà đạt đến 3 loại cảnh giới khác nhau. Thứ nhất là thân tâm thăng bằng, thứ hai là vật và mình hợp nhất, thứ ba là sự vật và mình đều không tồn tại.

 (1)Thân tâm thăng bằng: khiến chúng ta có cơ thể khỏe mạnh và tâm lý lành mạnh. Làm được điều đó, chúng ta sẽ là người bình thường và khỏe mạnh. (2)Vật và mình hợp nhất: là cảnh giới mà kinh nghiệm Tôn giáo nói chung hy vọng đạt đến. Tức là bản thân mình và vạn vật trên thế giới hợp lại làm một, phàm những nhà triết học và nhà Tôn giáo lớn trong lịch sử phương Đông hay phương Tây đều có thể đạt đến giai đoạn này. (3)Vật và mình đều không tồn tại: chỉ có thiền mới có thể đạt đến mục đích này.

Thiền, tức là dạy quý vị đạt đến cảnh giới “vô”; vô, không phải là không có thứ gì, mà là trong cái không có, tất cả đều tồn tại, nhưng lại không có nghĩa là vật và mình hợp nhất. Vật và mình cùng không tồn tại nghĩa là sau khi khai ngộ thực sự, cảm thấy thế giới này của chúng ta hoàn toàn là giả, tuy là giả, song thế giới vẫn tồn tại như thường. Trong 3 giai đoạn này, chúng ta lại có thể dùng 3 danh từ để giải thích.

(1)Thân tâm thăng bằng, là giai đoạn tiểu ngã. Tức là trong khi trạng thái tâm lý bình thường ta cảm nhận được bản thân mình bình tĩnh yên ổn. (2)Vật và mình hợp nhất, là giai đoạn đại ngã. Sự tồn tại của cái tôi và sự tồn tại của vạn vật trong vũ trụ hợp lại làm một, bất luận Thượng đế trong tâm tôi hay tôi ở trong Thượng đế, đều là quan niệm của đại ngã. (3)Vật và mình đều không tồn tại, là giai đoạn vô ngã. Tức không còn tiểu ngã, cũng không còn đại ngã, chỉ là sự tồn tại rõ ràng, tự nhiên, hoạt bát, không chướng ngại.

Quý vị đừng cho rằng thiền định nhất định phải ngồi thiền. Tu thiền định có rất nhiều phương pháp, tĩnh tọa chỉ là một loại phương pháp cơ bản mà thôi, khai ngộ của thiền chưa chắc chỉ dựa vào tĩnh tọa, chỉ là khi mới bắt đầu thì cần phải tập luyện bước cơ bản của tĩnh tọa. Trên thực tế, niệm Phật, tụng kinh, sám hối, lễ bái, cầu nguyện, đều cần tập trung tâm lực, còn công phu bước đầu của thiền cũng chính là luyện tập tập trung tâm lực của quý vị. “Chân thành chí tâm, đá vàng cũng mở”, “thành” tức là tập trung tâm lực. Tâm không có tạp niệm, chỉ có một suy nghĩ, tập trung vào một suy nghĩ, đó là công phu bước đầu của thiền định. Cho nên quý vị không được thu hẹp phạm vi của thiền định, thiền định bao gồm tất cả các phương pháp tu hành, thiền thông với Đại Tiểu Tam Thừa và Hiển Mật nhị giáo.

6. Trí tuệ

Thứ sáu là “trí tuệ”, trí tuệ bao gồm 3 hạng mục: Văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ. Văn tuệ là tất cả các phương pháp tu hành do mắt, tai nhìn thấy nghe thấy, mà đạt được khai ngộ. Tư tuệ tức là sau khi nhìn thấy, nghe thấy hoặc học được, thêm vào công phu suy nghĩ phân biệt rõ ràng. Tu tuệ là ngộ cảnh đạt được từ tu hành 5 loại phương pháp bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định như phần trên đã giới thiệu. Sáu loại phương pháp tu hành nêu trên là một thể, trọng tâm là ở trí tuệ. Song, muốn có được trí tuệ thực sự thì bắt buộc phải cùng tu với 5 loại phương pháp còn lại. Nếu bỏ qua 5 loại kia, mà chỉ tu 1 loại, ví dụ như chỉ ngồi thiền thôi, cho dù khai ngộ, thì ngộ cũng sẽ không sâu.

Ở đây, tôi muốn nói với quý vị rằng, vì sao Lục độ lại đặt trí tuệ ở sau cùng, bởi vì tất cả các phương pháp tu hành của Phật giáo, đều hy vọng mục đích cuối cùng của người tu hành là trí tuệ, có được trí tuệ, tức là đã khai ngộ, khai ngộ có thể khiến mọi người từ bỏ phiền não. Nếu muốn có được trí tuệ, nhất định phải giải trừ phiền não của chính mình; phiền não đã được giải trừ, trí tuệ sẽ tự nhiên xuất hiện; trí tuệ đã xuất hiện, phiền não sẽ được giải trừ, đó là sự tuần hoàn nhưng lại là nhân quả của nhau, cho nên tu hành càng sâu thì ngộ cảnh càng cao, trí tuệ càng sâu thì phiền não càng nhẹ. 

Cuối cùng chúc cho quý vị, thân tâm vui vẻ, tràn đầy Pháp hỷ.

 (Ngày 24, tháng 10 năm 1977, giảng tại Nhà tưởng niệm Trung Sơn, thành phố Toronto, Canada, cư sĩ Giản Hứa Bang ghi âm, cư sĩ Trương Lưu Bội Trân ghi chép, bài viết được ghi tại “Phật giáo nhập môn” )

II. Thế nào để làm một người cư sĩ?

 (I) Lời nói đầu

Người tại gia tín ngưỡng Phật giáo, thông thường được gọi là cư sĩ. Vậy thì, là một người cư sĩ, có gì khác với người tại gia bình thường không? Phật giáo ở Trung Quốc, có rất nhiều người tín ngưỡng, cũng có rất nhiều người hiểu lầm; đại đa số người ta cho rằng Phật giáo là những ngôi chùa cúng lễ ngẫu tượng, là Tăng Ni tụng Kinh cho người chết, là chuông, mõ .v.v. đại diện cho Phật giáo. Cho nên, cũng nhận định Phật giáo là tiêu cực, là chạy trốn hiện thực.

Thực ra, đó chỉ là Phật giáo của người xuất gia, hơn nữa là loại Phật giáo đã bị biến chất phong tục tập quán thông thường. Tinh thần căn bản của Phật giáo dường như đã bị cơn sóng phong tục này nhấn chìm. Tín đồ Phật giáo chia là 2 loại lớn là xuất gia và tại gia; nhiệm vụ chính của người xuất gia là tu đạo và truyền đạo, và giữ gìn Phật giáo; còn biểu đạt tinh thần Bồ Tát Đại Thừa nhập thế, và làm người bảo vệ của Phật giáo, lại là cư sĩ tại gia.

(II) Ba loại Pháp môn

Pháp môn tu học Phật Pháp tu nhiều, nếu nói trên đại thể, có thể chia làm 3 loại:

Thứ nhất là Thiên đạo.

Thứ hai là đạo giải thoát.

Thứ ba là Bồ Tát đạo.

Tông chỉ của học Phật là cầuđạo giải thoát; điểm dựa của học Phật lại ở chỗ đạo nhân thiên. Nhất là nhân đạo là then chốt lớn nhất của sinh tử và giải thoát. Cho nên, người học Phật không thể rời bỏ đạo nhân thiên mà cầu đạo giải thoát.

Cầu đạo giải thoát cũng không phải là viên thành Phật quả; người giải thoát sinh tử không phải là người đã thành Phật, muốn thành Phật, bắt buộc phải làm được cả hai đạo nhân thiên và đạo giải thoát, đó được gọi là Bồ Tát đạo.

Từ trên tính chất mà nói, đạo nhân thiên thiên trọng về tu tập phước nghiệp, ví dụ các việc như bố thí, cứu tế, phóng sinh, không sát sinh, công ích xã hội .v.v.;đạo giải thoát thiên trọng về tu trì tuệ nghiệp, ví dụ như trì giới, tu thiền, lễ Phật, niệm Phật, nghe Kinh, đọc Kinh .v.v. Quan trọng nhất vẫn là sự phân biệt giữa luyến thế và xuất thế: Nếu có tâm luyến thế, tuy tu tuệ nghiệp, vẫn là phước báo nhân thiên; nếu có tâm xuất thế, tuy tu phước nghiệp, cũng sẽ đi về con đường giải thoát.

Không có chút nghi ngờ, mục đích của học Phật không ở đạo nhân thiên; thái độ của Phật giáo cũng không chỉ ởđạo giải thoát. Tự cầu giải thoát cũng phải làm cho tất cả chúng sinh được giải thoát, tự cầu giải thoát là tuệ nghiệp, giúp người giải thoát là phước ngiệp, phước tuệ song tu chính là Bồ Tát đạo. Có thể thấy, tông chỉ của Phật giáo tuy là xuất thế, song phương pháp của Phật giáo lại là nhập thế. Bởi vì tự cầu giải thoát là cầu giải thoát đau khổ của thế gian, còn xuất thế cũng là vì xuất ly đau khổ của thế gian. Cứu giúp chúng sinh là vì giúp chúng sinh giải thoát những khổ não của thế gian, tuy xuất thế song lại không phải là trốn đời. Đồng thời, giải thoát mà Phật giáo nói đến trọng ở tâm – tinh thần tự tại, không chịu sự ràng buộc của phiền não ngũ dục (thô), đó là tâm giải thoát, thì có thể rời Dục giới mà sinh lên Sắc giới, Vô sắc giới, cho tới xuất ly sinh tử; nếu có thể không chịu sự ràng buộc bởi tập nghiệp vô minh và vô tri (tinh vi), đó là tuệ giải thoát, thì có thể siêu thoát sinh tử, cho tới thành Phật. Bởi thế, người đã giải thoát đương nhiên không chịu sự ràng buộc của sinh tử, nhưng không phải là không chịu sinh tử, bởi muốn độ chúng sinh, các Ngài vẫn phải sinh tử. Song, sinh tử của các Ngài là sự tự chủ của ý chí tự do (nguyện lực), không giống với sinh tử của phàm phu nói chung là do sự dẫn dắt của phiền não tạo thành (nghiệp lực). Giống như một người tự do vào trong nhà giam để diễn giảng cho phạm nhân, tuy cũng là vào nhà giam, tiếp xúc với phạm nhân, nhưng cảm nhận tâm lý của họ khác với phạm nhân trong nhà giam bị pháp luật xét xử mà giam cầm. Cho nên, người đã giải thoát tuy vào sinh tử, song không lấy sinh tử làm đau khổ; tuy ở trong sinh tử, song lại không chịu sự ràng buộc của sinh tử.

 (III) Đạo giải thoát và đạo Bồ Tát

Tu trì đạo giải thoát, không có nghi ngờ gì, đó là bản ý của Phật giáo; công phu tu trì củađạo giải thoát cũng không có gì để nghi ngờ, với thân phận xuất gia thì thích hợp hơn, chí ít những vướng bận của người xuất gia không nhiều như người tại gia. Cho nên người xuất gia có thể chứng tứ quả Tiểu Thừa, còn người tại gia nhiều nhất cũng chỉ có thể chứng đến tam quả, phái Bắc đạo của Nam truyền tuy chủ trương người tại gia cũng có thể chứng đến tứ quả, nhưng đã chứng đến tứ quả thì ắt sẽ xuất gia.

