Phật pháp trong đời sống hằng ngày

Phật pháp là gì?

Dựa vào tên gọi mà suy ra nghĩa của nó, Phật pháp chính là những phương pháp cốt yếu mà Đức Phật đã nói ra, gọi tắt là Yếu Pháp. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp bốn mươi chín năm ở cõi Ta bà, cái Pháp mà Ngài nói vốn không phải để cho người đời lấy đó làm thành một bộ môn học vấn hay một khái niệm tri thức nào đó rồi đi nghiên cứu, mà là dạy bảo cách thức làm sao cho chúng ta rời xa đau khổ và đạt được an lạc giải thoát, vì thế bản thân Phật pháp hiển nhiên tồn tại giá trị thực dụng sâu xa.

Tư tưởng cơ bản của Phật pháp: Biết khổ và xa rời khổ

Tư tưởng cơ bản của Phật pháp không ngoài việc nói đến sự biết khổ và cách thức rời xa đau khổ. Biết khổ đó là sự thật trong cuộc sống hằng ngày; xa rời khổ càng là mục tiêu của cuộc sống con người.

Có một lần, lúc đang thuyết pháp, tôi hỏi mọi người rằng: "Có ai đã kết hôn trên mười năm mà vợ chồng chưa từng cãi vã nhau không?" Kết quả, có một vị ủy viên lập pháp đưa tay. Hai vợ chồng họ là đệ tử Phật, hằng ngày đối đãi với nhau như hai người bạn cùng tu, cho nên từ trước đến nay chưa từng xảy ra cãi vã hay tranh chấp.

Để đạt được kết quả vợ chồng không cãi vã nhau như thế, bề ngoài thì tưởng như rất khó, nhưng kỳ thật thì rất đơn giản. Chỉ cần biết suy nghĩ rằng, lúc người ta muốn tìm bạn để chửi nhau, bạn đã cảm thấy vô vị hay chán nãn rồi, giá như bạn còn chửi lại người ta, thì chẳng khác nào đổ thêm sương vào trong tuyết trắng, thêm đau khổ vào trong đau khổ, bản thân đã đau khổ, lại còn để người khác đau khổ. Đau khổ này chồng lên đau khổ khác, than ôi, sao lại phải khổ như vậy?

Thế nhưng, cái lý này nghe qua thì dễ hiểu, nhưng làm được thì không dễ, dù cho đó là đệ tử của Phật chăng nữa, khi chuyện xảy ra thì cũng khó mà vượt qua được thử thách. Ví dụ có một số người hay nói: "Nó hại tôi thảm như thế này, tôi cũng phải cho nó biết mùi vị của đau khổ là gì. Nếu không như vậy thì còn gì gọi là nhân quả báo ứng nữa?"

Nhân quả báo ứng sao lại có thể nói như vậy được? Nhân quả nó xuyên suốt ba đời, cái khổ mà bạn đang phải chịu trước mắt là quả báo, chịu một nổi khổ thì cũng giống như trả một quả báo vậy, nếu như bạn không chịu trả, mà lại còn làm tăng thêm vốn vay, lấy răng trả răng, hai bên đánh qua đá lại, oan oan tương báo, như thế thì không biết bao giờ mới kết thúc. Người hiểu được quy luật nhân quả, thì có thể biết được khổ, biết chịu khổ, và không bao giờ tạo ra cái nhân của khổ. Vì thế mà nói, vợ chồng cùng làm khó nhau, cùng trả thù nhau, không những không có từ bi mà còn chẳng có trí tuệ.

Phương pháp xa rời đau khổ

1, Chánh tri kiến

Phật pháp đã chỉ ra sự thật của khổ, mục đích không ngoài việc muốn chúng ta rời xa đau khổ, thế nhưng làm cách nào để rời xa nó?

