Khuyến tiến bốn chúng đệ tử

Khuyến tiến bốn chúng đệ tử

Hai mươi câu cùng nhau khuyến tiến này nội dung vốn không có thứ tự trước sau hay trên dưới. Chỉ có điều, ở hai câu mở đầu: “Tin Phật, học Pháp, kính Tăng; Tam Bảo vạn thế minh đăng” và hai câu cuối cùng: “xứ xứ Quan Âm Bồ Tát; thanh thanh A Di Đà Phật” là những câu quan trọng nhất trong toàn bài.

Nếu có thể đọc tụng và hiểu hết nội dung hàm ý của hai mươi câu này, không những có thể tự mình khuyến tiến cho mình, mà còn có thể cổ vũ và khích lệ người khác. Nếu như mỗi một tín chúng đều có thể hiểu được dụng ý này và mang nó lưu truyền rộng rãi, thì người đó đang làm theo đạo Bồ Tát lợi mình lợi người.

Dưới đây sẽ ghi ra từng câu một và giải thích rõ ràng tỉ mĩ:

Tin Phật, học Pháp, kính Tăng

“Phật” nghĩa là giác ngộ, cũng có nghĩa là bậc Thánh đại triệt đại ngộ, tự mình giác ngộ cho mình, lại còn giác ngộ cho người, giác ngộ hoàn toàn viên mãn, nên tôn xưng là “Phật Bảo”.

Trên thế giới của chúng ta đang sống, lịch sử duy chỉ có một người đã thành Phật, đó là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Đức Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ của Phật giáo, hơn hai nghìn sáu trăm năm trước, Ngài đã đản sinh tại nước Ca Tỳ La Vệ nằm giữa ranh giới của Ấn Độ và xứ NePal. Vốn dĩ là một thái tử sống giữa cảnh ngai vàng điện ngọc, chờ ngày để nối nghiệp đế vương, thế nhưng Ngài đã nhìn thấy được nổi khổ sinh, già, bệnh, chết của thế giới con người, và các cảnh tượng tranh giành ăn thịt lẫn nhau của chúng sinh, Ngài càng cảm nhận được sự mê muội của chúng sinh, sự khổ não của nhân loại, vì thế cho nên Ngài đã từ bỏ cuộc sống xa hoa nơi chốn hoàng cung, để ra đi xuất gia tầm đạo, với hy vọng sẽ tìm được chân lý và phương pháp để cứu độ vạn loại chúng sinh trong lục đạo luân hồi thoát ra khỏi bờ mê biển khổ, đạt được giác ngộ, an vui.

Sau sáu năm khổ hạnh rừng già, kết quả Ngài đã giác ngộ dưới gốc cây Tất Bát La, vùng Bồ Đề Già Da, nước Ma Kiệt Đà. Để kỷ niệm giây phút thành đạo của Đức Thích Ca, người sau gọi loại cây này là cây “Bồ Đề”, nghĩa là giác ngộ vậy.

Sau khi giác ngộ, Đức Thích Ca Mâu Ni dạy rằng, nếu tất cả chúng sinh đều y theo phương pháp và đạo lý như Đức Phật đã thực hành để ra công tu tập, thì mỗi người đều có khả năng thành Phật như nhau. Ngài dạy tiếp, ngoài thế giới chúng ta đang sống còn có vô lượng thế giới và mười phương, ba đời nhất thiết chư Phật, như: Phật Dược Sư, Phật Di Đà v.v. tương lai có rất nhiều chúng sanh sẽ thành Phật, hoặc thậm chí là tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật. Để rời xa đau khổ, đạt được an lạc, tự giác và giác tha, chúng ta cần phải tin Phật và học theo Phật.

“Pháp” là chỉ đạo lý vũ trụ nhân sinh mà Đức Phật đã thể ngộ, và phương pháp rời xa đau khổ mà Ngài đã trải qua. Những đạo lý và phương pháp này dạy cho chúng ta biết làm thế nào để tu hành? Vì sao cần phải tu hành? Làm thể nào để có thể đạt đến mục đích ly khổ đắc lạc? Vì thế cho nên tôn xưng là “Pháp Bảo”.

Đức Phật xuất hiện ở cõi đời không ngoài mục đích giáo hóa chúng sinh, mang Pháp Bảo đến với chúng sinh. Chúng ta nhờ Pháp Bảo của Ngài mang đến mà được ly khổ đắc lạc. Đồng thời giúp cho chúng ta biết được phương pháp cũng như đạo lý để tu hành, ngõ hầu cứu vớt bản thân từ trong khổ nạn, phiền não sanh lão bệnh tử, đến được bến bờ an vui và giải thoát. Do đó, giáo nghĩa của Phật giáo là muốn mọi người học theo Pháp, thế nhưng muốn học theo Pháp thì chúng ta phải dựa vào đâu? Đó là dựa vào Tăng.

“Tăng” là chỉ cho hàng Tỷ Kheo Tăng, Tỷ Kheo Ni được Đức Thích Ca Thế Tôn hóa độ trong thờì gian Ngài còn trụ thế, bản thân họ tu hành theo Phật Pháp, đồng thời cũng dạy bảo mọi người tu trì theo Phật Pháp, họ là Tăng đoàn giữ gìn Phật giáo, được tôn xưng là “Tăng Bảo”. Tăng chúng xuất gia là trung tâm của việc giữ gìn Phật Pháp, đại diện cho tinh thần ly dục và giải thoát của Phật giáo. Nổi khổ của chúng sanh đều xuất phát từ nguyên nhân tham đắm, không biết buông bỏ hay xa rời, ngược lại, hình tượng và cuộc sống của người xuất gia là tượng trưng của sự ly dục và giải thoát. Phương thức và hình thái sinh sống của người xuất gia rất gần với bản nguyện của Đức Phật, do đó cho nên Phật giáo lấy Tăng chúng xuất gia làm trung tâm để giữ gìn và phát huy Phật giáo.

Học Phật là phương thức sống tu học Phật pháp, thực hiện lý tưởng sống của Tăng chúng. Chúng ta có thể nghe được Phật pháp, tu theo Phật pháp, tất cả đều nhờ Tăng Bảo đến truyền dạy, vì thế cho nên phải luôn luôn kính trọng Tăng.

Ngọn đèn Tam Bảo muôn đời sáng soi

“Tam Bảo” là Phật, Pháp và Tăng, chỉ cần Tam Bảo ở đời, nhân loại sẽ được quang minh, sẽ được cứu rổi, và có hy vọng về một tương lai tươi sáng, cho nên mới nói ngọn đèn Tam Bảo muôn đời sáng soi.

Phật giáo của chánh tín bắt buộc phải đầy đủ Tam Bảo, thiếu một cũng không được. Nếu như chỉ tin Phật mà không tin Pháp, không tin Tăng, thì chẳng khác gì vái Thần, vái Trời, với mong muốn cầu Phật gia trì, bảo hộ, cho chúng ta được hạnh phúc, mà không hề hiểu được đạo lý và phương pháp để tu hành. Như thế thì người ta sẽ cho đó là thứ chạy theo mê tín.

Nếu chỉ tin Pháp mà không tin Phật và Tăng, thì cũng giống như một loại nghiên cứu tri thức học vấn, mà không phải là đệ tử Phật, như ngồi ở trong thư viện mang từng cuốn sách ra đọc, dù đọc biết tất cả tri thức ở trong sách, nhưng không lấy đó làm tiêu chuẩn của hành vi bản thân, thì cũng giống như chỉ gọi thức ăn mà không ăn nên không no, đếm đo tiền tài của người khác nên không giàu.

Nếu chỉ tin một vị nào đó trong hàng Tăng chúng mà không tin Phật, không học Pháp, có khác chi với việc sùng bái anh hùng, hoặc cũng giống như nhận cha mẹ nuôi, hay đại ca v.v. Đối với Phật giáo mà nói, nếu chỉ sùng bái hoặc quy y một vị Sư phụ nào đó, rồi cho mình là tín đồ Phật giáo, như vậy thì không phải là chánh tín. Tín đồ Phật giáo có chánh tín, là dựa vào Tăng Bảo để tin Phật và học Pháp.