Nói đến Bồ Tát đạo, không có nghi ngờ gì, tinh thần của Bồ Tát đạo là căn bản của Phật giáo, người tu trì Bồ Tát đạo thì với thân phận tại gia là càng thích hợp. Chí ít phạm vi sinh hoạt của người tại gia có thể rộng hơn so với người xuất gia, đi sâu vào quần chúng mà tiếp xúc với quần chúng, đó chính là phương tiện tốt nhất để nhiếp hóa quần chúng. Cho nên Bồ Tát trong Kinh Phật, ngoại trừ số cực ít ra, đều hiện tướng tại gia, cho tới Bồ Tát đời cuối cùng tại nội viện Đâu Suất cũng hiện tướng thiên nhân, chứ không phải tướng xuất gia. Đương nhiên Bồ Tát hiện tướng tại gia không có sự phân biệt giới tính nam nữ, cõi trời Sắc giới trong tam giới đã không còn nam nữ dục, thì huống hồ là Bồ Tát đã đạt đến quả Thánh. Nguyên nhân Bồ Tát hiện tướng tại gia là để giải thích rằng thân phận thích hợp nhất để tu trì Bồ Tát đạo chính là người tại gia.

Đạo giải thoát là điều đáng quý, nhưng vẫn không đáng quý bằng Bồ Tát đạo. Bởi vì người tu trì Bồ Tát đạo ngoài việc tự cầu giải thoát, còn muốn giúp người giải thoát; đã là người cầu chứng (hoặc đã chứng đắc)đạo giải thoát, cũng là người thực hiện đạo nhân thiên. Trên thực chất, Bồ Tát tuy hiện thân tại gia, nhưng lại vĩ đại hơn Thánh giả xuất gia. Đó cũng chính là nguyên nhân cơ bản mà Phật giáo Đại Thừa luôn trách cứ tâm hành Tiểu Thừa.

Nhưng người tại gia dễ tu hành phước nghiệp của đạo nhân thiên, chỉ cần bỏ tiền bỏ sức, làm nhiều việc từ thiện công ích xã hội là được. Còn yêu cầu người tại gia giống như hoa sen nở trên bùn mà không nhiễm bùn – tu trì đạo giải thoát, thì khó khăn hơn. Nếu chỉ hành đạo nhân thiên mà không tu đạo giải thoát thì chỉ là đạo nhân thiên, chứ không phải là Bồ Tát đạo, chỉ có thể đạt được phước báo trong giới nhân thiên ở đời sau, chứ không thể giải thoát sinh tử, càng không thể tự chủ trong việc sinh tử. Đó cũng chính là một trong những nhân tố tôn quý và siêu thắng hơn của người xuất gia so với người tại gia.

Căn cứ vào yêu cầu này, có thể càng hiểu thêm rằng: cùng là người tại gia, người tin Phật và chưa tin Phật là không giống nhau. Người tại gia chưa tin Phật cho dù họ là nhà từ thiện vĩ đại nhất, thì cũng chỉ có thể có được phước báo ở nhân gian và 6 cõi trời trong cõi dục giới, khi phước báo hưởng tận, vẫn bị đọa xuống ba đường – súc sinh, ngã quỷ, địa ngục chịu khổ. Còn người tại gia đã tin Phật, cho dù không thể rốt ráo tu trì đạo giải thoát, song cũng hướng tâm về con đường giải thoát, cho nên cũng sẽ tu trì đạo giải thoát; đời này tu không thành, thì đời sau cho tới nhiều nhiều đời sau nữa, ắt sẽ tu thành đạo giải thoát mà hy vọng đạt được giải thoát. Người tại gia tin Phật, cho dù không thể tích cực thực hiện phước nghiệp nhân thiện, song giới hạn thấp nhất cũng sẽ không tích cực tạo nghiệp ác tam đồ. Cho nên, cùng là người tại gia, song tiền đồ của người tin Phật càng có hy vọng, càng được bảo đảm hơn người chưa tin Phật.

(IV) Cư sĩ thích hợp tu đạo Bồ Tát

Đến đây, chúng ta cần nói về vấn đề của cư sĩ. 

Trong quan niệm của mọi người nói chung, đa số cho rằng tên gọi “cư sĩ” là danh từ chuyên môn của Phật giáo dùng để gọi tín đồ nam nữ tại gia, thực ra thì không phải. 

Trong Thánh điển nguyên thủy của Phật giáo, nhất là trong bộ Luật, cư sĩ là tên gọi chung của người thế tục, tiếng Phạn gọi là “Ca La Việt”, bất luận tin Phật hay không tin Phật, phàm là người tại gia thì đều có thể gọi là cư sĩ. Nam được gọi là cư sĩ, nữ được gọi là nữ cư sĩ, đây là tên gọi chung của người thế tục đã kết hôn. Giải thích của Pháp sư Cưu Ma La Thập (Kumarajiva) là: “ở nước ngoài(Ấn Độ)người giàu có sung sướng được gọi là cư sĩ.” Trong “Thập Tụng Luật” cuốn 6 thì nói: “Người cư sĩ tức là, ngoại trừ vua, vương thần và giáo phái Bà La Môn ra, những người bạch y tại gia, tên là cư sĩ.”

Ở Trung Quốc, vận dụng từ cư sĩ cũng không phải bắt đầu từ Phật giáo. Trong “Lễ Ký” đã có từ “cư sĩ Cẩm Đới”, đó là nhân sĩ tu Đạo giáo, làm nghệ thuật, bao gồm ý nghĩa của ẩn sĩ, cho nên trong sách cổ Trung Quốc thường thấy một số văn nhân nhã sĩ lấy hiệu là cư sĩ, nhưng đó không thể hiện họ là tín đồ Phật giáo.

Phật giáo quen lấy cư sĩ để xưng hô tín đồ tại gia, là từ khoảng thời kỳ cư sĩ Duy Ma Cật mà có; cư sĩ Duy Ma Cật có thể được gọi là cư sĩ, nhưng cũng bởi thế mà được người đời sau gán ghép, như “Duy Ma Nghĩa Sơ” cuốn 1 của Đại sư Tuệ Viễn nói: “Cư sĩ có hai: 1. Người tích nhiều tài sản, tiền bạc, gọi là cư sĩ; 2. Tại gia tu đạo, cư gia đạo sĩ, gọi là cư sĩ.” 

Chính bởi vậy, danh từ cư sĩ dần dần trở thành từ chuyên dùng của Phật giáo. Bành Tế Thanh của đời nhà Thanh, viết một bộ truyền ký về tín đồ Phật giáo tại gia, cũng đặt tên là “Cư sĩ truyện”. Trên thực tế, lấy cư sĩ làm xưng hô người tại gia học Phật, đương nhiên không phải không được, nhưng nếu theo quan niệm của người Trung Quốc, lấy hàm nghĩa ẩn sĩ để ám chỉ người tại gia học Phật, thì là điều không thích hợp, thậm chí có nghĩa ngược lại. Bởi vì ẩn sĩ là người có cuộc sống cô độc để tu luyện cho riêng mình, tìm hiểu triết lý và bảo dưỡng tự thân; còn người tại gia học Phật là người thực hành Bồ Tát đạo vì độ chúng sinh, có thể không tiếc sinh mệnh, tự cầu giải thoát, cũng ắt giúp người giải thoát, thì sao có thể cùng nghĩa với ẩn sĩ được?

Tuy nhiên, đã được lưu truyền thành thói quen, chúng ta cũng chỉ có thể tùy tục mà xưng hô vậy.

Theo lý, một người cư sĩ đúng nghĩa như danh xưng của nó, đó là một vị Bồ Tát Đại Thừa. 

Tuy nhiên, muốn làm một vị Bồ tát đúng nghĩa không phải là điều dễ dàng, Đại sư Thái Hư từng nói: “Cần phải nhập Tổ vị, mới có thể hoằng Pháp Đại Thừa, bằng không…..có thể đạt được lợi ích nhỏ bé của cõi nhân thiên và trồng thiện căn Đại Thừa, mà không vào Đại Thừa.” (“Phật Pháp Đạo Ngôn”) Cần phải đạt tới chỗ đã phá ba cửa ải ( minh tâm kiến tánh, sanh tử tự tại, biết được nơi sẽ đến không bị ngăn ngại) của Thiền tông, tương đương với cảnh giới sáu căn thanh tịnh, mới nhập Tổ vị, nhập vào Tổ vị rồi, mới có thể hoằng dương Phật giáo Đại Thừa. Bồ Tát đạo của Phật giáo Đại Thừa thực sự rất đáng quý.

Nhưng chúng ta không được vì Bồ Tát đạo khó hành mà không hành, tuy không thể thành tựu trở thành Bồ Tát Đại Thừa ưu nhập Thánh vị ngay trong đời này, nếu tiếp tục trồng thiện căn Đại Thừa, cuối cùng ắt sẽ trở thành Bồ Tát Đại Thừa ưu nhập Thánh vị. 

Cho nên các vị cư sĩ tại gia không được nản chí, người tại gia tuy kém hơn một bậc về cầu đạo giải thoát so với người xuất gia, nhưng trong quá trình thực hành Bồ Tát đạo lại ưu thắng hơn rất nhiều so với điều kiện của người xuất gia.

(V) Trọng tâm của đạo Bồ Tát

Chúng ta biết rằng, hạng mục chủ yếu của đạo nhân thiên là Ngũ giới Thập thiện (sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu là 5 hạng mục bắt buộc phải cai trừ, được gọi là 5 giới; không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không thêu dệt, không hai lưỡi, không ác khẩu, không tham dục, không sân hận, không tà kiến, gọi là Thập thiện. Nội dung chi tiết, xin tham khảo phần ‘Hộ chiếu của nhân gian và trên trời’ trong “Đại cương giới luật học” phần III); hạng mục chủ yếu của đạo giải thoát là Tam học gồm Giới, Định, Tuệ; hạng mục chủ yếu của Bồ Tát đạo là Lục độ gồm bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Lục độ bao gồm cả Tam học, Tam học lại bao gồm cả Ngũ giới Thập thiện. Cho nên Bồ Tát đạo mới là đạo căn bản của Phật giáo.

Trong Lục đạo, lấy bố thí làm hàng đầu, có thể thấy, thực hành Bồ Tát đạo lấy bố thí làm trọng tâm. Bởi vì muốn độ chúng sinh, ắt phải an ủi chúng sinh trước hết, đầu tiên cần phải giúp chúng sinh có được an ủi về mặt vật chất và tinh thần, sau đó họ mới có thể nảy sinh cảm tình với quý vị, tiếp nhận sự dẫn dắt của quý vị, và cũng tín nhiệm sự dẫn dắt của quý vị.