Bốn thánh đế trong Phật pháp: Khổ, Tập, Diệt, Đạo, là con đường để chuyển từ phàm phu sang thánh hiền, trong đó Khổ đế là nhân sinh luận và Đạo đế là tu đạo luận. Nội dung của Đạo đế được chia làm tám hạng mục: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Niệm, Chánh Định, Chánh Tinh Tấn, chỉ cần tu tập Bát chánh đạo này thì có thể xa rời đau khổ và đạt đến cảnh giới giải thoát an lạc.

Tri kiến đúng đắn vô cùng quan trọng, tri kiến đúng đắn là tin rằng nhân quả thông ba đời. Sau khi có Chánh Tri Kiến thì sẽ tin rằng tất cả những nổi khổ mà bản thân phải chịu trong đời này là xuất phát từ nghiệp mà vô lượng kiếp về trước chúng ta đã tạo. Thường có người bảo rằng:"Đời này tôi chưa từng hại người, vì sao lại phải chịu đau khổ?" cần phải biết rằng, quả báo trước mắt được hình thành bởi cái nhân mà từ vô lượng kiếp về trước chúng ta đã tạo.

Chúng ta từ vô lượng kiếp cho đến ngày nay, trôi nổi trong sanh tử ba đào, trong muôn vàn số kiếp về trước, chúng ta không biết đã từng kết thiện duyên hay ác duyên với bao nhiêu chúng sanh, kết thiện duyên thì đạt được quả thiện, ngược lại kết ác duyên thì nhất định sẽ đưa đến quả ác. Vì thế, chúng ta không thể chỉ nhìn quả báo trong đời này. Rất nhiều người vì không nhìn được quả báo trong kiếp hiện tại nên cho rằng không có nhân quả, sự thật là: nhân ác chúng ta trồng hôm nay, nếu không trả trong kiếp hiện tại, thì kiếp sau nhất định phải trả, chúng ta không thể thoát khỏi vòng xoay nhân quả nghiệp báo.

2, Không tạo các điều ác, tự tại thọ nhận quả báo

Làm sao để xa rời đau khổ và đạt được an lạc? Trước hết là đình chỉ tất cả những nhân tố tạo ra nghiệp ác, tức là không tạo các điều ác, sau đó thì thản nhiên tự tại mà thọ lấy quả báo. Cùng lúc với việc thọ nhận quả báo, chúng ta cũng nên phát tâm cứu khổ cứu nạn. Dù cho người khác khiến cho mình phải chịu cực chịu khổ, chúng ta cũng không nên cho đó là điều bất công, ngược lại, chúng ta phải nghĩ đến họ, cầu cho họ được phước báo v.v, như thế mới gọi là tinh thần Bồ Tát. Nếu chúng ta có thể thực hành Đạo Bồ Tát, dù cho bản thân chịu cực khổ, chịu bao điều oan trái đi nữa, thì chúng ta cũng không cho đó là sự bất công.

Tôi có một vị đệ tử tại gia, sinh ra chưa được ba ngày thì đã bị cha mẹ ruột mang đi bán. Thời gian thấm thoắt hơn nữa đời người trôi qua, anh ta vừa lo xong hậu sự cho cha mẹ nuôi, cùng lúc đó thì cha mẹ ruột của anh ta xuất hiện, với ý nguyện là được sống bên cạnh con trai khi tuổi đã xế chiều. Vậy là nhiệm vụ chăm sóc cha mẹ lại một lần nữa đè nặng lên đôi vai của anh ta. Mọi người xung quanh nhìn thấy như vậy thì cảm thấy bất công cho anh này quá. Anh ta thì không như vậy, ngược lại còn nói với tôi rằng: "Sư phụ à! Con thật sự rất có phước báo, mọi người chỉ có một cha một mẹ, con thì lại có cả hai cha hai mẹ!"