Mục đích tu hành Phật Pháp là nhằm tăng trưởng trí tuệ, tự lợi và lợi tha. Cho nên tính quan trọng của việc đầy đủ Tam Bảo đối với tín đồ Phật giáo mà nói, nó giống như chiếc đĩnh có ba chân, thiếu một thì không được.

Nâng cao phẩm chất con người

Phẩm chất của con người, nói rõ hơn là phẩm cách, đức hạnh và khí chất của con người. Khí chất thì có thể thay đổi, như có nhiều người lúc nhỏ thì đầu óc đần độn không biết việc gì, khi tuổi càng lớn, thông qua tích lũy sự rèn luyện của giáo dục và xã hội, thì khí chất thay đổi, trở nên tốt lành. Có thể thay đổi khí chất của con người là có thể nâng cao phẩm chất của họ.

Nếu so sánh trước và sau khi học Phật, khí chất của con người không hề có sự cải thiện, nói năng, đi đứng nằm ngồi không biết kiểm điểm, tư tưởng, quan niệm không có nâng cao, như vậy thì quá uổng phí việc học Phật. Sau khi học Phật, nên lấy cái uy nghi, lễ nghi, hành nghi của Phật pháp để lợi mình lợi người, không nên có những hành vi thương tổn mình và người hoặc hại mình hại người. Một khi thân miệng được như thế, tâm niệm bên trong cũng phải thực hành được như vậy.

Là tín đồ Phật giáo, chúng ta phải hoàn thành trách nhiệm đối với gia đình, xã hội, đất nước, toàn thể nhân loại, hoặc tất cả chúng sinh. Chúng ta có quyền lợi sống ở cõi Ta bà, càng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ giúp đỡ và cải thiện cõi này.

Nếu sau khi trở thành tín đồ Phật giáo, có người gặp bạn và nói: “Mấy năm không gặp, hình như tính cách và khí chất của anh khác đi nhiều, cái này nhất định phải có nguyên nhân của nó, vì sao?”

Lúc này bạn nên nói với đối phương rằng: “A Di Đà Phật! không có nguyên nhân nào đâu, chỉ là vì tôi quy y Tam Bảo, làm người trước phải nên học được cách tự lợi và lợi tha.”

Cái gọi là tự lợi và lợi tha, giống như muốn nâng cao phẩm chất của con người, thì phải bắt đầu từ bản thân mình, sau đó mới nói đến việc nâng cao phẩm chất của người khác, vừa tự lợi, lại lợi tha.

Lại nữa, lúc chúng ta tiếp xúc với người, trước khi muốn lợi mình thì phải lợi người, giữa cái này nó có quan hệ mật thiết với nhau. Ở trong nhà, nếu như thái độ của mình đối với người nhà được cải thiện, người nhà sẽ bị bạn ảnh hưởng mà cải thiện theo. Bản thân có thể hòa nhã vui vẽ, đến đâu cũng lấy lễ đối đãi với nhau, lúc nào cũng quan tâm đến người khác, lấy tâm thái viên mãn người khác làm thành viên mãn bản thân để xử lý công việc. Có như thế mọi người xung quanh nhất định sẽ noi gương tốt của bạn. Chúng ta nên học tập từ bi của Phật pháp để khai mở trí tuệ trong nội tâm, kiện toàn bản thân mà không quên trợ giúp người khác, vì toàn thể và chăm lo cho đại cục, phẩm hạnh thật thà, siêng năng tu học, toàn tâm toàn ý cống hiến, thuần hậu, khiêm cung v.v.

Thế nhưng, khi trở thành người Phật tử, không có nghĩa là kêu chúng ta làm ngụy quân tử, làm người không lập trường hoặc là kẻ đần độn, mục đích của Phật pháp là làm lợi lạc cho chúng sanh. Muốn thực sự làm lợi ích cho người khác, thì cần phải làm được: Khiến cho kẻ tham lam được trong sạch, kẻ nhút nhát được mạnh mẽ cang cường, biết cảm ơn ân nhân, tha thứ cho kẻ thù; Học tập hiền nhân, cứu giúp người nghèo cùng khốn khổ; Điều phục kẻ ngông cuồng, cảm hóa người ác; an ủi, khuyến tiến kẻ nhụt chí, thăm hỏi, chăm sóc người gặp nạn; Khiến cho kẻ lười biếng trở thành người siêng năng cần cù, chuyển hóa kẻ ác trở thành người có lòng từ bi v.v. Chúng ta phải biết dùng các phương pháp thích hợp để giúp đỡ người khác, khiến cho mỗi một người chung quanh chúng ta đều đạt được những điều lợi lạc. Như thế mới gọi là người thực sự lợi mình lợi người, và là người có phẩm chất cao thượng.

Xây dựng Nhân gian Tịnh độ

Nếu muốn thế giới chúng ta đang sống trở thành cõi Tịnh độ an vui, thì cần phải có sự nổ lực của tất cả mọi người. Cho dù hoàn cảnh bên ngoài như thế nào đi nữa, điều quan trọng là phải bắt đầu từ bản thân mỗi người. Trước tiên, bản thân không làm những việc tổn hại đến người khác, sau đó mới hy vọng mọi người không làm những chuyện tổn hại lẫn nhau. Một người ảnh hưởng đến nhiều người, mười người ảnh hưởng đến trăm nghìn người, có như thế mới có thể khiến mỗi người trong chúng ta trở thành vị Bồ Tát thực hành song song từ bi và trí tuệ. Dù không trở thành đệ tử của Tam Bảo đi nữa, cũng hy vọng họ có thể tin vào quy luật nhân quả ba đời. Hễ đã tin vào nhân quả thì sẽ không còn chuyện giết người, đốt nhà, làm những chuyện sằng bậy khiến cho xã hội bất an. Quan niệm nhân quả có thể khiến lòng người vui vẽ thành khẩn để lìa ác hướng thiện, nhẹ nhàng tiếp nhận hiện thực để mở ra con đường tươi sáng ở ngày mai. Người tin quy luật nhân quả ngày một tăng thì xã hội của chúng ta trở nên tươi sáng, ổn định, bình an, như thế thì cõi tịnh độ ở nhân gian đang dần hiện ra trước mắt.

Có một vị cảnh sát từng nói với tôi, lúc anh ta làm nhiệm vụ đã xảy ra một chuyện như sau: Mười mấy người gây chuyện cầm gậy đuổi đánh anh ta, anh ta hô to: “A Di Đà Phật! A Di Đà Phật!” tốp người đuổi đánh anh ta nghe vậy thì đứng ngơ người ra, anh ta nhân đó mà bỏ chạy thoát thân. Anh ta nói: “A Di Đà Phật thực rất hữu dụng! giải nguy và cứu mạng cho con.” Lại có một lần xảy ra ở đường Đại Độ khu Bắc Đầu, anh ta đang làm nhiệm vụ truy quyét một nhóm thanh niên tham gia đua xe, lúc đó có rất nhiều người hiếu kỳ đổ ra đường ngăn và đòi lật ngửa xe làm nhiệm vụ của anh ta, lúc này anh ta lại sử dụng Pháp Bảo, miệng niệm lớn: “A Di Đà Phật! xin nhường đường. A Di Đà Phật! xin nhường đường.” kết quả bất ngờ, mấy người lúc nãy chặn xe và đòi đánh anh ta tự nhiên tản ra, không gây khó dễ cho anh ta nữa.

Nếu như làm bất cứ việc gì, trước hết chúng ta không quên niệm A Di Đà Phật, thì nhất định sẽ vạn sự như ý. Chính bởi vậy mới biết, mục đích không ngoài nhắc nhỡ bản thân chúng ta: Phật có thể cứu khổ cứu nạn, người niệm Phật thì trong lòng phải có từ bi cứu giúp, tha thứ và tôn trọng người khác, không nên cậy vào mình có lý mà không chịu nghe ai, khăng khăng làm theo ý mình.