Bố thí chia làm 3 loại là tài thí, Pháp thí (phương pháp dứt khổ), vô úy thí (khích lệ người yếu đuối). Tài thí thuộc về vật chất, Pháp thí và vô úy thí thì thuộc về tinh thần. Việc bố thí lý tưởng, tốt nhất là cả 3 loại cùng làm, nhưng chúng sinh nói chung (con người), dưới áp lực của cuộc sống hiện tại, đối với việc cứu tế nhu cầu vật chất càng cấp thiết hơn so với nhu cầu về nương tựa tinh thần. Bởi thế, trước tiên cần giúp họ ăn no, mặc ấm, thì mới có thể nói tiếp đến việc theo đuổi tinh thần. Đối với công tác bố thí của Phật giáo mà nói, cư sĩ có thể làm được triệt để hơn so với người xuất gia, bởi vì căn cứ theo Luật chế, người xuất gia không được có tiền tài và cũng sẽ không có tiền tài, nếu đã không có tích lũy tiền tài thì đối với việc bố thí vật chất là điều không thể làm. Tăng ni ngày nay, chưa chắc đã có mấy người đối với tiền tài trì giới một cách thanh tịnh, nhưng ngoại trừ tài sản của chùa ra, thì cũng không có nhiều tài sản riêng. Cho nên người xuất gia chỉ có thể bố thí Phật Pháp, lấy tinh thần của vô úy để khích lệ, chứ không thể dùng vật chất để cứu tế. Tuy trong Kinh Phật nói, tất cả các công đức bố thí thì bố thí Phật Pháp là thù thắng nhất. Nhưng ở trên có nói, điều kiện đầu tiên để tiếp dẫn chúng sinh, phải lấy bố thí vật chất làm ưu tiên trước hết. Còn giáo hóa chúng sinh dứt đau khổ được an lạc – đi tới con đường giải thoát, đó mới là chức năng của Phật Pháp, công đức này tuy lớn, nhưng lại không phải là phương pháp trực tiếp giải trừ nghèo khó hiện thực. Đồng thời, trong toàn bộ người xuất gia, tỷ lệ số người có thể bố thí Phật Pháp và vô úy cũng tương đối thấp. Trong Thánh điển nguyên thủy, chúng ta có thể có được chứng minh: Đệ tử xuất gia của Đức Phật , thường đi theo Ngài có khoảng một nghìn người, đại đa số là đại A La Hán, ngoài ra là Tăng Ni phàm Thánh, đương nhiên còn có rất nhiều rất nhiều, nhưng trong Tăng đoàn có khả năng lãnh đạo thì chỉ có khoảng mấy chục vị mà thôi, còn về phương diện hoằng hóa thì người có thành tựu lớn và được ghi chép tên tuổi, tỷ lệ là vô cùng ít. Tuy ghi chép của Thánh điển không thể tránh khỏi bỏ sót và không đầy đủ, nhưng về phương diện Pháp thí, người thực sự có khả năng lớn đích thực là không nhiều, đó là sự thật. Tăng ni đời sau đương nhiên thì càng không phải nói; bởi vì người xuất gia chủ yếu là tu trì đạo giải thoát, nếu còn có năng lực thì mới có thể nói đến công việc cứu tế chúng sinh.

Còn cư sĩ, nếu là một vị thực sự thực hành Bồ Tát đạo, thì cũng có thể cùng một lúc làm được tam thí: Đó là bản thân có tiền tài, có thể dùng vật chất cứu tế người nghèo khó, bản thân cũng am hiểu thắng nghĩa của Phật Pháp, có thể dùng để giáo hóa chúng sinh, an ủi chúng sinh, khích lệ chúng sinh.

Cho nên, tinh thần Đại Thừa thực sự tuy được đại Bồ Tát cho tới Đức Phật là những người xuất gia nhiếp hóa, người xuất gia phàm phu nói chung thì không thể biểu đạt đầy đủ, chỉ có cư sĩ tại gia phát đại tâm mới là người thực hiện Bồ Tát đạo lý tưởng.

Đương nhiên, cư sĩ lý tưởng được nói ở đây, trong ghi chép của lịch sử cũng không đếm hết được. Còn các cư sĩ nói chung thực sự không dễ làm đến trình độ lý tưởng; cư sĩ có tiền có thể bố thí tài vật, nhưng cũng chỉ hạn chế ở bố thí tài vật không thôi, thì chưa chắc có thể dùng ý nghĩa thù thắng của Phật Pháp để bố thí Phật Pháp. Nếu hy vọng họ bước thêm một bước cầuđạo giải thoát, thì là việc càng khó hơn (đương nhiên không phải là không có); cho nên, việc bố thí của họ vẫn chỉ hạn chế ở chỗ tu hành phước nghiệp nhân thiên. 

Đối với cư sĩ thâm nhập ý nghĩa thù thắng của Phật Pháp, tuy có thể làm được Pháp thí, nhưng họ chưa chắc đã là người giàu có, đối với bố thí vật chất thì lại lực bất tòng tâm. Đại đa số các cư sĩ chính tín cứ chần chừ giữa hai con đường đạo nhân thiên vàđạo giải thoát, tuy đã hướng vềđạo giải thoát, nhưng lại không thể rời bỏ nghiệp nhân thiên; trong nghiệp nhân thiên, thì muốn cầu con đường giải thoát. Họ đương nhiên vẫn là may mắn, cũng thật đáng kính, giới hạn thấp nhất, họ cũng sẽ đi lên con đường giải thoát, cho tới Bồ Tát đạo thực sự.

 (VI) Điều kiện mà cư sĩ cần có đầy đủ 

Phần trên nói về cư sĩ lý tưởng. Cư sĩ lý tưởng được sản sinh từ cư sĩ bình thường, cũng khởi đầu từ một cư sĩ bình thường mà nên.

 Vậy thì, cư sĩ nói chung cần đầy đủ những điều kiện nào? Trong quy định của Kinh thứ 927 “Tạp A Hàm Kinh” cuốn 33 có nói, cư sĩ tại gia cần phải có đầy đủ 5 điều kiện, gọi là “Ngũ Pháp cụ túc”, đó là:

1. Đầy đủ tín

Lòng tin là điều quan trọng hàng đầu, nếu không xây dựng lòng tin thâm sâu, thì tất cả các vấn đề khác đều không cần nói tới. Đối với Phật giáo, trước hết cần có tín ngưỡng đúng đắn đối, trung tâm của tín ngưỡng là Phật Pháp, Phật Pháp có thể giúp chúng ta dứt đau khổ được an lạc, cho nên cần tín ngưỡng. Phật Pháp là do Phật thuyết; Phật Pháp là do Tăng chúng kết tập (biên tập), lưu truyền, giữ gìn, hoằng dương, cho nên cũng cần phải tín ngưỡng. Tổng hợp lại chính là tín ngưỡng “Phật, Pháp, Tăng”, được gọi là Tam bảo. Nhập môn của tín ngưỡng là quy y Tam bảo; quy y Tam bảo là đem toàn bộ thân tâm hòa quyện vào trong hào quang và ân đức của Tam bảo một cách vô điều kiện, sau khi quy y Tam bảo thì có thể từ sự hướng dẫn của Tam bảo đạt được chỉ dẫn của đại đạo nhân sinh – chánh kiến, chánh tu duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mệnh, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định – Bát chánh đạo.

2. Đầy đủ giới

Chủ yếu là chỉ Ngũ giới – Không sát sinh (không giết động vật, chứ không chỉ là ăn chay), không trộm cắp, không tà dâm (không được có quan hệ nam nữ với người không phải là vợ chồng), không nói dối, không uống rượu. Ngũ giới là hạng mục đạo đức bắt buộc của đệ tử tam quy, quy y Tam bảo và thọ trì Ngũ giới đáng lẽ không nên được coi là 2 lớp ý nghĩa của 2 giai đoạn, nếu đã quy y Tam bảo mà không thọ trì Ngũ giới, thì cũng giống như chỉ đăng ký nhập học với nhà trường nhưng lại không lên lớp học chính thức, đó chỉ là trồng căn thiện mà không có được lợi ích thực sự. Ngũ giới Thập thiện là nghiệp nhân thiên trong đạo nhân thiên, nếu không thể thọ trì Ngũ giới, thì đến quả vị nhân thiên trong đạo nhân thiên cũng khó bảo toàn, há có thể giải thoát sinh tử ư?

Nếu hướng theo cuộc sống xuất gia, nhưng hoàn cảnh hiện thực không cho phép, thì ngoài Ngũ giới ra, cũng có thể vào các ngày Lục trai âm lịch hàng tháng (mùng 8, 14, 15, 23 và 2 ngày cuối cùng của cuối tháng), thọ trì Bát quan trai giới kỳ hạn một ngày một đêm, Bát quan trai giới là:

  • (1) Không sát sinh
  • (2) Không trộm cắp
  • (3) Không dâm (một ngày một đêm không được quan hệ nam nữ với người khác giới)
  • (4) Không nói dối
  • (5) Không uống rượu
  • (6) Không xức nước hoa, không bôi dầu thơm lên người; không ca hát nhảy múa, cũng không xem và nghe
  • (7) Không nằm trên giường cao rộng
  • (8) Không phi thời thực (gọi là trì ngọ, sau buổi trưa, chỉ được uống nước, không được ăn đồ ăn - nội dung của giới điều này xin tham khảo ‘Quy chế ẩm thực của Phật giáo’ trong “Sinh hoạt luật chế”)

Nội dung chi tiết của Bát quan trai giới, xin tham khảo ‘ cửa thoát ly sinh tử’ trong “Đại cương giới luật học” phần IV.

Nếu cư sĩ tu Bồ Tát đạo, có thể thọ thêm Bồ Tát giới, đây tuy không phải quy định trong “A Hàm Kinh”, song đối với cư sĩ của Phật giáo Đại Thừa đích thực tất yếu cần thọ trì Bồ Tát giới, bởi vì việc thọ giới cũng giống như tuyên thệ, mà còn trang nghiêm hơn so với ý nghĩa của tuyên thệ, hiệu dụng càng to lớn hơn so với của tuyên thệ. Sức mạnh của giới là chất bảo quản có kháng ác tính cực mạnh. 

Nội dung chủ yếu của Bồ Tát giới, xin tham khảo ‘Cái nôi của tam thế chư Phật’ trong “Đề cương giới luật học” phần VII.

3. Đầy đủ thí

Nội dung của thí là lấy lòng tôn kính cúng thí cha mẹ, thầy giáo, Tam bảo; lấy lòng thương xót bố thí kẻ cô khổ, nghèo bệnh; lấy công ích thí xả để làm nên phúc lợi cho mọi người trong xã hội.

4. Đầy đủ văn

Trì giới, bố thí chú trọng ở việc thực hiện và bồi dưỡng phước đức, nhưng nếu muốn đạt được chính tri chính kiến của Phật Pháp và hy vọng phụng hành Phật Pháp theo giáo lý, thì bắt buộc phải bắt đầu từ việc nghe Pháp. 

Đọc Kinh cũng là một trong các cách nghe Pháp, nhưng ý nghĩa Kinh điển uyên thâm sâu sắc, nên cần phải cận kề với thiện tri thức, chỉ bày giảng dạy “đi đến chùa tháp, chuyên tâm nghe Pháp”, vẫn là tất yếu. Đó cũng là mục đích lớn nhất của việc đi chùa của các cư sĩ.

5. Đầy đủ tuệ

Đây là lĩnh hội hoặc lĩnh ngộ của chân ý nghĩa tinh túy, cũng là một loại kinh nghiệm thực chứng đạt được từ thực tiễn tinh tấn của nghe Pháp. thời Đức Phật, mỗi lần thuyết Pháp với người thường, thì có rất nhiều người từ trong nghe Pháp mà thấy được chân lý, chứng được sơ quả, đó là điển hình của đầy đủ tuệ.

(VII) Cuộc sống gia đình của cư sĩ

Một cư sĩ tuy đã quy y Tam bảo, nhưng vẫn là người thường tại gia, vì vẫn là người thường thì nên sống theo quy phạm cuộc sống của người thường, hơn nữa còn phải sống càng tích cực, càng hòa hợp, càng mỹ mãn, càng có sức sống, càng nhiệt tình hơn so với người thường không tin Phật. Chỉ có như vậy thì mới có thể khiến cho bản thân vui vẻ, khiến cho người khác kính ngưỡng, và càng khiến người khác tiếp nhận sự ảnh hưởng của mình. 

Nghĩa vụ quan trọng hàng đầu của cuộc sống con người là xây dựng gia đình hòa hợp vui vẻ. Phải hiếu kính với cha mẹ, phải từ ái với con cái, kính và dưỡng, giáo và dục, làm đến khả năng cao nhất của mình, mới được coi là làm tròn trách nhiệm của cha mẹ và con cái. Vợ chồng là trọng tâm của gia đình, nhất định phải trung thủy đối với nhau, phải kính yêu đối phương, chăm sóc quan tâm đối phương, tình cảm giữa vợ chồng hòa hợp thì cho dù là cuộc sống nghèo khổ, vẫn là một gia đình đáng yêu.