Anh ta nghĩ được như thế, nhất định trong lòng cảm thấy vô cùng thanh thản và vui vẽ. Nếu không như vậy, nhất định anh ta sẽ nói ngược lại: "Cha mẹ đẻ của con đúng là không phải người! con sinh ra đời chưa được ba ngày thì đã bán con cho người khác, bây giờ già rồi, lại còn muốn con phụng dưỡng họ, thật là vô lý mà!" như thế thì quá đau khổ phải không!

Những câu chuyện mà con cái phụng dưỡng cha mẹ như ở trên thì rất hiếm thấy. Trong cuộc sống, hầu như cha mẹ nuôi nấng con thì nhiều, mà con cái phụng dưỡng cha mẹ thì ít, như vậy có công bằng và hợp lý không? Chẳng có cái gì không công bằng và không hợp lý ở đây cả. Chỉ cần bản thân lòng dạ hiền hòa, nhẹ nhàng thanh thản, thì cuộc sống sẽ đạt được nhiều niềm an lạc.

Xã hội bây giờ cái gì cũng mong cho được công bằng, nhưng thực tế thì có thể đạt được điều đó chăng? Ví dụ: Sao lại chỉ có một mình vợ là mang thai và sinh con? Ngược lại chồng thì không thể mang thai và sinh con? Cho nên nói, một số sự việc nào đó, căn bản không thể đòi hỏi sự công bằng. Ý nghĩa sâu xa của công bằng phải là: Mỗi một người đứng trên lập trường và vai vế của mình, thì nên làm tốt bổn phận và trách nhiệm của bản thân, đó mới gọi là hợp lý và công bằng.

Đặc biệt là sau khi đã có Chánh tri và Chánh kiến của Phật pháp, thông qua cái nhìn đúng đắn về quy luật nhân quả, sẽ biết được mỗi một người đều có phước báo, nhân duyên và trí tuệ riêng của họ, hoàn cảnh của mỗi người không giống nhau. Hiểu được đạo lý này, thì sẽ không bao giờ bàn đến chuyện công bằng hay không công bằng, từ đó sẽ đạt được nhẹ nhàng thanh thoát, trong lòng không còn phiền não, và lẽ dĩ nhiên kẻ thù trong mắt sẽ ngày càng ít đi.

Tác dụng của Phật pháp

Tác dụng của Phật pháp có thể phân thành ba bước: 1. Tùy theo căn cơ để giáo hóa chúng sanh trong đời sống hằng ngày; 2. Đoạn trừ hết thảy phiền não; 3. Thành Phật viên mãn. Dựa vào ba bước này để biết, chúng ta không nên vội vàng, muốn một bước là có thể lên đến thiên đường, mà phải thật thà đi từng bước. Có nghĩa là, nên bắt đầu đi từng bước trong cuộc sống hằng ngày, không những thế, bất luận là bước nào đi nữa, chúng ta cũng phải dựa vào sự nổ lực tu tập của bản thân, chứ không phải tất cả đều dựa dẫm vào sự gia trì của chư Phật và Bồ Tát.

Nói như vậy không có nghĩa là sự gia trì của ngoại lực không tồn tại, mà là chúng ta không nên dựa dẫm vào nó. Người Trung quốc chúng ta thường nói: "Tự mình nổ lực trước, sau đó mới được người hỗ trợ, được người hỗ trợ sau đó mới được trời giúp đỡ." Nếu bản thân không có một chút nổ lực để tiến lên, một khi sự chi viện bên ngoài không còn nữa, thì sẽ dễ dàng rơi vào lối cùng ngõ cụt của khổ nạn. Ví dụ nói: Hôm nay không có cơm ăn, người khác có thể cho bạn một miếng bánh mì để ăn tạm, nhưng bữa cơm sau thì sẽ thế nào? Nếu bữa cơm sau họ lại tiếp tục cho bạn một miếng bánh mì đi nữa, vậy thì ngày mai sẽ ra sao? Cho dù có người ngày nào họ cũng có thể cho bạn một miếng bánh mì, nhưng lỡ một mai khi người ấy đi xa, hoặc giả họ cũng cơm không đủ ăn, vậy thì đối tượng mà bạn tin tưởng rõ ràng là không thể dựa dẫm được nữa rồi. Có lẽ có rất nhiều người tin vào vị thần quyền uy, hy vọng thần sẽ mãi mãi ban cho những điều mong muốn, đáng tiếc đó chỉ là tín ngưỡng không hơn không kém, chứ chẳng phải là sự thật.