Ngoài ra cũng không nên có tâm lý “bức tường lỡ đổ rồi, mọi người cùng xô cho nó ngã luôn”. Người ta ngã hoặc sắp ngã rồi, lý ra phải giành cho người ta một con đường sống, ai lại đi xô người ta để làm gì? Sống giữa đời, gặp khi giá lạnh biết mang cục than để sưởi ấm cho người, hạng này vô cùng ít, ngược lại, những kẻ thêu hoa dệt gấm thì rất nhiều; người biết cứu người từ đáy giếng lên thì ít, ngược lại kẻ thấy người khác rơi xuống giếng mà còn lấy đá liệng theo họ thì quá nhiều. Cho nên người ta không gọi ở đây là tịnh độ, mà thường gọi là trược thế hay trần thế. Chúng ta nên nổ lực làm những việc như lạnh thì mang than đến cho người sưởi ấm, tường đổ thì nâng, thấy người rơi xuống giếng thì tìm cách cứu vớt, hơn nữa, chúng ta thà làm anh hùng sau bức màn còn hơn giả làm người tốt ở trước mặt. Hầu hết mọi người chỉ biết chỉ trích, yêu cầu người khác mà quên đi kiểm thảo lại bản thân, hy sinh bản thân. Nhiều người rất thích đứng trước mặt người khác và nhận được sự tán dương từ họ; người thích nói tốt hay tán dương người khác thì hiếm gặp. Cứ như vậy, thế giới tịnh độ khó mà hiển hiện ở đời. Chúng ta nên nhường cho người khác đứng trước, nên tán thán người tốt việc tốt, viên mãn cho bậc hiền người trí. Nếu như ai cũng có thể làm như vậy, thì thế giới của chúng ta sẽ từ từ trở thành cõi tịnh độ.

Do đó mà biết, muốn xây dựng tịnh độ ở nhân gian, hay nói rõ hơn là biến nhân gian thành tịnh độ, thì việc trước hết là bắt đầu từ bản thân của mỗi người. Có nghĩa là, đối diện với thất bại hay tầm thường, chúng ta biết hướng mình đứng dậy để đi về phía trước, một mặt xây dựng bản thân, chăm sóc cho người thân thích, mặt khác hướng rộng ra môi trường làm việc của mình, những người quen hay không quen biết, khiến cho họ hưởng được hương vị của Phật pháp, thể nghiệm được tác dụng của Phật pháp đối với cuộc sống, từ đó mà họ có thể khẳng định và phát tâm tu học theo Phật pháp, tiếp thu quy luật nhân quả “thiện có thiện báo, ác có ác báo”, đó là phương pháp tốt nhất để mở rộng và biến nhân gian thành cõi tịnh độ.

Biết ơn, báo ơn là việc trước tiên

Thường những kẻ phàm phu, ít nhiều cũng có tính cách lấy ơn báo oán, qua sông dỡ cầu. Người khác có ơn đối với mình, mình lại xem họ là kẻ thù, người ta chưa giúp mình thì còn được, đến khi giúp rồi thì lại bảo là giúp chưa tốt, giúp chưa xong, như thế thì quá ư phủ phàng.

Vì thế mà có người nói với tôi: “Sư phụ! Chúng con giúp đỡ người khác, người khác ngược lại đối xử không tốt với chúng con, giống như là dẫn sói vào nhà, làm thế nào đây?”

Tôi nói: “Chuyện này quá đổi bình thường, bản thân chúng ta lắm lúc cũng như vậy, chỉ là chưa tĩnh ngộ ra mà thôi. Người khác trả ơn hay không, chúng ta không nên đay đáy ở trong lòng, giúp người là giúp người, không nên có điều kiện, giúp hết lòng mình là được. Đối với việc người khác lấy oán báo ân mà nói, cứ xem đó giống như quả báo kiếp trước mình nợ họ đi. Lúc chúng ta phát tâm giúp đỡ người khác, thì coi như mục đích của mình đã thành tựu rồi, cao cả hơn, nếu chúng ta không tính toán đến việc lấy ân báo oán v.v thì ắt sẽ được phước lạc vô biên.”

Thế nhưng, nếu bản thân chúng ta mang ơn của người khác, thì nhất định phải biết ơn và báo ơn. Ơn từ đâu mà có? Từ bốn phương tám hướng mà có. Từ nhỏ đến lớn, hoặc cho đến già chết, chúng ta không ngừng nhận sự giúp đỡ của cha mẹ, sư trưởng, bạn bè, thân thích, cho đến những người trực tiếp hay gián tiếp có sự quan hệ với chúng ta, tất cả họ đều là ân nhân của chúng ta.

Từng có một vị trẻ tuổi nói với tôi: “Sư phụ! Mọi người đều có thể báo đáp thâm ân cha mẹ, con thì không có ơn gì để báo, bởi vì từ nhỏ cha mẹ đã tặng con cho người khác nuôi, cho nên con không biết con còn phải báo ơn gì cho cha mẹ?”

Tôi nói với anh bạn trẻ rằng: “Cha mẹ ruột dù không nuôi con được ngày nào, nhưng họ vẫn có ơn đối với con. Bởi vì mẹ con mang thai con mười tháng, cha con thì có duyên với con từ vô lượng kiếp về trước, nên bây giờ mới gặp, cho nên nếu nhìn về kiếp trước mà nói, cha mẹ đều có ơn đối với con. Chúng ta phải biết uống nước nhớ nguồn. Thân thể này do cha mẹ mà có. Cha mẹ là cha mẹ, chúng ta phải biết ơn và báo ơn mới đúng.” Ngoài ra, chỉ cần có người cho ta một bát cơm, một ly nước, một vé đi xe, thậm chí là một động tác, một lời nói giúp chúng ta giải quyết vấn đề đi nữa, chúng ta đều phải có lòng cảm hơn họ, cảm ơn họ đã bố thí cho chúng ta.

Báo ơn có hai phương pháp dưới đây:

Quan niệm báo ơn của người con Phật phải là: Một khi thọ nhận một ơn nào đó, trước hết chúng ta phải hồi hướng cho những người có ơn đối với chúng ta, trong lòng luôn nghĩ về họ, quan tâm họ, những lúc thích hợp cần phải biểu dương, tán thán họ, như thế gọi là niệm ân. Sau khi niệm ân, càng cần phải nổ lực tu hành để giúp đỡ chúng sinh, mang lại lợi ích cho mọi người. Người khác giúp đỡ mình như thế nào, mình cũng phải giúp đỡ người khác như thế đấy, không những thế, chúng ta cần phải hy sinh nhiều hơn, đóng góp công sức nhiều hơn để giúp đỡ người khác, trả ơn cho xã hội, cảm hóa được người đời, đó gọi là báo ơn.

Lợi người chính là lợi mình

Một người học Phật, nếu lúc nào cũng chỉ biết nghĩ đến làm thế nào để có lợi cho bản thân, như vậy thì phiền não sẽ chất chồng. Nếu như việc gì cũng tính đến lợi ích cho chính mình, làm bất cứ việc gì đều nghĩ đến chuyện bản thân có được ích lợi gì trong việc đó, như thế nhất định là người nhiều phiền não, tự tư tự lợi. Một người tự tư tự lợi mà không có phiền não, việc này thì quá khó.

Chúng ta nên mở rộng tâm ra cho to, cho rộng, bởi vì mỗi một cá nhân thì quá ư bé nhỏ so với cộng đồng. Môi trường sống cũng như quan hệ mật thiết của chúng ta, đứng về mặt thời gian mà nói, nó liên quan đến dòng chảy lịch sử, đến toàn thế giới, thậm chí là vũ trụ hay tất cả con người và mọi loài chúng sinh. Ví dụ chiến tranh xảy ra ở Trung Đông chẳng hạn, Iraq xâm nhập và chiếm lĩnh Kuwait, bề ngoài thì chỉ là cuộc chiến của một địa phương vô cũng bé nhỏ, thế nhưng nhìn rộng ra nó đã ảnh hưởng đến toàn thể thế giới.