Gia đình hòa hợp vui vẻ chủ yếu là được xây dựng trên tình cảm giữa vợ và chồng; hạnh phúc gia đình chủ yếu là dựa vào sự thăng bằng về thu chi kinh tế. Cư sĩ cần phải làm những ngành nghề chính đáng cho mưu cầu cuộc sống, ngoại trừ nghề giết mổ (bao gồm nghề đánh cá và mở quán ăn mặn), nghề trộm cắp (bao gồm nghề cờ bạc và buôn lậu), nghề mại dâm (bao gồm quán rượu, sàn nhảy, kỹ viện), các ngành nghề khác như nông dân, công nhân, thương gia, viên chức, đều có thể chọn lựa. Có được thu nhập thì cần phải tiết kiệm, trong “Thiện Sinh Kinh”, Phật chia thu nhập của cư sĩ làm 4 phần để xử lý: 1 phần cho ăn uống (sinh hoạt gia đình), 1 phần cho điền nghiệp (vốn làm ăn), 1 phần cho dự trữ (dự trữ trong nhà), 1 phần cho người khác thuê để sinh lợi tức (đầu tư lấy lãi). Dùng kế hoạch kinh tế như vậy để lên kế hoạch cho kinh tế gia đình là việc an toàn nhất và cũng là sự phân phối khoa học nhất.

Nhưng tác dụng của kinh tế là tạo nên hạnh phúc của cuộc sống, là ở chỗ đạt thành mục đích của đạo đức. Cho nên Đức Phật trách mắng kẻ giữ tiền khư khư có thu nhập nhiều hơn chi tiêu, ví họ như chó chết đói; càng trách mắng những người chi tiêu nhiều hơn thu nhập, ví họ như quả sung không có hạt giống.

Sau khi củng cố cơ sở kinh tế gia đình, ngoài những thứ cần dùng trong cuộc sống thường nhật của gia đình, ngoài lo cho gia đình ra, nếu có năng lực thì nên dùng cho việc làm phước đức – cúng dường Tam bảo và từ thiện công ích. Cho nên trong “Tạp A Hàm Kinh” cũng nói, tài sản của cư sĩ nên chia vào 3 mục đích: Một là cúng dường cha mẹ; hai là nuôi dưỡng vợ con, cho tới giúp đỡ thân thuộc, bạn bè, người giúp việc .v.v.; ba là cúng dường Sa Môn, Bà La Môn (bao gồm Tam bảo).

Một người cư sĩ cần nên cận kề Tam bảo, nhưng nếu không lo việc gia đình, vứt bỏ trách nhiệm với cha mẹ con cái và vợ chồng, chuyên cận kề Tam bảo, thì đó là việc mà Phật không hề hy vọng, trừ phi đã làm tròn trách nhiệm đối với gia đình.

Một người cư sĩ cần nên cúng dàng Tam bảo vô điều kiện, nhưng nếu khấu trừ những thứ cần thiết của cha mẹ, giảm thiểu dinh dưỡng của con cái, tiết kiệm sinh hoạt phí của vợ hoặc chồng, giảm thấp tiền lương của người làm .v.v. để lấy cúng dường Tam bảo, thì đó là việc mà Phật không hề hy vọng. Trừ phi được đối phương cho phép, hoặc do những người ấy tự động thực hiện.

Một người cư sĩ không được vì tin Phật mà làm hỏng sự hòa thuận vui vẻ trong gia đình, nên nhờ tin Phật mà khiến cho gia đình càng thêm hòa lạc. Bằng không, người nhà của quý vị sẽ bất mãn bởi hành động không chăm lo cho gia đình mà chỉ chăm lo cho Tam bảo của quý vị, họ không những sẽ phản cảm với quý vị, mà còn phản cảm với cả Phật giáo. Như vậy, bản vốn dĩ cung kính Tam bảo, nhưng ngược lại khiến cho người thân của bạn trở thành người phản đối Tam bảo, đây lầ điều rất không không may. Phần trước tôi đã nói qua rằng cư sĩ là người lý tưởng để thực hành Bồ tát đạo, Bồ tát là người nhận cứu chúng sanh là trách nhiệm của mình. Nhưng hôm nay bạn làm cho người thân tránh xa Tam bảo cả ngàn dặm, như vậy còn nói gì đến cứu độ chúng sanh?

(VIII) Cuộc sống xã hội của cư sĩ

Có người nói, loài người là động vật của xã hội, cho nên phàm là đời sống của con người không thể thoát ly xã hội. Định nghĩa của xã hội là “đoàn thể có tổ chức”, cho nên xã hội lớn nhất của chúng ta có thể bao gồm toàn thể loài người; xã hội nhỏ nhất có thể nhỏ tới chỉ có sự kết hợp của 2 người trở lên.

Bởi thế, gia đình là cơ sở của xã hội, xã hội là gia đình mở rộng. Gia đình nhỏ nhất có thể nói đến như sự kết hợp của 2 người là vợ và chồng, xã hội có thể lớn như cả tổ chức của toàn loài người, cho tới thế kỷ vũ trụ tương lai, có thể bao gồm cả loài người trong hệ tinh cầu. Cho nên, hàm nghĩa của xã hội không chỉ hạn chế trong không gian và thời gian.

Nhìn từ lập trường của Phật giáo, phạm vi hoạt động của một người cư sĩ tại gia có thế rộng lớn hơn rất nhiều so với tăng lữ xuất gia, xã hội mà họ lệ thuộc cũng phức tạp hơn rất nhiều so với tăng lữ xuất gia. Cho nên, lấy cư sĩ để nói về cuộc sống xã hội là điều tất yếu. Một cư sĩ trong gia đình có rất nhiều tư cách: Đối với cha mẹ thì là con cái, đối với con cái thì là cha mẹ; đối với các em thì là anh chị, đối với anh chị thì là em; đối với vợ/chồng thì là chồng/vợ; đối với cha mẹ của cha mẹ, đối với con cái của con cái, cho tới người thân của người thân .v.v., đều có vị trí tư cách khác nhau. Từ một gia đình mở rộng ra thành một gia tộc, và mở rộng ra ngoài gia tộc là xã hội: Đối với thầy giáo thì là học sinh, đối với học sinh thì là thầy giáo; đối với cấp trên thì là cấp dưới, đối với cấp dưới thì là cấp trên; đối với Chính phủ thì là nhân dân; đối với đoàn thể thì là đoàn viên, đảng viên, xã viên, hội viên; và còn bạn bè của bạn bè, người có quan hệ của người có quan hệ .v.v., đều là nhân tố hình thành hình thái xã hội. Một cư sĩ sống trong quan hệ xã hội phức tạp như thế. Một người thực hiện Bồ Tát đạo lý tưởng thì rất vui vẻ sống trong quan hệ xã hội phức tạp như thế. Bởi vì, có quan hệ thì mới có cơ hội tiếp xúc, có được cơ hội tiếp xúc, thì mới có thể hướng dẫn họ quy hướng về nơi nương tựa duy nhất là con đường giải thoát – Tam bảo Phật Pháp Tăng.

Nhưng muốn độ chúng sinh, chỉ dựa vào sự cuồng nhiệt đối với Tôn giáo thì không có tác dụng. Cuồng nhiệt đối với Tôn giáo đương nhiên có thể khiến mọi người có dũng khí lao vào nước sôi lửa bỏng, đi tuyên truyền, biện luận, xung phong, xông pha, chiến đấu, hy sinh, nhưng nhất định không thể duy trì lâu dài, cũng nhất định không thể sản sinh ảnh hưởng tốt một cách sâu xa.

Phật giáo lấy việc phục vụ xã hội làm tượng trưng cho Bồ Tát đạo. Đức Phật trong vô số các kiếp về trước, với rất nhiều tư cách, rất nhiều hình thái, rất nhiều phương thức, đi sâu vào trong các loại đoàn thể, mỗi lần đều có thể ở vương vị. Vương nghĩa là lãnh tụ, những địa vị lãnh tụ ấy không phải dùng vũ lực mà đạt lấy, mà đều là lấy giá trị đạo đức phục vụ đại chúng mà chiêu cảm được như vậy. Cho nên chỉ có người thực sự mưu cầu hạnh phúc cho đại chúng thì mới có đủ tư cách nhất để làm người lãnh tụ của đại chúng, mới là người có thể được đại chúng một lòng quy thuận và phục vụ một cách trung thành vui vẻ. Bằng không, đó không phải là vương, mà là tặc, là trộm, là phỉ, là cú vọ!

Cho nên, một người cư sĩ lý tưởng tuy không nhất thiết trong bất kỳ trường hợp nào cũng xuất hiện với tư thế là người lãnh đạo, nhưng chí ít họ là người được đón nhận trong bất kỳ trường hợp nào, và là người nhận được sự tôn kính trong bất kỳ trường hợp nào. Chỉ tiếc rằng, theo tôi được biết, có những cư sĩ sau khi tin Phật học Phật thì lại xa cách, lạnh nhạt, xa cách với quan hệ xã hội của họ, lạnh nhạt, ngăn cách, thậm chí bị người ta cho là quái vật cô độc, thờ ơ, không có tình có lý. Đương nhiên, đó là do bởi lòng thiết tha mộ đạo của họ, họ nhất tâm hướng về cuộc sống xuất thế, đi lên con đường giải thoát, cho nên đã dần dần tách rời, không thể nối kết với quan hệ xã hội của họ. Nhưng tôi cần phải nói cho quý vị nghe, đó không phải là thái độ nên có của một vị cư sĩ, cư sĩ tu đạo cũng không nên như vậy. Cho dù là người xuất gia, đương nhiên nên lãnh đạm với các danh lợi vật dục, song đối với công ích xã hội vẫn phải nhiệt tình. Trên thực tế, trong lịch sử Phật giáo, phàm là người có thành tựu lớn, chứng quả vị lớn, đối với đại chúng xã hội đều là người nhiệt tình nóng bỏng. Loại nhiệt thành này là từ bi – là sự thể hiện của tâm Bồ Đề.

Tin Phật học Phật là vì phát tâm Bồ Đề, các cư sĩ sau khi tin Phật học Phật, ngược lại buông bỏ tâm Bồ Đề, thì chẳng phải đi ngược đường hay sao? Ở mức tối thiểu, một vị cư sĩ không nên là kẻ khiến người ta ghét bỏ. Nếu không, họ đã không làm tròn nghĩa vụ của mình, thậm chí là còn làm ô nhục chức vụ mà mình nắm giữ! Nếu đã không làm tròn chức trách, mà vẫn hưởng thụ sự đãi ngộ và quyền lợi của chức trách, thì đó là một loại nợ nần, là một loại tạo tội, là một loại nhân quả! Đó tuyệt đối không phải là bản sắc của một vị cư sĩ. Trên thực tế, con người có quyền lợi trong cuộc sống, tất nhiên cũng có nghĩa vụ đối với cuộc sống, cho dù là người xuất gia cũng không ngoại lệ. Bản sắc của một người tín đồ Phật giáo phải làm tròn nghĩa vụ, ít hưởng thụ quyền lợi, mới có thể khiến người khác yêu mến. 