Thế nhưng chúng ta cần phải chú ý, mặc dù Phật pháp cho chúng ta biết rằng, tự lực cánh sinh là điều quan trọng nhất. Thế nhưng để phủ nhận người khác, tất cả đều dựa vào sức lực của bản thân, cái này cũng không đúng, vì như thế sẽ trở nên cố chấp bảo thủ. Chúng ta vẫn phải cần người khác đến để hướng dẫn cho ta biết làm thể nào để vận dụng Phật pháp trong cuộc sống hằng ngày, càng phải tin tưởng vào lòng từ bi che chở của chư Phật, Bồ tát và Hộ pháp, Long thiên.

Cư sĩ tại gia phải tu tập như thế nào?

Từng có một vị thiện tín nói với tôi: “Sư phụ à! Con vô cùng ngưỡng mộ các sư huynh đã không còn sự ràng buộc của gia đình, họ không những có thể chuyên tâm tu hành, mà còn nhìn dáng vẽ bên ngoài ai cũng rất có đạo hạnh!”

Âm thanh từ “dây đàn” của anh ta không ngoài ý nghĩa: Nhà nào cũng có một bộ kinh khó đọc, khó tụng. Chỉ có điều không biết bộ kinh khó đọc tụng của gia đình anh ấy là kinh mẹ mình, mẹ vợ, hay là kinh chồng con? Nói tóm lại, hễ có gia đình thì nhất định sẽ có kinh. Vậy thì làm sao để có thể biến bộ kinh khó đọc tụng này trở thành dễ tụng? Thật ra, trong kho tàng kinh Phật mênh mông có một bộ kinh với tên gọi là “Lục Phương Lễ Kinh”, nội dung kinh này luôn chỉ dạy cho người Cư sĩ tại gia một mặt làm thế nào để hoàn thành bổn phận và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình, mặt khác còn hướng dẫn cho họ các phương pháp để tu hành.

1, Người Phật tử tại gia nên biết “Lục Phương Lễ Kinh”

“Lục Phương Lễ Kinh” gọi đầy đủ là “Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ Kinh”, đây là bộ kinh hướng dẫn người Phật tử Tại gia làm thế nào để ổn định gia đình và phát tâm tu tập. Vậy thì cái gì gọi là Lục Phương? Cha mẹ là phương đông; Sư trưởng là phương nam; Vợ chồng là phương tây; Thân thích là phương bắc; Người hầu kẻ hạ là phương dưới; Sa môn, Bà La môn, các vị tu hành là phương trên. Lục phương này trên thực tế thì nó đã bao hàm các mối quan hệ trong cuộc sống. Nội dung của kinh phân định rõ ràng vai trò của mỗi cá nhân, ví dụ: Làm cha mẹ thì phải có trách nhiệm gì với con cái; Ngược lại làm con cái thì phải có trách nhiệm gì với cha mẹ; Ngoài ra còn chỉ rõ vai trò và nghĩa vụ giữa thầy giáo và học sinh, giữa người làm công và ông chủ v.v

Đối với đạo vợ chồng, lời kinh đã chỉ ra trách nhiệm của chồng đối với vợ, có năm điều phải chú ý: Một là lấy lễ để đối đãi với vợ; hai là chuẩn mực nhưng không hà khắc; ba là tùy thời cung cấp y phục, quà cáp; bốn là tùy thời ban tặng những trang sức đẹp; năm là cùng với vợ làm tốt việc nhà.