Do đó, nếu như chúng ta đứng trên phạm vi vũ trụ để nhìn cá nhân, thì không thể tự cao tự đại được, ngược lại nếu chúng ta dựa trên cá nhân để nhìn vũ trụ thì càng không thể không có trách nhiệm. Tôi từng nghe có người nói: “Tôi chỉ là một cá nhân vô cùng bé nhỏ, xem ra chỉ là một hạt mè trong trời đất bao la, cho nên làm tốt hay làm xấu tất cả đều không quan trọng.” Những loại suy nghỉ như thế này không nên tồn tại trong mỗi tâm tư của chúng ta.

Trong kinh còn lưu giữ một câu chuyện như thế này: Một cánh rừng bỗng nhiên nổi lên đám cháy, và rất nhanh chóng, đám cháy đã bao trùm toàn bộ cánh rừng kia, lúc đó có một chú chim nhỏ từ bi nghỉ rằng: “Ngọn lửa này nhất định sẽ đốt hết tất cả những động vật, chúng sinh ở trong rừng, quả thật rất tội nghiệp!” Nghỉ đến đó, ngay lập tức chim tìm cách để dập lửa, nó bay ra ngoài biển nhúng cho ướt toàn thân, rồi bay trở ngược lại đám rừng đang cháy, mang từng giọt nước thấm ướt ở lông mà dập lửa. Để lấy nước từ bộ lông thấm ướt của chú chim nhỏ mà cứu ngọn lửa rộng lớn thì chẳng khác gì lấy chén nước mà chửa cháy, lấy gậy chống trời, không có một mảy may gì cả. Thế nhưng chú chim con đã biến cái không thể thành cái có thể, hành động nó không ngừng bay qua bay lại như vậy vô tình đã cảm động đến trời Đế Thích.

Đế Thích nói rằng: “chú chim này quá vĩ đại, có tâm từ bi vô cùng to lớn! những chúng sinh này vốn dĩ là phải bị lửa đốt chết, thế nhưng nếu chúng ta không dập lửa thì chú chim này nhất định sẽ chết, vì cứu chú chim này, lửa cháy ở rừng cần phải được dập tắt.”

Kết quả, trời nổi sấm sét, mây ùn ùn kéo đến và một trận mưa xối xã đã đổ xuống, không mấy chốc lửa cháy đã được dập tắt hoàn toàn. Đế Thích cứu chú chim nhỏ, chú chim nhỏ cứu toàn bộ cánh rừng. Chú chim nhỏ này là hóa thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong một kiếp về trước khi ngài đang thực hành Bồ Tát đạo, đây cũng là câu chuyện tiền kiếp của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ngài rất từ bi, một lòng vì muốn cứu rỗi tất cả chúng sinh cho nên mới thành tựu được quả vị Phật Đà.

Chúng ta là những người học Phật, cần phải có tín tâm như thế này, cần phải mang hết khả năng để làm những công việc lợi lạc cho mọi người, làm từng chút một, sức nhiều thì làm nhiều, sức ít thì làm ít, không nên có suy nghĩ bản thân thấp cổ bé họng hay có tâm niệm không làm hay hơn làm. Việc tốt là việc tốt, không nên phân biệt nhỏ hay lớn. Làm từng chút từng chút một, thì nhất định có ngày sẽ làm được đại sự. Nên nhớ rằng, một người làm việc tốt sẽ kéo theo nhiều người làm việc tốt, trước mắt thì chưa thấy kết quả, nhưng tương lai nhất định sẽ có.

Người có tiền có thế, đương nhiên sẽ giống như Thiên Thần, làm mưa một trận thì có thể dập lửa toàn bộ cánh rừng. Không tiền không thế thì cũng có thể học chú chim nhỏ cứu toàn bộ cánh rừng. Chúng sinh ở trong rừng chưa thành Phật, chú chim kia đã thành Phật đầu tiên. Sự thật là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không hề có một niệm nghĩ đến bản thân, mà chỉ tâm niệm làm sao có thể giúp đỡ chúng sinh? Làm sao để chúng sinh thoát ra khỏi biển khổ? Vì thế Ngài đã thành Phật. Cho nên mới nói, lợi người tức là lợi mình, lợi người mới có thể lợi mình một cách vững chắc và đáng tin cậy nhất, hai cái này nó liên quan mật thiết với nhau.

Sau khi mình đã lo lắng chăm sóc những người thân trong gia đình, mỗi một lần trở về nhà, còn có người nào muốn gây lộn với mình chăng? Gia hòa thì vạn sự hưng, bản thân cũng đạt được hạnh phúc, như thế không phải là lợi mình hay sao? Nếu như bạn là một con quỷ tự tư tự lợi, lấy tiền tiêu vặt của con cái mang đi mua rượu uống, lấy tiền đi chợ của vợ mang đi đánh bài, lúc trở về nhà, người nhà sẽ dùng thái độ nào để đối xử với chúng ta? Cho nên mới nói, những ai thực sự muốn lợi mình, thì tốt nhất là làm lợi cho người trước. Lợi người nhất định sẽ có thể lợi mình, đây là đạo lý không gì phá vỡ được.

Tận tâm tận lực là quan trọng nhất

Thân thể của con người có cao có thấp, sức lực của con người có mạnh có yếu, trí tuệ của con người có sâu có cạn, tài hoa của con người có trí có độn, hành động của con người có nhanh có chậm, những người khác nhau cùng làm một việc giống nhau, mặc dù thành tích không giống nhau, thế nhưng chỉ cần làm hết sức lực, thì có thể thành tựu được công đức giống nhau. Tôi thường nói: “Người thông mình và có sức khỏe tốt nên làm nô lệ, làm người hầu cho những người đần độn và sức yếu; không làm người hầu, làm nô lệ được, chí ít cũng phải phục vụ cho họ. Người có khả năng thì nhiều lao lực, người có lòng nhân thì nhiều bận bịu, trên thế giới này có một số người chuyên đi chăm sóc người khác, cũng có rất nhiều người cần bạn đến chăm sóc và giúp đỡ.” Bình thường, chúng ta vừa được người khác chăm sóc, vừa được chăm sóc người khác, chúng ta phải nghỉ cách để dốc sức, dốc lòng, dốc hết trí tuệ và tài lực của mình để giúp đỡ những người cần sự giúp đỡ của chúng ta.

Thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni còn ở đời, có một vị phú ông tên gọi Tu Đạt, ông mua được một khu vườn mà mặt đất lát bằng vàng của một vị thái tử, sau đó cúng dường Phật và đệ tử của Phật làm nơi tu học và hoằng dương Phật pháp, công đức này quả thật vô cùng rộng lớn. Ngoài ra có một bà già nghèo, hành nghề ăn xin để sống qua ngày, bà ta muốn phát tâm cúng dường Phật, nhưng không biết nên lấy cái gì để cúng? Có người mách bảo cho bà ta rằng, nên lấy bát của bà đi xin một ít dầu, rồi đợi lúc tối đến, khi Đức Phật thuyết pháp cho đại chúng thì mang dầu đốt thành đèn, sáng chiếu khắp đạo tràng. Bà ta nghe như vậy thì y theo làm, Phật nhìn thấy được thì tán thán công đức của bà vô lượng vô biên.