Vì thế, Đức Phật vì yêu cầu thống nhiếp tất cả các đoàn thể (xã hội), mà nói 4 loại hạng mục đạo đức, được gọi là Tứ nhiếp Pháp. Nhiếp là thống nhiếp và nhiếp thọ, cũng có nghĩa là lãnh đạo hoặc hóa đạo. Tứ nhiếp Pháp có nghĩa là 4 phương pháp xử thế mà một nhân vật lãnh đạo không thể thiếu, thiết thực làm tốt công tác Tứ nhiếp Pháp, thì có thể cảm hóa quần chúng, cũng có thể lãnh đạo quần chúng. Nội dung của Tứ nhiếp Pháp như sau:

1. Bố thí

Tính quan trọng của bố thí vô cùng lớn, các hạng mục đạo đức có liên quan đến xã hội con người của Phật giáo, đều chú trọng bố thí, phàm là các hạng mục đạo đức có liên quan đến cư sĩ, đều khuyến khích bố thí, cho nên trong “Ưu Bà Tắc Giới Kinh” tuy có liệt kê Lục độ, nhưng lại đặc biệt chú trọng tán dương nhiều lần đối với nhất độ bố thí. Bởi vì chỉ có bố thí mới có thể khiến cho sự giàu nghèo của xã hội có được sự điều tiết thích hợp, cũng chỉ có bốt thí mới có thể biểu đạt tốt nhất về tinh thần từ bi của Phật giáo. Người bình thường đã hiểu lầm ý nghĩa ban đầu của bố thí, mà cho rằng đó danh xưng của thí chủ là từ chuyên dùng của cư sĩ đối với nhà chùa. Trên thực tế, đem tiền cúng Tam bảo tốt nhất gọi là cung kính cúng dường, cứu tế người nghèo khổ bệnh tật, mới đúng nghĩa là bố thí. Cư sĩ bố thí tài vật, có thể được gọi là thí chủ, Tăng Ni bố thí Phật Pháp, thì sao không được gọi là thí chủ? Cũng không trách, Tăng Ni đời mạt thế đa số chỉ biết khuyên thỉnh cư sĩ bỏ tiền cho nhà chùa; còn đối với việc tích cực khuyến khích làm sự nghiệp công ích Phật giáo thì lại làm được rất ít, đây chính là một vấn đề lớn của Phật giáo Trung Quốc từ đây về sau!

Bố thí là một loại phước nghiệp, Phật chia đối tượng của phước nghiệp làm 8 loại, được gọi là Bát phước điền, đó là: Phật, Thánh nhân (là Thánh giả Đại Tiểu Thừa chưa đăng Phật vị, Tiểu Thừa sơ quả trở lên, Đại Thừa sơ địa trở lên), hòa thượng (thân giáo sư – người chủ trì khi người xuất gia thọ giới), A Xà Lê (quỹ phạm sư──là thầy dạy đọc, thầy y chỉ, giới sư, thầy quy y .v.v.), Tăng bảo, cha, mẹ, người bệnh. Trong 8 loại phước điền này, cư sĩ tại gia phải trọng cha mẹ hàng đầu, tiếp đến là Phật, Thánh nhân .v.v..., không cúng dường cha mẹ mà cúng dường Tam bảo, đó là điều mà Phật không hề hy vọng. Nhưng trong “Kinh Phạm Võng” lại nói: “Phật tử, nếu thấy người bệnh, cần phải cúng dường, như đối với Phật; trong bát phước điền, khám bệnh phước điền, là phước điền thứ nhất.” Đó là khuyến khích mọi người làm nhiều sự nghiệp cứu tế. Cúng dường Tam bảo đương nhiên quan trọng, cứu tế người trong sinh tử bệnh tất nghèo khó cũng rất quan trọng. Bình thường ngoài cha mẹ, thì cúng dường Tam bảo là hàng đầu; gặp phải trường hợp đặc biệt, nếu có đủ sức, nên lấy việc cứu tế người nghèo khổ nguy cấp làm hàng đầu. Đó là điều mà các cư sĩ cần phải hiểu rõ.

2. Ái ngữ

Ái ngữ không phải là nói chuyện tình cảm, cũng không phải nịnh nọt hay nịnh bợ, mà là dùng thái độ ôn hòa vui vẻ đàm luận với người khác, đó là do thể hiện tự nhiên của từ tâm. Bởi vì Bồ Tát nhìn chúng sinh không có một ai không phải là chí thân cốt nhục của mình, không có một ai không phải là đại thiện tri thức, không có một ai không phải là Phật tương lai. Cho nên chỉ có kính và yêu mà thôi. Ái ngữ mà Phật giáo nói đến không chỉ là kỹ năng nói chuyện không thôi, mà là nói chuyện một cách chân thành khẩn thiết, hòa nhã hòa hợp, cảm động lòng người. Đó là một loại thọ dụng, một loại trí tuệ, một loại tu dưỡng sau khi có được lợi ích thực sự của Phật hóa. Ví dụ, an ủi người khổ nạn, khuyến khích người thất bại, tán dương người thành công, khích lệ người kém cõi khó dạy (nếu cần thiết cũng có thể lên án để đạt được mục đích khích lệ) v.v... Sự đàm thoại hòa hợp vui vẻ mà khẩn thiết, luôn được mọi người tiếp đón, đàm thoại như vậy có thể tạo ra sự vui vẻ an lạc, tiến bộ, an ninh của xã hội. Chúng ta biết rằng, người khéo hòa giải tranh chấp nhất ắt là người lãnh đạo thích hợp nhất, chí ít cũng là người được hoan nghênh nhất. Lỡ gặp phải người khó lý luận, thì cũng đành phải để kệ họ, không nên miễn cưỡng.

3. Lợi hành

Lợi hành là mưu cầu và xúc tiến cho lợi ích chung của đoàn thể, dùng danh từ hiện đại thì là phục vụ vì xã hội. Quan viên do dân bầu thời hiện đại, khi cạnh tranh bầu cử cũng đều nói là vì phục vụ quốc gia, phục vụ nhân dân, phục vụ xóm làng .v.v. Trên thực tế cũng thực sự phải như vậy, chúng ta ở bất kỳ một đoàn thể nào cũng có thể thể nghiệm được, phàm là người nghĩ cho lợi ích của đoàn thể và giúp đỡ mọi người giải quyết khó khăn nhiều nhất, tất nhiên cũng là người được mọi người kính trọng, một người lãnh đạo vĩ đại tất nhiên có cống hiến đối với xã hội của mình – phục vụ.

4. Đồng sự

Đồng sự nghĩa là hòa nhập bản thân vào xã hội đang sinh sống, biến mình trở thành con người chung của xã hội, thay đổi chính mình theo nhu cầu của xã hội, trở thành một người mà xã hội cần thiết. Thế tôn Thích Ca khi còn ở giai đoạn Bồ Tát thường tùy loại ứng hóa, 32 ứng thân của Bồ Tát Quan Thế Âm, đều là điển hình tốt nhất của đồng sự. Nhưng hòa nhập mình vào xã hội không có nghĩa là làm tiêu tan chính mình theo cảm nhiễm của xã hội. Mục đích hòa nhập vào xã hội là vì lãnh đạo xã hội, cảm hóa xã hội. Cho nên Thiền sư Đạo Nguyên của Nhật Bản giải thích định nghĩa của đồng sự là: “Trước tiên làm cho mình giống họ, sau đó thì làm cho họ giống mình.” (“Chính Pháp Nhãn Tạng.Tứ Nhiếp Pháp Quyển”).

Tóm lại, Tứ nhiếp Pháp là hạng mục đạo đức không thể thiếu trong sinh hoạt xã hội, nhỏ như một gia đình, lớn như cả loài người, nếu có thể thực hiện được bao nhiêu thì ắt có hiệu quả lớn bấy nhiêu. Một người cư sĩ phải tùy bổn phận tùy sức lực mà làm, mới không đến nỗi bị người ngoại đạo hiểu lầm tín đồ Phật giáo là kẻ tiêu cực chạy trốn thế gian, thì mới có thể tiến thêm một bước hóa đạo xã hội để tịnh hóa xã hội của chúng ta.

 (IX) Cuộc sống Tôn giáo của cư sĩ

Nhìn từ Thánh điển nguyên thủy A Hàm Bộ và Luật Bộ, cuộc sống Tôn giáo của cư sĩ cũng là sinh hoạt trong Tam quy, Ngũ giới, Bát chánh đạo, Ngũ Pháp cụ túc, Tứ nhiếp Pháp, sự khác nhau giữa cuộc sống của cư sĩ và người thường nói chung cũng được thể hiện từ trong việc thực hành hạng mục đạo đức này, những hạng mục đạo đức này như phần trên đã nói qua.

Còn điều chưa đề cập đến là vấn đề tu trì đạo giải thoát. Đạo giải thoát không rời giới, định, tuệ, có thể tham khảo ‘Tu trì đạo giải thoát như thế nào’ trong sách “Học Phật tri tân”, để có được một khái niệm chính. Ở đây sẽ không giải thích thêm.

Nhưng trong cuộc sống thường nhật của một người cư sĩ hàng ngày chí phải bỏ ra khoảng thời gian để đem toàn bộ thân tâm giao cho tín ngưỡng của mình, nếu có thể định giờ định lần là tốt nhất, chí ít không được ít hơn 2 lần mỗi ngày, như vậy mới có thể đạt được sức mạnh của tu trì. Phù hợp với sinh hoạt của bản thân, lễ Phật, tĩnh tọa, tụng Kinh, niệm Phật (nếu môi trường ồn ào, quán tưởng niệm nhẩm cũng được), sám hối (bao gồm tự xét một cách không thương xót, chí thành khẩn thiết hối lỗi, và cảm ngưỡng đối với ân đức của Tam bảo), chọn 1-2 loại làm thời khóa hàng ngày, nhưng hạng mục sám hối không được thiếu. Chỉ có không ngừng sám hối thì mới có thể không ngừng sửa đổi, thì mới có thể không ngừng đi lên con đường thành Phật; chỉ có ngày ngày sống trong cảnh giới mới của “hôm nay làm đúng, hôm qua làm sai” thì mới có thể thay đổi khí chất, thì mới là người có hy vọng mới, có phát hiện mới nhất. Kinh nghiệm Tôn giáo của người xưa thường đạt được từ trong sám hối. Sám hối không nhất thiết cần nghi thức, quỳ, ngồi, đứng đều có thể được. Nhưng trong giờ thực hành thời khóa này, nhất định phải buông bỏ vạn duyên, nhất tâm quy mệnh, cho dù ít đến mỗi ngày chỉ có vài phút, song hành trì lâu ngày, ngày tháng qua đi, ắt sẽ có hiệu nghiệm khả quan; chí ít thì đối với cảnh giới nhân sinh sẽ vui tươi rộng mở. Đó cũng chính là công phu thực hành đạo giải thoát.

Nếu nhân duyên thời cơ cho phép, nên nghĩ cách giam gia nhiều Pháp hội dài hạn hơn trong chùa, toàn lực tinh tấn. Nhưng cũng không được chỉ dựa vào việc tham gia Pháp hội, bằng không thì sẽ thành buổi đực buổi cái, không có tác dụng.

Cư sĩ nếu hy vọng ăn chay, thì rất tốt, nhưng quý vị nhất định phải hỏi ý kiến của người nhà và phải được họ hết sức thông cảm; nếu hy vọng thọ trì Bát quan trai vào sáu ngày Trai hàng tháng, thì quý vị ít nhất nên hỏi trước ý kiến và sự đồng ý của chồng hoặc vợ mình. Bằng không, vì học Phật mà khiến gia đình mất đi sự hòa thuận vui vẻ, đó là điều không nên.

Tóm lại, một cư sĩ phải là một người thực hành Bồ Tát đạo, trước hết phải thay đổi khí chất của bản thân, tiếp theo là Phật hóa gia đình, sau đó là Phật hóa xã hội. Cư sĩ phải hộ trì Tam bảo, không được hủy báng Tam bảo.

(Bài viết này được viết dưới sự yêu cầu của Văn phòng văn hóa Phật giáo, từng in ấn 2 lần đơn hành vào năm 1964 và 1965, ghi chép tại “Học Phật tri tân”.)