Song song với năm bổn phận của người chồng đối với vợ, người vợ cũng có năm bổn phận đối với chồng: Một là thức dậy trước chồng; hai là nhường chồng ngồi trước; ba là dùng lời hòa nhã; bốn là kính trọng và thuận theo chồng; năm là hiểu chồng, nghe theo lời chồng chỉ dạy. Mặc dù hoàn cảnh thời gian và không gian có sự sai khác, nên cũng có thể không phù hợp với xã hội đương thời, nhưng nội dung trong kinh muốn truyền đạt, cùng tôn trọng lẫn nhau, cùng tin tưởng lẫn nhau v.v, thì đáng để chúng ta tuân thủ mà làm theo.

Lời của Kinh này vô cùng phong phú, chỉ tiếc là lưu truyền không được rộng rãi. Có điều, chưa xem được nội dung của bộ Kinh này cũng không sao, vì ba bộ Kinh do Pháp Cổ Sơn xuất bản: “Sổ tay Phật hóa gia đình”, “Gia đình mỹ mãn và sự nghiệp thành công” và “Làm thế nào để trở thành một người Cư sĩ”, nội dung không ngoài mục đích truyền đạt cho mọi người biết: Làm thế nào để trở thành một vị tại gia Cư sĩ, rất hữu dụng.

2, Thói quen, hành vi bình thường trong cuộc sống

Là một vị Cư sĩ tại gia, trong cuộc sống cần phải có thói quen và hành vi ứng xử bình thường và cân bằng, không nên ăn uống vô độ, gái điếm, cờ bạc, rượu chè hay nghiện ngập v.v.

3, Kết giao với các vị Thiện Tri Thức

Nếu người nào kết giao bạn bè toàn là những phường rượu thịt, thì khó mà có được một cuộc sống lành mạnh sức khỏe. Nhà Nho chủ trương: Hữu trực; Hữu lượng; Hữu đa văn. Hữu trực nghĩa là, kết giao bạn bè cần phải chọn người ngay thẳng bộc trực, không có so do tính toán bạn bè. Thế nhưng cái “ngay thẳng bộc trực” ở đây chưa chắc đã là người “nghĩ ngay nói thẳng”, bởi vì người có lòng ngay, miệng chưa chắc đã nói thẳng, người nói thẳng thì hay mang lại chuyện thị phi, hơn thua. Hữu lượng là kết giao người có thể hiểu và thông cảm cho mình. Hữu đa văn nghĩa là giao kết bạn bè với những người có tri thức học vấn và có tu dưỡng.

Trong Phật pháp có một danh từ gọi là “Thiện Tri Thức”, Đức Thích Ca Mâu Ni cổ vũ chúng ta nên gần gủi những bậc Thiện Tri Thức và xa lánh các loại Ác Tri Thức, giống như nhà Nho nói “Gần quân tử, xa tiểu nhân”. Vậy thì người nào được gọi là Thiện Tri Thức? Người bạn có ích, người bạn thẳng thắn đều được gọi là Thiện Tri Thức. Đối với bản thân chúng ta mà nói, dù hôm nay chúng ta chưa phải là Thiện Tri Thức, thì cũng phải nên học cách làm Thiện Tri Thức của người khác.

4, Làm tròn nghĩa vụ, không màng lợi lạc

Thường nghe rất nhiều vị hay cằn nhằn chuyện vợ mình không hiền thục, chồng mình không thành thật, mẹ gia không hiểu và thông cảm cho con dâu, con dâu không ngoan ngoãn, con cái trong nhà không hiếu thuận v.v. Tóm lại ai mới là người không tốt? Tôi cho rằng, phàm là người hay cằn nhằn như vậy đều không tốt. Nếu như chúng ta xem mọi người trong nhà đều là Bồ Tát, rồi làm tròn bổn phận và trách nhiệm của mình, chí ít là không thẹn với lòng mình, như thế thì làm sao còn chuyện cằn nhằn hay oán trách nữa.