Từ đó mà biết, người có sức lực lớn nếu phát tâm làm việc tốt, một lòng hộ trì Tam Bảo, thì phúc ấm sẽ rộng khắp nhân gian, và có thể được gọi là vị Đại Đức tu hành Đạo Bồ Tát. Ngoài ra còn có một số người, mặc dù sức lực nhỏ bé, nhưng vẫn có lòng hướng thiện, chúng ta có thể xem họ là vị Bồ Tát có tâm từ, phát nguyện thị hiện ở nhân gian, trở thành những thân phận ti tiện, tàn tật hay năng lực yếu để phương tiện giúp đỡ mọi người. Đương nhiên đối với những người này mà nói, thị hiện những hình dạng như vậy thì quá tàn khốc, xót xa, nhưng cũng càng biểu hiện ra cái vỹ đại của họ. Vì sao họ lại biến ra những hình dạng như vậy để cứu giúp người? Vì chỉ có những khiếm khuyết, hạn chế như vậy mới có thể dễ dàng khiến cho người khác khởi lên tâm lý đồng tình, khởi lên tâm cảnh giác với nhân quả nghiệp báo, hy vọng mọi người bỏ xấu làm lành, cùng nhau trở thành người tốt, cùng nhau tích cực làm việc tốt. Do đó, sống trên cuộc đời, người nào cũng có thể làm người tốt, người nào cũng có thể làm việc tốt, bất luận kẻ yếu người mạnh, tâm lực to nhỏ, trí lực cao thấp, tài lực giàu nghèo, quyền lực có không, địa vị sang hèn v.v đều phải tận tâm tận lực để tu phước tích thiện.

Không tranh giành người nhiều mình ít

Tập khí của con người hay thích hơn thua, tranh giành với người khác. Kỳ thật, theo quan điểm của Phật Pháp, biểu hiện bên ngoài ngắn dài hơn thua bao nhiêu là không quan trọng, quan trọng là hỏi lại bản thân đã tận tâm tận lực hay chưa. Trong kinh ghi lại, có một vị Bồ Tát vì muốn độ cho một chúng sinh mà trải qua bao nhiêu sanh tử, sau cùng thì thành được Phật quả. Ngoài ra có một vị Bồ Tát đã độ được vô lượng chúng sinh ở khắp chốn trời người, kết quả sau cùng cũng chứng được Phật quả. Nếu xét về mặt số lượng nhiều ít, giữa hai vị Bồ tát này khác nhau một trời một vực, nhưng luận về công đức thì ngược lại giống nhau hoàn toàn.

Những hội viên trong Hội hộ trì, lúc đang đi quyên góp thì gặp được một vị hội viên, chưa nói được gì thì đã bị thành viên Hội hộ trì khác kéo đi. Hoặc giả, cực khổ lắm mới kiếm được một người quy tín Tam Bảo, ai dè bị người khác dẫn đi đến đạo tràng khác. Nếu như gặp phải những tình cảnh như thế này, xin mọi người đừng vì thế mà thối tâm, ngược lại cần phải hoan hỷ, bởi vì cùng là hộ trì Tam Bảo như nhau. Chỉ cần tận lực làm, không nên tính toán tiền ít tiền nhiều, người ít người đông, giữa bên này bên kia không nên tranh công cướp chỗ. Bởi vì mọi người đến đây tất cả đều vì mục đích hành thiện tích đức, hộ trì Tam Bảo. Nếu như tranh luận ít nhiều, lắm khi còn khiến cho phiền não trong mình nổi dậy, như thế chẳng phải là một việc làm khờ dại, nực cười hay sao? Mỗi thành viên trong Hội hộ trì của Pháp Cổ Sơn đều phải như vậy, lúc đối ngoại, gặp gỡ giao lưu với các hội khác cũng phải như thế, đây là một điều luật tất yếu mà mọi người đều phải nhất loạt tuân thủ thực hành.

Là người con Phật, lại là hội viên Ban hộ trì Pháp Cổ Sơn, chỉ cần tận tâm tận lực làm việc, kết quả như thế nào không nên để ở trong lòng, cũng không nên mong rằng mọi người sẽ biết được mình làm được những gì, chỉ cần bản thân mình biết là đủ. Việc này sẽ ghi lại trong sổ công đức của bạn, không ai có thể lấy đi được, không thể xóa bỏ được, thiện nghiệp, ác nghiệp, vĩnh viễn sẽ đi theo bạn, do đó cho nên chúng ta không nên tranh giành, cũng không được tranh giành, chỉ cần tận tâm tận lực là tốt rồi.

Từ bi không có kẻ thù

Thương người, đồng tình người, tha thứ người, che chở người, quan tâm người v.v đều có thể xem đó là sự biểu hiện của tinh thần từ bi. Mục đích chủ yếu của từ bi là trong lòng không có kẻ thù, không có kẻ thù thì cũng không có hận thù quá khứ, hiện tại cũng chẳng có oan gia, càng không tạo sự đối đầu trong tương lai. Cho nên không nên ỷ thế cậy quyền, ỷ thế tiền nhiều mà xưng vương xưng bá, càng không nên dựa vào vũ lực có thể đánh bại tất cả mọi người để cho ta là kẻ vô địch, mà nên lấy lòng từ bi chăm sóc, tha thứ cho tất cả. Lòng từ bi càng lớn thì có thể cảm hóa được nhiều người.

Trên thế giới, không người nào có thể tránh khỏi sự phê bình của người khác, ngay đến Đức Phật cũng không phải ngoại lệ. Dù chưa đắc tội với người, cũng khó tránh khỏi khiến người khác ganh ghét, nhìn chúng ta với ánh mắt hận thù. Cho dù bạn không muốn đấu tranh với người ta, người ta cũng sẽ kiếm bạn để thách đấu; bạn không muốn tranh đua với người, người ta cũng sẽ tìm bạn để hơn thua. Thế nhưng, bạn không nên để ý xem người ta thế nào, điều quan trọng là trong lòng mình không có kẻ thù thì tốt.

Ví dụ, trong chùa Nông Thiền của chúng ta có một người tốt được mọi người xưng tán, đều nói anh ấy rất tốt, Sư Phụ cũng thường tán dương anh ta. Đương nhiên như thế sẽ có một vài vị cảm thấy trong lòng khó chịu, sẽ nghĩ: “anh ấy tốt, chẳng lẽ tôi không tốt hay sao? Sư phụ lúc nào cũng cho anh ta tốt, vì sao chưa có lần nào nói mình tốt?” những người như thế thì trong lòng nhất định sẽ có kẻ thù. Có kẻ thù thì nhất định có đối tượng để so sánh. Kẻ thù là đối địch, không nhất định là oan gia, giống như con gái hay ganh tị người khác đẹp hơn mình, trang điểm, ăn mặc đẹp hơn mình, như thế chẳng phải đối địch với người ta rồi sao? Nếu như không phải đố kỵ mà là thấy người khác tốt muốn học hỏi theo, như thế thì gọi là tâm từ bi.

Nên dùng tâm từ bi như thế nào? Cần phải hướng theo chiều ngược lại để nói, để nhìn, để giải thích. Ví dụ: có người không oán không thù gì cả, tự nhiên trừng mắt nhìn bạn, bạn sẽ cảm thấy trong lòng không yên. Lúc đó, bạn nên đứng trên hướng ngược lại để giải thích, để hiểu: “Nó trừng mắt nhìn mình, có thể do mặt mình không được đẹp, cũng có thể hôm nay mình có cái gì đó khác khác nên nó nhắc nhỡ mình, vì vậy mình phải cảm ơn nó.” “thái độ biểu hiện của người khác, là tấm gương cho mình soi” Nhìn thấy diện mạo người ta thì thấy ghét, có thể nguyên nhân là do mặt của mình không được đẹp, hoặc chí ít cũng vì dáng vóc của mình làm cho họ nổi nóng, hay khí chất của mình làm cho họ ganh ghét, cho nên họ mới trừng mắt nhìn mình.