III. Cư sĩ tại gia học Phật như thế nào?

(I) Phật học và học Phật

Rất nhiều người cho rằng Phật học rất khó hiểu, bởi vì danh từ mang tính chuyên môn rất nhiều, Kinh điển rất nhiều, Luận thư rất nhiều, môn phái tư tưởng giáo lý cũng rất nhiều, người mới bắt đầu vào cửa Phật rất có hứng thú và hy vọng nhưng lại gặp khó khăn vì không biết chọn lựa như thế nào. Cho dù là học giả chuyên nghiên cứu Phật học cũng khó tìm được mấy người tinh thông toàn bộ Phật học và hoàn toàn không có nghi vấn. Bởi thế hai chữ Phật học đối với người thường nói chung thực sự là một môn học vấn rất thâm sâu.

Thực ra, giáo chủ Phật Thích Ca Mâu Ni của chúng ta tuyên giảng Phật Pháp là phương pháp làm thế nào để thành Phật mà chính Ngài tự mình chứng được nói cho chúng ta biết. Mục đích của Ngài là hy vọng tất cả mọi người đều có thể tu học theo phương pháp mà Ngài đã dạy, mà không kỳ vọng giáo nghĩa của Ngài bị coi là một thể hệ triết học, cũng không hề hy vọng các học giả coi Phật Pháp mà Ngài đã chứng thành một môn học thuật, để trong phòng nghiên cứu và thư viện cho mọi ngời dùng làm phương pháp khoa học đi nghiên cứu. Cho nên, từ lý luận căn bản của Phật giáo mà nói, chỉ có học Phật, không có Phật học.

Học Phật là mục đích của tín ngưỡng Phật giáo, chỉ có học Phật mới có thể chuyển phàm thành Thánh cho tới thành Phật; Phật học là một môn nghiên cứu khoa học nhân văn, nó có thể nói cho chúng ta biết những diễn biến của Phật giáo ở mỗi hình thái, mỗi khu vực, và sự phát triển về tư tưởng của Phật giáo, cũng có nghĩa là phân tích và khảo sát lịch sử giáo đoàn và lịch sử giáo lý của Phật giáo trên các góc độ khác nhau, mà coi là khảo cổ học, xã hội học, văn học và triết học của Phật giáo, nó không chịu trách nhiệm khuyên người tín ngưỡng và thực hành Phật giáo.

Mọi người nói chung đều cho rằng Phật giáo khó hiểu, có lẽ là chỉ Phật học, chứ không phải là học Phật. Bởi vì Phật Thích Ca Mâu Ni đương thời tuyên thuyết Phật Pháp với các đệ tử, nếu như khó hiểu, thì giáo hóa của Ngài không thể phổ cập đến các tầng lớp khác nhau; cho dù là trong thời hiện đại, so với Kinh Phật nguyên thủy, chúng ta vẫn có thể thấy được giáo nghĩa của Phật Thích Ca Mâu Ni tương đối giản dị, và có quan hệ mật thiết với hành vi trong cuộc sống của con người nói chung. Cho nên, tôi dám khẳng định với quý vị rằng, học Phật rất dễ hiểu, mọi người cho rằng khó hiểu là chỉ Phật học.

Phàm là một sự việc có lịch sử lâu đời, những thứ tích lũy trên nó ắt sẽ ngày càng nhiều, làm sạch những thứ chồng chất đó là một môn học vấn thâm sâu, nhưng nếu từ trong những thứ chồng chất này tìm ra phương pháp đơn giản nhất, căn bản nhất, bình dị nhất để chúng ta thực hành thì đó là công tác của học Phật. Nhưng để thực hiện công phu tìm kiếm này cũng không phải người thường có thể làm được. Đây là trách nhiệm của người làm tu sĩ chúng tôi, các tu sĩ phải tìm ra phương pháp học Phật dễ hiểu từ trong Phật học khó hiểu, để nói cho quần chúng rộng lớn và tín đồ Phật giáo nghe.

Bởi thế, chúng ta cần phải làm rõ, Phật học tuy khó, nhưng học Phật thì lại dễ dàng. Nghiên cứu Phật học tuy không phải là mục đích thiết lập giáo lý của Phật Thích Ca, nhưng đứng ở lập trường của văn học, làm nghiên cứu mang tính học thuật về Phật giáo vẫn đáng được khuyến khích. Song, đối với rộng rãi tín chúng mà nói, Kinh Phật không phải để làm nghiên cứu, mà là dạy quý vị thực hành làm theo, thực hành giáo nghĩa của Phật, thì đó gọi là học Phật.

 (II) Phương pháp học tập thành Phật

Phật giáo không phải là Tôn giáo Duy vật luận, nhưng lại là Tôn giáo vô Thần luận. Không giống như Tôn giáo nhất Thần luận khác – họ mặc dù cũng có giáo huấn đời sống đạo đức, nhưng đó là vì cầu được Thần ban phước và cứu tế, các tín đồ mới tuân thủ những khởi thị của Thần, bởi vì họ tin vào Thần được ghi chép trong Kinh điển mà họ tin đó là Thần duy nhất, chí cao, chí đại, chí tôn giữa vũ trụ, mọi người ngoại trừ tiếp nhận khởi thị của Thần, thì không còn con đường nào có thể chọn lựa. Cho nên họ vì tin Thần mà họ tín ngưỡng là có quyền uy, nên tuân thủ những giáo huấn sinh hoạt đạo đức, họ không có quyền bởi tuân thủ đời sống đạo đức để cầu đạt đến địa vị giống như Thần, thậm chí cũng không có quyền yêu cầu Thần phải cứu vớt họ đến Thiên quốc bằng được.

Điều này rất khác với Phật giáo. Phật giáo cho rằng môi trường tự nhiên mà chúng ta đang sống là do nghiệp lực của mỗi một người sống trong môi trường này cảm ứng được, cũng có nghĩa là: Chúng ta trong vô số sinh tử ở quá khứ đã tạo ra những hành vi tương đồng tương tự; kết quả, hình thành một môi trường tự nhiên để chúng ta cùng tiếp nhận và sinh tồn. Cho nên Phật giáo không thừa nhận trong vũ trụ có bất kỳ vị Thần có quyền uy tuyệt đối nào.

Phật giáo cũng nhấn mạnh sự quan trọng của tín ngưỡng, đó là tín ngưỡng Pháp mà Đức Phật Thích Ca đã nói – phương pháp thành Phật, tuyệt đối chính xác, tuyệt đối chân thực. Sau khi quý vị tín ngưỡng, nên thực hành phương pháp mà Đức Phật đã dạy áp dụng vào trong cuộc sống thường nhật của mình. Bởi thế, tín đồ Phật giáo tuy coi Đức Phật là đối tượng sùng bái, nhưng có quan hệ mật thiết với đời sống của họ có thể nói là giáo Pháp của Đức Phật. Làm theo phương pháp trong cuộc sống thường nhật mà Đức Phật đã dạy, dần dần có thể đạt đến mục đích giải thoát toàn bộ đau khổ của thân tâm.

Đức Phật là người đã đạt được giải thoát từ trong tất cả đau khổ của thân tâm, cũng là nhân cách vĩ đại chí cao, chí đại, chí tôn siêu thế giới và siêu vũ trụ, nhưng sự vĩ đại của Đức Phật tuy tràn đầy ở thời gian và không gian, nhưng lại không chiếm vị trí thời gian và không gian cố định nào, cho nên người người có thể thành Phật.

Thời Đức Phật Thích Ca còn tại thế, Ngài tùy duyên khai thị, ứng cơ giáo hóa, Phật Pháp mà Ngài đã nói thì có rất nhiều, song quy nạp lại không ngoài phạm vi của ba hạng mục là giới, định, tuệ, chúng ta học Phật, thực ra là học ba hạng mục này. Những thứ cần học trên thế gian có rất nhiều, những thứ đó đều là sự đối lập giữa khổ và lạc, có hạn, được mất luân phiên, biến động vô thường, cho nên Phật giáo gọi đó là “hữu lậu chi học”. Giới, định, tuệ tên là “tam vô lậu học”, học ba mục này có thể phòng ngừa sự rò rỉ thành quả đã đạt được, tiếp tục học cho tới trình độ thành Phật mới thôi. Tuy phân thành ba hạng mục là giới, định, tuệ, song trên thực tế có quan hệ dây chuyền, giống như ba điểm tựa của một vật, không thể thiếu mất một cái. Muốn cầu được trí tuệ, trước hết phải có công phu của thiền định, nếu hy vọng đạt được công phu thiền định, trước hết phải có đời sống Tôn giáo trì giới; đời sống Tôn giáo trì giới càng thanh tịnh, thì càng có thể trợ giúp cho thiền định cao thâm, trong định sâu có thể sản sinh trí tuệ hơn người; rồi mới quay lại dùng trí tuệ phán đoán và chọn lựa, để hướng dẫn đời sống Tôn giáo trì giới, để phân biệt sự nông sâu và tà chính của công phu thiền định.

 (III) Giới

Định nghĩa của giới là: Có điều không được làm, có điều không được không làm, bao gồm các ý nghĩa như khuyên bảo, khuyến cáo, cảnh cáo, hướng dẫn. Người thông thường chỉ cho rằng giới của Phật giáo là phòng ngừa phạm tội một cách tiêu cực, trên thực tế, đó chỉ là đối với điều không được làm. Điểm này đương nhiên quan trọng, đứng ở lập trường của Phật giáo Đại Thừa, thái độ tích cực của điều không được không làm càng quan trọng hơn. Các hành vi tổn người lợi mình và tổn người không lợi mình, thì tín đồ Phật giáo không được phép làm, đó là yêu cầu tiêu cực; các hành vi tự lợi lợi tha cho đến tổn mình lợi tha, tín đồ Phật giáo không được không làm, đó là yêu cầu tích cực.

Một người mới tin Phật giáo, nên làm được yêu cầu của điểm thứ nhất, người tin Phật học Phật đã lâu, phải từ điểm thứ nhất phát triển đến điểm thứ hai, điểm thứ nhất là ngừng ác, điểm thứ hai là hành thiện; ngừng ác là tự lợi, hành thiện là lợi tha, nếu đã có được cơ sở của tự lợi, mà không thúc đẩy sự nghiệp lợi tha, thì không thể đạt đến mục đích thành Phật. Bởi vì nội dung của giới là từ hành vi phàm phu “tham”, “sân”, “si”, tịnh hóa mà chuyển biến thành hành vi Thánh giả “hỷ xả”, “từ bi”, “trí tuệ”.

Giới của Phật giáo tuy phân biệt xuất gia và tại gia, nhưng yêu cầu phức tạp và đơn gian khác nhau, đối với cư sĩ tại gia mà nói, có năm điều là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, được gọi là Ngũ giới. Những điều này giống với các Tôn giáo khác, phàm là người tuyên thệ tín ngưỡng Phật giáo, từ khi mới bắt đầu tiếp nhận tín ngưỡng Phật giáo thì cũng đã tiếp nhận Ngũ giới như là tiếp nhận hành vi tiêu chuẩn của tín đồ Phật giáo. Bởi vì Ngũ giới là cai trừ ba loại hành vi tâm lý “tham”, “sân”, “si” do biểu hiện cụ thể của chân tay và miệng lưỡi trên cơ thể tạo ra, tuy là giới của người tại gia, trên thực tế cũng là tiêu chuẩn cơ bản của tất cả các giới của Phật giáo. Đức Phật là người hoàn mỹ rốt ráo về nhân cách, nếu không có cơ sở nhân cách hoàn mỹ thì không thể thành Phật, bởi thế Ngũ giới của Phật giáo cũng là yêu cầu chung của đời sống đạo đức nhân loại.