Sở dĩ trong gia đình có chuyện ồn ào, thậm chí là thay đổi này nọ, tất cả nguyên nhân đều xuất phát từ trong nội tâm của người đương cuộc có vấn đề. Nếu không phải nhìn mọi người trong nhà như kẻ địch, thì cũng xem họ như là những đồ vật để cho mình được toàn quyền chi phối, sử dụng.

Từng có một đôi nam nữ đến tìm chúng tôi, vừa gặp họ đã nói: “Sư phụ à! Chúng con sắp kết hôn rồi.”

Tôi nói: “Vậy thì chúc mừng, chúc mừng!”

Họ nói: “Nếu như sau này chúng con có điều gì tranh chấp hay cải vã nhau, xin Sư phụ đến giải hòa giùm chúng con.”

Tôi nói: “Xin anh chị đừng bao giờ tự mình tìm chuyện phiền phức như thế, chưa kết hôn mà đã bàn đến chuyện cải vã lẫn nhau.”

Sau khi nghe tôi nói xong, người con trai bảo người con gái rằng: “Nghe rõ chưa? Sau này em phải nghe lời của anh, không được cải nhau với anh đó!”

Người con gái cũng không chịu thua, nói với người con trai rằng: “Không! Là anh phải nghe lời của em mới đúng, không được tranh giành với em, có như thế thì tụi mình mới không làm phiền đến Sư phụ!”

Trên thực tế, đôi nam nữ trẻ tuổi này dù chưa kết hôn thì đã bắt đầu cải vã nhau rồi.

Cuộc sống con người là như vậy, muốn vợ chồng không xảy ra tranh chấp, cải vã, thực sự khó vô cùng. “Lục Phương Lễ Kinh” và ba bộ sách chúng tôi nêu ra ở trên, là nói rõ với mọi người biết làm thế nào để hoàn thành bổn phận và nghĩa vụ của bản thân đối với gia đình; phải có trách nhiệm gì với gia đình? Người làm cha mẹ phải có những nghĩa vụ gì? Phận làm con cái thì phải ra làm sao? Nếu như người nào cũng biết làm tốt vai trò của mình, hoàn thành trách nhiệm của mình, thì đâu có chuyện cằn nhằn hay oán trách nhiều như thế.

5, Từ bi không có kẻ thù, Trí tuệ không có phiền não.

Trước đây có hai vị Cư sĩ là hộ pháp của Pháp Cổ Sơn, bởi do công ty làm ăn thất thoát mà bị sa thải. Tôi hỏi một vị trong đó: “Công việc làm ăn của anh thế nào rồi?”

Anh ta rất điềm tĩnh nói với tôi: “Sư phụ, xin người đừng lo lắng!”

Thực ra, sự quan tâm của tôi đương nhiên không phải là sự lo lắng, vậy mà nhìn thấy anh ta điềm tĩnh như thế quả thật đáng quý. Nếu đổi lại là một người khác thì khó mà tránh khỏi một tuồng than thở, oán trách.

Cảnh ngộ của vị thứ hai thì càng khiến cho người ta cảm thấy bất bình, liên tục mấy tháng trước khi bị sa thải, ông chủ ngày nào cũng yêu cầu anh này làm tăng ca. Anh ta là nhân viên phụ trách một bộ phận nào đó, ấy vậy mà tăng ca thì không có tiền tăng ca. Mọi người nhìn thấy thì nghĩ rằng, có lẽ anh này sắp được thăng chức, nào ngờ đâu khi cấp tốc làm xong mọi công việc thì lại bị sa thải. Bình thường nếu gặp phải hoàn cảnh như vậy, mọi người nhất định sẽ rất tức tối, nổi trận lôi đình, thế nhưng anh này thì ngược lại, không hề có chút giận hờn, bởi vì anh ta cảm thấy bản thân đã học và trưởng thành lên rất nhiều. Ấy thế mà mọi người la làng đánh trống minh oan, đòi lại công bằng cho anh này, vì họ cho rằng quyết định của ông chủ này quá bất công.