Ngoài ra bạn cũng phải nên nghĩ: Mặc dù họ đang trừng mình, nhưng có thể họ không giận hờn gì mình, chỉ có điều là không biết vì chuyện gì khiến họ không được vui? Lúc này đây họ đáng được quan tâm, hỏi han. Cho nên chúng ta không được “lấy mắt trừng mắt”, mà nên tránh xa ánh mắt của họ, hoặc niệm cho họ một câu A Di Đà Phật, mong họ được bình an, đó chính là lòng từ bi của đạo Phật. Nếu không như vậy, một khi nổi lên tính khí đối địch thì bạn sẽ rời xa tâm từ bi. Nếu có thể nghĩ dùm họ, tha thứ họ, thương mến họ, quan tâm họ, thì có thể chuyển cái tâm đối địch thành tâm từ bi.

Nếu có một người không thèm quan tâm đến lý lẽ xuất hiện trước mặt bạn, bạn sẽ cảm thấy bất an, lúc này cần phải nghĩ: “Nó đã không thèm dùng lý lẽ, lại tức giận nữa, mình nên nói đạo lý, không được tức giận, nếu không như vậy sẽ như đổ dầu vào lửa thì phiền toái vô cùng.” Vì thế cho nên bất luận thời gian nào, chỉ cần chúng ta biết suy nghĩ ngược lại để nhìn người, vật và việc đó là tâm từ bi.

Thế nhưng, chúng ta đang trong giai đoạn phàm phu, muốn đạt được trong lòng không có hận thù thì quả thật quá khó, cho nên chúng ta lúc nào cũng phải nghĩ đến lòng từ bi, chí ít cũng không được đụng một tí là nổi lên giận hờn.

Trí tuệ sẽ không khởi phiền não

Không nên cho rằng khai ngộ mới là trí tuệ, trí tuệ là sự tĩnh lặng của đầu óc, là lý trí, lý tánh. Phiền não của con người đều do tâm tư tình cảm mà có, đặc biệt khi gặp những vấn đề liên quan đến chuyện tình cảm thì phiền não nhất định sẽ sinh ra, những lúc như thế, chúng ta cần phải dùng lý trí, lý tánh để xử lý thì phiền não mới được giảm bớt.

Từng có một cô gái đến gặp tôi, bộ dạng vô cùng đau đớn thê thảm, vừa khóc vừa nói với tôi rằng, cô ta quen và yêu một anh chàng nào đó, thời gian cũng đã được bảy năm, trong khoảng thời gian ở bên nhau đó cả hai người đều không cảm thấy hạnh phúc, vô cùng khổ cực, sống không bằng chết. Thế nhưng khi rời xa nhau thì ngày nhớ đêm mong. Cô ấy muốn rời xa anh ta nhưng lại bị anh ta uy hiếp, rằng nếu không có cô ấy thì anh ta sẽ chết. Cô gái này cho rằng, dù cô ta rời xa anh ấy chăng nữa, thì anh ấy cũng chẳng bao giờ tìm đến cái chết, ngược lại, nều hai người mãi dính chặt với nhau như vậy, cũng có ngày mệt mõi mà chết không chừng. Tôi khuyên cô ta nên dùng lý trí để suy nghĩ và xử lý, quả nhiên qua một thời gian sau cô ta nghĩ thông rồi, những giọt nước mắt đã thay thế bằng những nụ cười rạng rỡ.

Có rất nhiều vấn đề chúng ta cần phải lấy lý tánh khách quan để xử lý, cần phải dùng trí tuệ để phân tích nó. Có một số người, khi gặp phải chuyện không vừa lòng thì cầu trời khấn Phật, như thế không phải là phương pháp tốt, ngược lại, nếu biết dùng trí tuệ, lý trí để xử lý, thì vấn đề sẽ không còn nữa. Phạm pháp thì phải ngồi tù, hoặc có thể nhờ cậy luật sư để giảm bớt hình phạt. Có điều, trong lòng phải biết, có tội ngồi tù thì phải ngồi, biết nghĩ như thế thì không còn phiền não nữa. Người có bệnh thì phải đi bệnh viện, cũng có thể niệm A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát. Có một số trường hợp, Bác sỹ ở bệnh viện đã tuyên bố vô phương cứu chữa, thế nhưng nhờ công đức niệm A Di Đà Phật, Quán Thế Âm Bồ Tát mà điều kỳ diệu đã xuất hiện, hồi phục khỏe mạnh. Những câu chuyện như vậy thì rất nhiều.

Trí tuệ của Phật Pháp là chỉ sự quan sát, sức chọn lựa hay khả năng phán đoán vô tư vô ngã, dù gặp phải tình huống thế nào đều làm theo cái phải làm, không vì sự được, mất hay lợi ích cá nhân mà tính toán. Chính bởi vì việc gì cũng làm theo sự vô tư, không mưu cầu lợi lạc cho bản thân, cho nên phiền não sẽ xa lánh mình.

Trí tuệ của Phật Pháp chính là sự giác ngộ cuộc đời vô thường, biết không một vật hay một việc gì có thể tồn tại vĩnh viễn mà không thay đổi. Kẻ phàm phu vì không hiểu được thế sự vô thường, cho nên mới lấy cái thế giới thân tâm tạm thời này làm thành cái tôi nhỏ (tiểu ngã) và cái tôi lớn (đại ngã) rồi đi tranh cái này của mình, cái kia của người, tranh nhiều ít, tranh trong ngoài, tranh đúng sai, để rồi mang lại vô số phiền não, hệ lụy.

Sự thật, cuộc sống vốn dĩ phẳng lặng, chỉ do con người tự mình tìm kiếm ưu não mà thôi. Phàm phu là người không có trí tuệ, là người xử lý công việc mà không dùng lý trí, lý tánh, nếu biết được Phật Pháp, sự việc ắt sẽ được cải thiện. Phật Pháp nói đến nhân quả và nhân duyên. Người hiểu được nhân quả, thì làm việc gì, đối diện với việc gì cũng không có ưu não, muộn phiền; người ngộ được nhân duyên thì việc gì cũng không có cưỡng cầu, như vậy thì còn phiền não gì nữa?

Người bận rộn thì có nhiều thời gian hơn cả

Các vị cư sĩ đang ngồi ở đây, đa số là những người rất bận rộn, vậy mà cũng cố gắng sắp xếp thời gian để đến đây nghe Pháp, học ngồi thiền, niệm Phật, lạy sám và tham gia các công việc của Pháp Cổ Sơn, như thế mới biết, người bận rộn có nhiều thời gian nhất. Tôi có biết một Phật tử nữ, vì cô ấy là trụ cột của gia đình, nên rất ít có cơ hội tham gia các khóa đồng tu của Pháp Cổ Sơn. Tôi hỏi nguyên nhân vì sao? Cô ta trả lời vì ngày nào cũng bận rộn với công việc, rất vất vã. Tôi hỏi bận việc gì? Thì ra là cô ấy phải chăm sóc chồng, ngày nào cũng phải lo lắng hai bữa cơm trưa chiều, làm việc nhà, như thế thì đã cảm thấy quá bận rộn. Như thế mới biết, người nhàn nhã thì thời gian dành cho họ vô cùng ít.

Sự thật, thời gian để chúng ta chăm sóc cho cuộc sống hằng ngày thì không nhiều, làm việc gì chúng ta cũng có thể tiết kiệm được thời gian, vì thế không nên chần chừ, do dự lãng phí nó một cách vô ích. Có người chỉ mỗi việc súc miệng không thôi mà cũng mất hai mươi phút, một ngày súc năm lần thì phải mất một trăm phút, đó là một cách làm việc thiếu hiệu quả kinh tế.

Tôi có một pháp hữu, sáng nào thức dậy cũng phải gội đầu, đúng là bản lĩnh lớn, gội đi gội lại, gội đến khi nào trong chậu nước không còn tí gàu nào cả mới thôi, mỗi ngày chí ít cũng phải mất nữa tiếng cho việc gội đầu.

Tôi hỏi thầy ấy: “thầy có nhiều thời gian để gội đầu vậy à?”

Thầy ấy nói: “không! Tôi đang tu, tôi phải bình tĩnh rửa sạch đầu này mới thôi, lòng tôi cũng phải rửa sạch không còn phiền não.”