1.Không sát sinh: Cấm sát sinh của Phật giáo tuy có liên quan đến chủ nghĩa ăn chay , nhưng lại không phải là chủ nghĩa ăn chay. Phật giáo khuyến khích ít ăn thịt động vật cho tới không ăn thịt động vật, là yêu cầu trên cơ sở không sát sinh. Nếu không phải tự tay mình giết, không phải đặc biệt vì bản thân muốn ăn thịt mà kêu người khác giết, không phải người khác vì mình muốn ăn thịt mà giết, thì không cấm. Hơn nữa, giới cấm sát sinh của Phật giáo đương nhiên vì tâm từ bi bảo vệ tất cả các sinh mạng, song chủ yếu vẫn là không được giết người. Giả dụ nếu quý vị không dự định trong tương lai sẽ giết người, hy vọng trong tương lai không phạm tội giết người, điều cấm sát sinh này phải được thọ trì.

2. Không trộm cắp: Ngoài phương pháp mưu sinh chính đáng, có được thù lao lợi nhuận hợp pháp ra, không tham lấy tiền tài bất nghĩa, chính là định nghĩa của không trộm cắp. Để cảnh tỉnh chúng ta, không được tham lam thứ nhỏ nhặt, có vướng víu tiền bạc không rõ ràng với người khác, mà biến thành hành vi phạm tội nuốt công quỹ, nhận hối lộ, xâm chiếm tài vật của người khác, giới điều này phải được thọ trì.

3. Không tà dâm: Ngoài vợ chồng chính thức có quan hệ nam nữ chính đáng ra, không loạn luân, không phá hoại gia đình người khác, không làm nhục vợ người khác, không làm hỏng văn hóa xã hội. Tóm lại, coi quan hệ nam nữ là trách nhiệm và nghĩa vụ giữa vợ chồng, là định nghĩa không tà dâm. Để duy trì bảo vệ sự hòa thuận vui vẻ của gia đình, hạnh phúc của con cái, an ninh của xã hội, sức khỏe của bản thân, giới điều này phải được thọ trì.

4. Không nói dối: Điều này có thể chia làm 2 loại lớn nhỏ, nói dối nói chung, nói đùa, là tiểu vọng ngữ. Vì danh lợi, tuy bản thân không phải là Thánh giả mà giả xưng là Thánh giả, là đại vọng ngữ. Cư sĩ tại gia tự xưng là Thánh giả không phải là không có, song khả năng là rất ít. Bởi thế, các vị cư sĩ cũng có thể thọ trì giới điều này. Huống hồ, để cảnh tỉnh chúng ta không được trở thành người gây nên chuyện thị phi, không được bị người khác coi là người không đáng tin cậy và người nói năng không biết suy nghĩ, giới điều này cũng phải được thọ trì.

5. Không uống rượu: Bản thân rượu không có tội ác, người uống rượu cũng không nhất định là kẻ xấu, thậm chí trên thế giới có rất nhiều Tôn giáo lấy rượu làm trung gian giữa người và Thần. Cấm rượu là một trong những đặc sắc của Phật giáo, nguyên nhân là uống rượu có thể khiến tâm trí con người mê mờ, nếu quá lượng thì có thể khiến con người rơi vào trạng thái cuồng loạn như thú hoặc ngu si như đất.

Phật giáo là Tôn giáo nhấn mạnh cầu trí tuệ, mà tính chất của rượu và nguyên tắc trí tuệ là hai đối ngược nhau, cho nên chủ trương cấm uống rượu. Trên thực tế, cũng chỉ có người không uống rượu mới có thể luôn duy trì sự minh mẫn của đầu óc. Trong xã hội ngày nay, đầu óc thêm một phần minh mẫn, thì sẽ thêm một phần khả năng thành công, nếu đã yêu cầu trước khi điều khiển công cụ giao thông không được uống rượu, trước khi diễn ra Hội nghị quan trọng không được uống rượu, trước khi xem xét các chính sách trọng đại không được uống rượu, thì sao không cai rượu một cách dứt khoát cho rồi?

Tham, sân, si được gọi là “tam độc” so với tam vô lậu học là giới, định, tuệ, do bởi ba loại độc làm hại khiến chúng ta không dễ hành thiện, cho dù có hành thiện thì cũng không lâu bền, không thể đạt tới trình độ thuần khiết, ba độc này giống như ba lỗ hổng lớn, có thể làm trôi mất công đức của hành thiện, để bù đắp lỗ hổng lớn này, duy nhất chỉ có tu học tam vô lậu học. Điều trước nhất để tu học là trì Ngũ giới, có thể trì Ngũ giới, chí ít có thể kìm hãm khói độc của tam độc, sau đó dùng thiền định và nước trí tuệ dập tắt triệt để ngọn lửa tam độc.

Ngũ giới tiêu trừ 5 hành vi ác, quan hệ tương hỗ giữa 5 hành vi ác và tam độc tức là quan hệ tương hỗ của thân, khẩu, nghiệp, có thể dùng biểu đồ để giải thích:

Biểu đồ:

Từ 3 loại hành vi tâm lý thâm, sân, si, biểu hiện thành động tác của thân và khẩu, thì sẽ trở thành 5 hành vi ác. Công năng của Ngũ giới là từ việc cấm chỉ các động tác bên ngoài của thân và khẩu, khiến cho hoạt động tâm lý của tam độc không có cơ hội biểu hiện ra ngoài, đồng thời dùng công phu của thiền định khiến nó lắng lại, lại dùng trí tuệ để quan sát, phân tích, dần dần khiến cho nó chuyển biến thành sức sống của hỷ xả, từ bi, trí tuệ. Đây là định nghĩa của giới: Từ “điều không được làm” làm được đến “điều không được không làm”. Quan hệ trước sau của nó cũng có thể dùng biểu đồ để giải thích thêm:

(IV) Định

Đặc tính của tham, sân, si là từ hoạt động của tâm lý mà biểu hiện ra động tác của thân và khẩu, rồi mượn động tác của thân và khẩu trút vào đối tượng người, sự, vật. Chức năng của giới là ràng buộc động tác của thân và khẩu; chức năng của định là kéo các hoạt động tâm lý phát tán ra ngoài trở về trong nội tâm, và khiến cho nó yên tĩnh cho tới vật và mình hợp nhất, cho tới trạng thái tâm lý vật và mình đều không còn. Nhưng công phu của định phải được thực hành từ trong cuộc sống thường nhật. Nhân đây, tu học định có thể chia làm 9 điểm chính và 2 cấp bậc để giải thích thêm.

1. Cấp bậc thứ nhất – Chăm chỉ trong cuộc sống đời thường
 (1) Tín niệm kiên cố

Bất luận làm bất kỳ việc gì, không tin thì sẽ không thành công, sau khi hiểu rỗ lập trường và năng lực của mình, cũng sẽ biết được cái gì có thể làm và cái gì không thể làm. Việc không thể làm, không được khởi vọng niệm; việc có thể làm, nên  tự tin, dũng cảm tiến lên để làm. Đồng thời cần phải xem xét bản thân của sự việc đó có đáng để làm hay không, có cần nhất thiết phải làm hay không, cũng nên nghe thử lời khuyên của người khác. Nếu đã hiểu rõ sâu sắc sự việc đó, vậy thì, sẽ nhất định phải hoàn thành, nhất định có thể hoàn thành việc đó, cần xây dựng lòng tin. Sau khi có lòng tự tin và tin vào người khác, thì có thể vượt qua mọi khó khăn, trăm khó không sờn để tiến hành sự nghiệp của quý vị. “Chân thành chí tâm, đá vàng cũng mở”, tín niệm kiên cố, có thể sản sinh sức mạnh vô bờ.

(2) Suy nghĩ bình tĩnh

Trước khi làm một việc hoặc một nhiệm vụ nào, cần phải chuẩn bị kỹ, “Trung Dung” nói: “Dự tắc lập, bất dự tắc phế.” (Có chuẩn bị thì sẽ thành công, không có chuẩn bị thì sẽ thất bại) Thông thường mà nói, bắt đầu mà tốt thì đã thành công một nửa, muốn bắt đầu được thuận lợi thì trước khi làm việc bắt buộc phải có chuẩn bị kỹ. Trong giai đoạn chuẩn bị thì phải xem xét các bước thực hành và các tình huống có thể phát sinh. Trong quá trình tiến hành công việc, thì cần kiểm tra thường xuyên, kiểm điểm thiếu sót, chỉnh sửa sai lầm mọi lúc. Tình hình tốt thì phải nghĩ cách làm cho nó càng tốt hơn, tình hình xấu thì phải nghĩ cách cải thiện nó. Sức phán đoán và sức quyết đoán này đều đến từ việc xem xét một cách bình tĩnh.

 (3) Ngôn hành từ tốn

Nếu một người hy vọng được người khác coi là người có phẩm đức, có thể khiến người khác tôn kính và tin cậy, họ cần phải cẩn thận trong lời nói và hành động của mình, một người nói bậy nói càn và hành động bừa bãi thì không thể có được đánh giá tốt, đương nhiên cũng không thể làm được sự nghiệp cao cả, hay có được địa vị cao trong xã hội.

(4) Tinh thần tập trung

Bất luận làm bất kỳ việc gì, nếu tinh thần không chuyên chú, cho dù đã làm được thì cũng không kiệt xuất. Trung Quốc có một câu ngạn ngữ: “Ba mươi sáu ngành nghề, nghề nghề xuất trạng nguyên.” Nghĩa là: Công việc và nghề nghiệp không có phân biệt cao thấp giàu nghèo, nếu có thể toàn tâm toàn lực làm tốt bổn phận đối với công việc hoặc chức trách, đem cả thân tâm chăm chú vào đó, thì có thể khiến quý vị trở thành một người kiệt xuất nhất trong ngành nghề của mình.

2. Cấp bậc thứ hai – Nguyên tắc và bí quyết của ngồi thiền
 (1) Phương pháp tu hành kiên tín

Trước khi quý vị thực sự tiến hành ngồi thiền, đối với phương pháp mà quý vị đã học, nhất định phải có lòng tin tuyệt đối. Quý vị phải tin rằng Đức Phật không bao giờ lừa dối chúng ta, cũng phải tin vào thầy giáo hướng dẫn quý vị ngồi thiền, họ là con ngựa già biết đường từ kinh nghiệm bản thân đã từng trải nghiệm, quý vị là con ngựa nhỏ đi theo ngựa già, tuyệt đối sẽ không có vấn đề gì. Đương nhiên, ai là người thầy giáo đáng để quý vị tin cậy, điểm này rất quan trọng, nếu quý vị không đủ lòng tin với họ, bán tín bán nghi vào phương pháp hướng dẫn của họ, thì quý vị đừng học theo họ, bằng không sẽ có hại mà không có lợi cho quý vị.

(2) Suy nghĩ tình hình tu hành

Tu hành thiền định không thể không có công phu kiểm điểm và khảo sát. Cần phải chú ý mỗi lần ngồi thiền, những hiện tượng phát sinh trong sinh lý và tâm lý, có khi khiến quý vị cảm giác nhẹ nhàng thoải mái, có lúc khiến quý vị đau đớn khó chịu, có khi khiến quý vị vui mừng, có lúc khiến quý vị sợ hãi, những tình trạng  này rất có thể xảy ra đối với một người vừa mới học ngồi thiền. Nếu bản thân quý vị có thể hiểu rõ nguyên nhân của nó thì là tốt nhất; bằng không, quý vị phải thỉnh giáo thầy giáo của quý vị vào mọi lúc, họ sẽ giúp đỡ quý vị, khiến cho quý vị yên tâm để tiếp tục tu hành.

 (3) Điều thân

Biểu hiện công phu của định ở 3 phương diện là thân, khẩu, ý, cũng có thể được gọi là thân định, khẩu định, tâm định. Muốn đạt đến mục đích của 3 định này, thì phải bắt đầu với việc điều chỉnh chúng. Điều thân là khiến cơ thể hoàn thành một loại tư thể đúng đắn thích hợp với yêu cầu của thiền định.