Mấy tháng sau khi sự việc xảy ra, tôi hỏi anh ta: “Dạo này đã kiếm được việc làm mới chưa?”

Anh ta trả lời: “Thưa Sư phụ, con đã kiếm được việc làm mới rồi!”

Tôi nói: “Đó là bởi vì tính cách con điềm tĩnh, cho nên mới có thể nhanh chóng tìm được việc làm mới.”

Những việc như thế này rấy nhiều, chúng ta thường gặp hằng ngày, nóng giận không thể giải quyết được vấn đề gì, vậy thì chúng ta còn nóng giận làm gì cho mệt thân? Chi bằng chấp nhận với sự thật, dũng cảm đối diện và tìm cách để thay đổi nó. Đây là một ví dụ rất tốt về việc vận dụng Phật pháp trong cuộc sống hằng ngày.

Giới thiệu về Pháp Cổ Sơn

“Phật pháp tuyệt vời như thế mà người biết đến thì quá ít, ngược lại số người hiểu sai Phật pháp thì lại quá nhiều.” Đây là hạnh nguyện mấy chục năm khổ tu, khổ học, quyết chí hoằng dương Phật pháp của Hòa thượng Thánh Nghiêm. Kiến tạo Pháp Cổ Sơn là muốn tiếp nối gánh vác sứ mệnh của chư Phật chư Tổ, giúp cho chúng sanh xa rời đau khổ và đạt được an lạc giải thoát.

Năm 1989, Hòa thượng Thánh Nghiêm đã tìm được một mảnh đất rừng thuộc xã Kim Sơn, huyện Đài Bắc lúc bấy giờ, và đặt tên gọi là “Pháp Cổ Sơn”, với tâm nguyện muốn kiến tạo một cơ sở để hoằng truyền Phật giáo Hán truyền, đẩy mạnh “khu vườn giáo dục Phật giáo thế giới” trong hệ thống giáo dục lúc bấy giờ. Trải qua mười sáu năm xây dựng và hoàn thành, vào tháng 10 năm 2005 đã tiến hành lễ khánh thành một cách trọng thể và trang nghiêm.

Pháp Cổ Sơn lấy “Bảo vệ môi trường tâm linh” làm trung tâm, làm ngọn cờ đầu của hệ thống giáo dục. Đồng thời, Pháp Cổ Sơn còn là một đoàn thể giáo dục đời sống, không ngừng ra sức thúc đẩy vận động mở mang tinh thần, đề xướng “bốn loại bảo vệ môi trường” như: Tâm linh, lễ nghi, đời sống và tự nhiên, chuyển hóa tinh thần và nội hàm của Phật pháp thành “tâm ngũ tứ vận động”(vận động năm điều bốn về tâm, như Bốn an: an tâm, an thân, an gia, an nghiệp; Bốn yếu: Nhu yếu, muốn, có thể muốn, nên muốn; Bốn nó: Đối diện nó, tiếp thọ nó, xử lý nó, buông bỏ nó; Bốn cảm: Cảm hóa, cảm động, cảm ơn, cảm tạ; Bốn phước: Biết phước, tích phước, bồi phước, trồng phước.) một cách cụ thể và dễ thực hành. Ngoài ra, còn chú trọng lấy ba phạm trù lớn trong giáo dục “Đại học viện, đại phổ hóa, đại quan hoài” làm lý tưởng để thực hiện việc “tăng phẩm chất của con người, xây dựng tịnh độ nhân gian”, đồng thời, thông qua sự hợp tác giao lưu trong việc hoằng hóa ra phạm vi quốc tế, công trình Pháp Cổ Sơn đã trở thành điểm nhấn để cho toàn nhân loại chú ý, trở thành công trình kiến thiết Tịnh hóa và Tâm linh của thế giới.