Nghe được như vậy tôi vô cùng khâm phục thầy ấy, nhưng quả thật tôi không có nhiều thời gian như thế để gội đầu, cho nên mỗi lần gội tôi chỉ cần một hai phút là được. Các vị chăm sóc cuộc sống hằng ngày cho bản thân cũng phải nên học cách sắp xếp, tiết kiệm thời gian, như thế thì chúng ta sẽ xử lý được rất nhiều công việc một cách nhanh chóng. Người có nhiều thời gian thì hay tiêu hao nó một cách không hay không biết.

Những người có địa vị cao, hoặc những vị kinh doanh sự nghiệp lớn, hằng ngày phải xử lý rất nhiều công việc, như vậy họ sẽ ứng phó như thế nào? Tôi từng hỏi một Nhân vật lớn, rằng ông ấy làm thế nào để có thể xử lý nhiều công việc như thế? Ông ấy nói: “Vua sai thì thần làm, người làm chủ không cần phải bận, cũng chẳng cần phải viết, chỉ cần mở miệng là đủ. Đầu óc của tôi lúc nào cũng giữ bình tĩnh, để khi gặp phải một việc gì đó thì lập tức chỉ đạo cho thuộc hạ biết cách thức xử lý mà không cần tôi phải ra tay. Vả lại, một cuộc điện thoại thì có thể giải quyết rất nhiều vấn đề, xử lý rất nhiều công việc. Thế nhưng có nhiều người không biết cách xử lý công việc, vốn chỉ cần một cuộc điện thoại thì mọi chuyện sẽ hoàn thành, họ ngược lại phải gọi hai mươi cuộc, nói đi nói lại mà sự việc chưa chắc đã giải quyết xong.” Cho nên ông ấy nói: “tôi làm lãnh đạo dù nhiều việc nhưng không bận rộn.”

Tôi hỏi ông ấy: “Ông có thời gian để tọa thiền không?”

Ông ấy trả lời: “dạ có! Tôi ngồi thiền hai thời một ngày.”

Tôi cũng có quen biết một số người rất bận, nhưng họ vẫn có thời gian để ngồi thiền. Họ bận như vậy sao lại có thời gian ngồi thiền? Có! Người bận bịu đến cở nào cũng nhất định có thời gian, ngược lại người không bận gì cả thì lại không có. Vì sao như vậy? Bởi vì trân quý mạng sống, trân tiếc thời gian, thì họ sẽ biết sử dụng thời gian như thế nào cho hợp lý; ngược lại, người không biết mạng sống là đáng quý, không hiểu thời gian là vô giá, thì họ sẽ không tranh thủ thời gian được.

Cần lao là tốt nhất đối với sức khỏe

Thân thể mặc dù đáng quý, nhưng tâm lý mạnh khỏe thì càng quý hơn, cho nên sức khỏe là chỉ thân tâm ổn định, ít bệnh ít phiền, sống vừa tích cực mà vừa an lạc.

Trong giới Phật giáo Đài Loan ngày nay, có rất nhiều Chư Tôn Đức sức khỏe không được tốt lắm, giống như Trưởng lão thượng Ấn hạ Thuận, năm nay Ngài đã thọ một trăm tuổi, nhưng từ nhỏ đến giờ sức khỏe của Ngài vẫn trong tình trạng không được tốt lắm. Sự rộng sâu về học thức, hay những trước tác của Ngài trong lịch sử Phật giáo thì vô cùng hiếm thấy người nào như vậy. Ngài đã xem rất nhiều sách, viết rất nhiều sách, học vấn của Ngài cao siêu như vậy, nên là người rất bận bịu, thế mà Ngài lại là người bệnh xưa nay.

Lại giống như Pháp sư Chứng Nghiêm, đệ tử của Ngài Ấn Thuận, sức khỏe của Sư cũng không tốt, đệ tử ai cũng lo lắng không yên, vậy mà Sư vẫn sống, vẫn an nhiên tự tại qua ngày trong sự bận bịu. Đó là vì lòng Sư chứa đầy bi nguyện, với lòng từ vô cùng vô tận, cho nên tình trạng sức khỏe không phải là vấn đề đối với Sư.

Đệ tử của tôi cũng hay lo lắng về vấn đề sức khỏe của tôi, họ nói: “Sư phụ mỗi ngày thức sớm ngủ muộn, ăn thì ít mà làm việc thì nhiều, nói chuyện cũng nhiều, nếu như một ngày nào đó Sư phụ viên tịch thì ai sẽ kháng đáng công việc của Pháp Cổ Sơn? Ai có thể hưng khởi Pháp Cổ Sơn?” hiếu tâm này của các đệ tử khiến tôi vô cùng cảm động.

Sức khỏe của tôi không tốt, đây là sự thật, nhưng cũng xin mọi người chớ có lo lắng, bản thân tôi biết vì sao mà sức khỏe không tốt, tôi cũng sẽ dành thời gian để nghỉ ngơi, tôi tin vào sức khỏe tâm lý của tôi rất tốt, thỉnh thoảng ốm đau một tí cũng không sao. Thật ra mọi người cũng không nên cho rằng mình nhỏ bé mà không dám cho mình là thầy, đợi tu đến tuổi như tôi rồi mới siêng năng để cống hiến, đó là suy nghĩ sai lầm. Chính bởi vì tu chưa tốt cho nên mới siêng năng, siêng năng rồi thì mới có sức khỏe, vì không siêng năng cho nên sợ bệnh tật. Do đó cho nên tôi khuyên các vị, mỗi lần bị bệnh thì phải nhắc nhở bản thân rằng: “Vì mày lười biếng nên có thời gian mà sinh bệnh tật!” Mọi người chỉ cần phát tâm tinh tấn cần cù thì chư Phật, Bồ Tát, Hộ pháp, Long thiên, nhất thiết thiện thần đều gia trì cho các vị, khiến cho tâm lực của các vị sẽ liên đới với sức lực, làm cho thân thể khỏe mạnh lên.

Không phải tôi kêu gọi mọi người không được đau ốm, vì đau ốm là chuyện bình thường của chúng ta. Vấn đề là sau khi đau ốm thì trong lòng không được nghĩ rằng bản thân đã hết cách, việc gì cũng không thể làm được. Cần phải giữ cho tâm lý được mạnh khỏe, tin rằng mình có thể làm được một việc gì đó. Nếu thực sự ốm đau nằm liệt giường, ko thể làm được việc gì cả, thì cũng có thể làm được một việc đơn giãn, đó là niệm Phật. Miệng không niệm nổi thì dùng lòng để niệm, chỉ cần trong lòng lúc nào cũng niệm Phật thì cũng có thể gọi đó là cần cù.

Mục đích là để trồng nhiều ruộng phước

“trồng nhiều ruộng phước” nghĩa là kết duyên với nhiều người. Ruộng phước có hai loại và phân thành bốn: Hai loại là “Kính điền” và “Bi điền”. “Kính điền” gồm ơn Tam Bảo, ơn Quốc gia xã hội, ơn Cha Mẹ; “Bi điền” bao gồm người nghèo và người bệnh.

Người nghèo chia thành hai loại:Vật chất và tinh thần; người bệnh cũng chia hai loại:Thân bệnh và tâm bệnh. Bất luận là nghèo về đời sống vật chất hay khổ về đời sống tinh thần, đối với cấp nạn của chúng sinh mà mình có thể phát tâm tương trợ hay cứu giúp, đó đều được gọi là trồng ruộng phước từ bi.

Muốn trồng nhiều ruộng phước thì cần phải xem tất cả mọi người đều là đối tượng để cho mình chăm sóc, phục vụ và giúp đỡ. Không luận là Bi điền hay Kính điền, chúng ta cũng đều phải nổ lực để trồng, mang lại niềm vui và nhổ hết khổ đau cho người bất cứ lúc nào.