 (4) Điều hơi thở

Khi ngồi thiền, hít thở phải từ từ, phải dài, phải đều.

 (5) Điều tâm

Thu nhiếp tâm niệm hướng ngoại ào ạt, trôi nổi và tán loạn lại, phương pháp đầu tiên là lấy suy nghĩ nhìn vào suy nghĩ, sau cùng thực tập đến khi suy nghĩ bị nhìn thấy không còn khởi phát, suy nghĩ có thể nhìn thấy cũng không còn nữa, biết rõ có sự tồn tại của tất cả các sự vật bên ngoài, còn nội tâm thì lại yên tĩnh không còn gợn sóng, giống như mặt kính của tấm gương tuy hiện ra các cảnh vật có động có tĩnh của bên ngoài, song bản thân mặt gương thì lại phẳng lặng bất động. Nhưng công phu này nói thì dễ mà làm được thì không hề dễ.

Người bình thường nói chung từ công phu ngồi thiền của cấp bậc thứ hai có thể đạt được 4 điểm công lực của cấp bậc thứ nhất. Nếu không có công phu của cấp bậc thứ hai, thì công lực của cấp bậc thứ nhất sẽ không thể mạnh lên được. Tuy tôi chia chúng làm 2 cấp bậc để giải thích, song thực ra chúng là một thể hai mặt. Đồng thời, tôi cũng thường nhấn mạnh với người theo tôi học thiền rằng, tĩnh tọa có 3 lợi ích: (1)Có thể khiến thân tâm mạnh khỏe, (2)có thể khiến đầu óc minh mẫn, (3)có thể khiến con người khai ngộ. Khai ngộ của nhập định đương nhiên không phải là việc dễ dàng, chí ít nó có thể làm khỏe mạnh cơ thể và tâm hồn của quý vị, kiên cố tâm lực của quý vị, trợ giúp sự nghiệp mà quý vị đang nỗ lực.

Bây giờ ghi chép lại “những điều cần biết về ngồi thiền” mà tôi đã định ra cho Hội ngồi thiền Chủ Nhật Hội Phật giáo nước Mỹ như sau, để cung cấp cho đọc giả có tâm tu tập tĩnh tọa tham khảo.

(V) Những điều cần biết về ngồi thiền

1. Chuẩn bị ngồi thiền
(1) Đệm ngồi

  Đệm ngồi mềm mại to rộng hình vuông và đệm ngồi hình tròn cao khoảng 4 cm, mỗi loại một chiếc.

(2) Nơi ngồi thiền

 Trong phòng sạch sẽ, yên tĩnh, nghiêm túc trang nghiêm.

(3) Thời gian

Buổi sáng khi tinh thần dồi dào, sau khi thức dậy rửa mặt súc miệng xong là tốt nhất. Mỗi ngày định giờ tiến hành, mỗi lần 20 phút cho tới 40-50 phút. Sau khi ăn no, uống no, quan hệ nam nữ, chơi thể thao mạnh, và khi mệt mỏi buồn ngủ, giữa trưa hoặc nửa đêm, đều không thích hợp ngồi thiền.

(4) Ăn uống

Mỗi bữa ăn no 8 phần là tốt nhất, sau khi ăn ngồi nghỉ 30 phút, mới bắt đầu ngồi thiền.

2. Phương pháp ngồi thiền
(1)Phương pháp điều chỉnh thân
  • ① Cách ngồi:
    • (A) Ngồi kết kiết già
      • (a) Cát tường tọa – Chân phải để lên trên đùi trái, rồi đặt chân trái lên trên đùi phải.
      • (b) Kim cang tọa – Chân trái đặt lên đùi phải, rồi đặt chân phải lên trên đùi trái.
    • (B) Bán kiết già tọa—Chân phải để dưới đùi trái, chân trái để lên đùi phải.
    • (C) Giao túc tọa—Hai chân trai phải tùy ý đặt bằng giao nhau.
    • (D) Ngồi trên ghế—Ngồi ngay ngắn trên ghế, hai chân để thõng xuống tự nhiên.
    • (E) Nhật Bản tọa—Hai đầu gối quỳ xuống, hai chân duỗi thẳng ra sau, ngón chân kê lên nhau, lưng thẳng đứng, mông ngồi lên trên hai gót chân.
  • ② Kiểu tay: Hai lòng bàn tay hướng lên, tay trái đặt lên tay phải, hai ngón cái nối nhẹ với nhau, ở giữa thành hình tròn.
  • ③ Tư thế cơ thể: Lắc trái phải mấy lần để xác định tư thể ổn định, cột sống thẳng đứng, cằm hướng vào trong.
  • ④ Tầm mắt:
    • (A) Nhắm mắt—Khi tinh thần dồi dào.
    • (B) Chú ý vào 1 điểm cách tầm mắt ở phía trước 1 mét—Khi cảm thấy buồn ngủ.
    • (C) Nhắm mắt và chú ý tầm mắt huán đổi sử dụng.
(2) Cách điều hơi thở

Sau khi ngồi xuống thở sâu mấy lần, lần cuối cùng hít vào đan điền (bụng dưới), thì trở lại hít thở bình thường.

(3) Cách điều tâm

Quán đếm hơi thở, sau khi điều hơi thở thì đếm từ 1 đến 10, lặp đi lặp lại đếm nhẩm số lần hít thở.

  • ① Quán hơi thở ra
  • ② Quán hơi thở vào

(VI) Tuệ

Tuệ bao gồm “tâm nhận thức” và “khả năng phân biệt quyết định” của phạm vi tri thức, tri thức không thể bao hàm nội dung của tuệ, từ tri thức có thể thăng hoa tới lĩnh vực của tuệ, Phật giáo không phải là Tôn giáo tri thức, mà là Tôn giáo khiến tri thức thăng hoa thành trí tuệ, đó là bởi vì ngoài khẳng định tri thức của thế gian ra, càng chú trọng kinh nghiệm “ngộ” vượt xa tri thức mà đạt được trí tuệ, trí tuệ chính là “tâm nhận thức” và “khả năng phân biệt quyết định” của siêu tri thức đạt được thông qua ngộ. Song, Tuệ có được tuy là ở ngộ, thì sự tìm kiếm tuệ vẫn không thể xa rời tri thức, nó có 3 bước mang tính liên hoàn “văn”, “tư”, “tu”:

1. Văn tuệ──Học tập khiêm tốn

Phương pháp mà tín đồ Phật giáo tu hành thành Phật được gọi là học Phật, người chưa đoạn tận phiền não, được gọi là “học nhân” ở tại “học địa”, và phải nhớ đọc 4 câu mỗi ngày: “Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, Pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.” Cũng có nghĩa là: Nếu quý vị có nguyện vọng thành Phật, thì quý vị nên đoạn hết tất cả các phiền não, cần cứu độ vô số chúng sinh. Làm thế nào để đoạn phiền não? Làm thế nào để độ chúng sinh? Vậy thì cần phải tu tập các loại phương pháp. Bởi thế, đối với tín đồ Phật giáo mà nói, ngày nào chưa thành Phật, thì ngày đó còn phải học tập, giả dụ lúc đầu quý vị là một người không có hứng thú học tập, sau khi quý vị có lòng tin đối với Phật giáo, thì sẽ nhất định học tập.

Phương thức học tập văn tuệ, là dùng chức năng của tai và mắt. Nghe người khai thị Phật Pháp, đọc giải Kinh luận, là dùng tai; tự mình đọc Kinh luận Phật giáo, nhìn đạo tràng Phật giáo trang nghiêm thiêng liêng và Tăng Ni uy nghi chỉnh tề, là dùng mắt. Những thứ đó, chỉ cần có thể khiến cho thân tâm quý vị đạt được một chút cho đến khá nhiều lợi ích, thì đều được gọi là văn tuệ. Cao hơn một chút, người có ngộ tính cao hoặc người tu tập Phật Pháp có được công phu tương đối, họ có thể học tập Phật Pháp từ trong việc tiếp xúc với các loại hiện tượng của giới tự nhiên , và cũng có thể học tập Phật Pháp từ việc tiếp xúc ứng đối bình thường giữa người với người , nhất là trong ghi chép của Thiền tông Trung Quốc, đặc biệt có rất nhiều những ví dụ này. Bởi thế Phật Pháp không nhất định là ở trong Kinh Phật, tất cả các sự vật, tất cả các hiện tượng trong thế gian mới là Phật Pháp chân thực. Song, mọi người mới đầu lý giải Phật Pháp thì cần phải thông qua giải thích của Kinh Phật.

2. Tư tuệ──Nghiên cứu kỹ càng

Đối với những thứ đã nghe thấy và đã nhìn thấy, cần phải bỏ công phu nghiên cứu để tiêu hóa chúng, coi những thứ mà quý vị học được từ các phương diện khác nhau là nguyên liệu chưa được xử lý, sau đó phân loại đánh giá theo trình độ lý giải của quý vị, tiếp nhận những gì mà quý vị cảm thấy thích hợp với trình độ của mình và trước mắt có thể dùng đến. Những thứ bị quý vị hoài nghi hoặc những thứ mà quý vị chưa thể lý giải, hay  những thứ mà quý vị cảm thấy không quan trọng, thì đem nó gác lại một bên, làm tham khảo. Khi trình độ của quý vị tiến bộ đến một giai đoạn nào đó, những thứ hiện tại cho rằng không dùng đến, không hợp lý, cũng chính là những thứ hữu dụng nhất, hợp lý nhất trong giai đoạn đó. Bởi thế, thái độ học tập của tín đồ Phật giáo cần chính xác và khách quan.

3. Tu huệ - Thể nghiệm thực tế

Học để áp dụng kiến thức, vận dụng những gì mình đã học vào trong cuộc sống thường nhật. Biểu hiện của tuệ là thể nghiệm thực tế của toàn bộ thân tâm, tuệ khác với tri thức nhiều nhất là ở chỗ, tri thức có thể buôn bán, có thể mua ngay bán ngay, các phần tử tri thức nói chung có thể truyền thọ những tri thức đã học cho học sinh; tuệ thì lại khác, tuệ là thể nghiệm của thân tâm nội tại, không thể dùng lời nói chữ viết biểu đạt một cách rõ ràng, “như người uống nước, nóng lạnh tự biết”, có thể truyền thọ phương pháp làm thế nào để đạt được trí tuệ, nhưng bản thân tuệ thì không thể truyền thọ. Lại nói “đại trí như ngu”, chính bởi vì tuệ không phải là tri thức, không thể giải thích, cho nên người có đại trí tuệ rất có thể là người không giỏi biện luận, nhưng họ nhất định là người có nhân cách hoàn mỹ. Nếu muốn nhận thức được hình thái của “tuệ” là như thế nào, có lẽ có thể từ khảo sát cuộc sống thực tế của một người hữu đạo thì sẽ có được một chút ấn tượng. 

Tu tuệ là tu những gì? Tu tập phương pháp làm thế nào để có được tuệ. Về điểm này, như tôi đã nói với quý vị: Tuệ có được từ văn, tư, hướng dẫn chúng ta trì “giới” và tập “định”, chính là nội dung cụ thể của tu tuệ, rồi từ trì giới và tập định sẽ sản sinh ra tuệ lực mãnh mẽ hơn, cứ như thế tuần hoàn không ngừng, cuối cùng chính là hoàn thành nhân cách tối cao, chí tôn, vô thượng - Đức Phật.

(Ngày 09 tháng 05 năm 1976, giảng tại Pháp hội Phật Đản Hội Phật giáo nước Mỹ, bài viết này hiện được ghi tại “Phật giáo nhập môn”)