Pháp Cổ Sơn còn phục vụ nhu cầu của thời đại, lấy Thiền Phật giáo Hán truyền làm lập trường, sau đó dung hợp các tông phái để mở ra “Thiền tông Pháp Cổ của Trung Hoa”, với việc hướng dẫn và thúc đẩy quan niệm cũng như tư tưởng hiện đại, đưa Phật pháp đi vào trong cuộc sống, hy vọng tiếng trống từ bi và trí tuệ của Phật pháp có thể khiến cho mọi người được an lạc, biến xã hội con người thành cõi Cực lạc, với sự thanh tịnh và giải thoát.

Giới thiệu sơ lược về quỹ giáo dục Thánh Nghiêm

Quỹ giáo dục Thánh Nghiêm được Bộ giáo dục phê chuẩn và cấp giấy phép thành lập vào ngày 18 tháng 01 năm 2006. Tông chỉ của Qũy này là lấy việc thúc đẩy lý tưởng “tăng phẩm chất con người, kiến tạo tịnh độ nhân gian” do Hòa thượng Thánh Nghiêm đề xướng để làm sự nghiệp giáo dục nhằm tịnh hóa lòng người, tịnh hóa xã hội. Lý tưởng của Hòa thượng Thánh Nghiêm là chú trọng đến việc thực hiện xiển dương tịnh độ nhân gian. Suốt cả cuộc đời Ngài luôn hướng đến mục đích đưa Phật pháp đi vào trong đời sống hiện đại, dùng Phật pháp để nâng cao đời sống cũng như phẩm chất của người hiện đại. Hy vọng rằng các nhân sỹ trong giới tôn giáo học thuật hoặc những ai có hứng thú, có tâm nguyện, đều hướng đến tham thảo, nghiên cứu cũng như thực hiện rộng rãi phương diện này.

Qũy sẽ dựa vào tông chỉ này để thúc đẩy các công việc như sau:

1, Chủ yếu là thu thập, chỉnh lý, nghiên cứu, phân thứ lớp, phân loại, phiên dịch, in ấn, chế tác, phát hành, mở rộng, hoằng dương, phổ biến những tài liệu do Hòa thượng Thánh Nghiêm trước tác như sách vở, tạp chí, băng đĩa, các văn hiến văn vật vân vân, tặng đến các giai tầng trong xã hội, với kỳ vọng sẽ làm tăng thêm phẩm chất con người, nơi nơi đều thực hiện việc biến nhân gian thành cõi tịnh độ giải thoát.

2, Thứ nữa là tán dương và trợ lực cho các hạng mục trong công tác giáo dục, khế hợp với lý tưởng của Hòa thượng Thánh Nghiêm như: Thúc đẩy giáo dục Phật giáo; nghiên cứu học thuật Phật giáo; xuất bản các tác phẩm Phật giáo; tịnh hóa nhân tâm và tịnh hóa xã hội vân vân.

Lời khuyến tiến dành cho bốn chúng đệ tử Phật

Tin Phật, học Pháp, kính Tăng
Muôn đời Tam Bảo minh đăng sáng ngần
Nâng cao phẩm chất quần nhân
Kiến xây tịnh độ chốn trần bể dâu
Biết ơn, báo ơn làm đầu
Giúp người không ngại, lợi hầu bên ta
Tận tâm, tận lực, thật thà
Không tranh, không giật, gọi là pháp tu
Lòng từ, sao có hận thù
Trí thông sáng tỏ làm lu não phiền
Thời gian dư giã triền miên
Cần lao công việc, sức bền khỏe thay
Chí mong ruộng phúc cấy cày
Sợ gì cuộc sống đắng cay, ngọt lìm
Bố thí, phước ấy dễ tìm
Phát tâm hành thiện, trời chim hát mừng
Thời thời tâm lạc, thế hưng
Niệm niệm thiền duyệt tưng bừng hiện ra
Nơi nơi đều có Phật bà
Âm thanh vang vãng lòng ta Di Đà!