Giúp đỡ người bằng vật chất có thể nhất thời khiến cho họ ly khổ đắc lạc, ngược lại, giúp người tin Phật, học Phật, rồi tu hành có thể khiến cho người mãi mãi ly khổ đắc lạc. Bất luận nơi đâu, thời gian nào, gặp ai, chúng ta cũng không nên bỏ qua cơ hội được trồng ruộng phước, nhân duyên làm điều thiện đối với người, mang lại an lạc cho người. Nhân duyên trước mắt đã gặp, chúng ta phải làm trước, làm sớm và làm cho nhanh; nhân duyên chưa xuất hiện thì phải nghỉ cách để hun đúc cho nó sớm chín muồi.

Sợ gì vất vã, trách móc

“nhậm” cũng có thể gọi là “nhẫn”, nghĩa là chịu trách nhiệm, gánh vác trách nhiệm, hay nhẫn nhục gánh vác trách nhiệm nặng nề.

Trong cuộc sống, mình đối tốt với người, chưa chắc người ta cảm ơn mình, thậm chí cái mà mình nhận được từ họ là sự lấy oán trả ơn. Mỗi lần như thế, mình phải suy nghĩ tích cực, và niệm hai câu: “Mục đích của tôi là được trồng nhiều ruộng phước, chẳng sợ gì vất vã hay trách móc giận hờn.” Chúng ta chỉ nên hỏi cấy cày mà không cần hỏi thu hoạch ra làm sao, sự phản hồi của người khác như thế nào mình không cần tính toán, cũng chẳng phải sợ sệt, chỉ cần mục đích không phải là vì bản thân, mà là vì muốn khuyên người khác làm lành tránh dữ, khuyên họ chăm sóc, vun trồng cội phúc, hay thậm chí là dùng cách khuyên họ mang tiền, mang sức, mang thời gian ra để trồng cây phúc trong vườn công đức của họ. Vì thế cho nên chúng ta không cần lo lắng, cũng không cần quan tâm đến những sự hồi đáp không lịch sự. Nếu lòng chúng ta còn nghĩ đến việc đó, thì nên niệm hai câu: “Mục đích của tôi là được trồng nhiều ruộng phước, chẳng sợ gì vất vã hay trách móc giận hờn” này như hai câu thần chú để dùng. Nếu niệm một lần không có công hiệu thì niệm thêm hai ba lần nữa, sau khi niệm vài lần thì nhất định những sự bực tức trong lòng sẽ tan thành mây khói.

Phật Pháp dạy cho chúng ta biết rằng, người học Phật cần phải xem từ bi là cha, trí tuệ là mẹ, tinh tấn là áo giáp, nhẫn nhục là áo khoác. Ai có thể nhẫn được, người đó sẽ có phước báo, nhẫn nhiều thì phước báo nhiều, nhẫn ít thì phước báo ít, không nhẫn thì không có phước báo.

Người biết bố thí sẽ có phước báo

Để đảm bảo tương lai có một cuộc sống an lạc, hạnh phúc, chúng ta cần phải có thói quen tích lũy. Người nào biết tích lũy thì sẽ biết được ngân hàng nào là an toàn, ngân hàng nào có lãi xuất cao vân vân. Nói theo Phật Pháp, tích lũy có thể phân thành hai loại: Có thời hạn và vô thời hạn, tạm thời và vĩnh cữu. Nếu gửi vào ngân hàng của cá nhân thì sẽ có thời hạn và mang tính chất tạm thời; gửi vào ngân hàng xã hội thì vô hạn và vĩnh cữu; gửi vào ngân hàng Tam Bảo thì vừa vô hạn, vừa vĩnh cữu, lại vừa vô tận. Bởi vì tích lũy ngân hàng cá nhân, chỉ có bạn và một số ít người có thể lấy dùng; tích lũy ngân hàng xã hội thì rộng ra toàn thế giới có thể dùng, và lâu đến khi địa cầu bị hủy diệt mới hết hạn; gửi vào ngân hàng Tam Bảo thì mười phương thế giới có thể dùng được, thời hạn của nó thì kéo dài cho đến tương lai ba đời vẫn còn. Sông có khúc, người có lúc, vì thế chúng ta phải nhanh chóng, kịp thời tích lũy, gửi gắm vào ba ngân hàng trên.

Bố thí là phương pháp tốt nhất để cứu độ chúng sinh, và cũng là phương pháp căn bản nhất để tu theo đạo Bồ Tát, càng là cách tích lũy vô tận cho chúng ta. Bố thí có thể phân thành ba loại: tài thí, vô úy thí và pháp thí.

Người hành thiện thì sẽ an lạc

Người tốt sẽ không đơn côi, người thiện là kẻ an lạc nhất. Lúc nào, ở đâu cũng đều có tâm niệm giúp đỡ người khác, lợi lạc người khác, kết quả bản thân ở đâu, lúc nào cũng đều đạt được an lạc hạnh phúc.

Nhìn thấy mọi người nhờ được sự giúp đỡ của mình mà giải quyết được chướng nạn, lúc đó trong lòng bạn tự nhiên sẽ cảm thấy an ổn. Ví dụ trên đường cứu được đứa bé xém tí bị xe đụng, sau đó thì nhìn nó lớn lên, nhìn nó trưởng thành, gặp được nó thì lòng rất vui mừng, rất hạnh phúc, vì nó sống đến được ngày hôm nay là nhờ bạn cứu.

Một ví dụ khác, bạn đã từng dẫn một cụ già qua đường, sau đó nếu có cơ hội gặp lại cụ già đó thì lòng của bạn vô cùng vui mừng, vì nghỉ đến mình đã từng dẫn cụ qua đường, bản thân đã từng làm một việc tốt. Nếu bạn thường làm việc tốt, thì lòng sẽ không còn phiền não, không nghĩ đến những điều xấu xa tội lỗi. Nếu thường làm tấm gương đẹp đẽ cho mọi người thì sẽ không còn tính toán với người, làm việc tốt cũng không để ở trong tâm, gặp bất kỳ người nào trong lòng cũng đều hoan hỹ vui mừng. Cho nên mới nói “giúp người là cội nguồn của niềm vui”, người làm việc thiện nhất định sẽ an lạc. Là đệ tử Phật thì càng phải làm nhiều việc thiện, càng phải giúp đỡ nhiều người.

Thời thời tâm đầy Pháp hỷ

Trong kinh Pháp Hoa, hình dung thế giới phàm phu của chúng ta là ngôi nhà lửa, và Phật Pháp là công cụ giao thông hữu hiệu nhất để thoát khỏi ngôi nhà lửa đó. Trước khi chúng ta tin Phật nghe pháp, thường bị ngọn lửa phiền não thiêu đốt, giống như con kiến bò trên nồi nhiệt, chạy đông chạy tây, hồn siêu phách tán, cũng chẳng biết nơi đâu là cửa thoát thân, là nơi trở về. Sau khi nghe được Phật Pháp, tin ngưỡng Phật giáo, lúc đó mới có thể thoát được sự thiêu đốt của ngọn lửa phiền não, giống như mua được vé tàu, lên được tàu, đi về thế giới an lạc, mát mẽ. Vì thế cho nên chúng ta lúc nào cũng phải cảm thấy hạnh phúc, lúc nào cũng phải thật hoan hỷ.

Ngài Khổng Tử, bậc thánh của Nho gia từng có một câu danh ngôn: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hỷ” (sáng nghe đạo, chiều chết cũng vui), biểu thị rằng, một khi biết đâu là chỗ để trở về thì lòng chúng ta sẽ cảm thấy nhẹ nhàng an lạc, không hề một niệm lo lắng bất an. Huống hồ Phật Pháp đã cho chúng ta một đạo lý, từng bước, phương hướng, phương pháp và mục đích để tu hành, bất luận là ai, tất cả đều có thể học được và làm được. Vì thế cho nên sau khi gặp được Phật Pháp, bạn có thể không vui mừng được sao?

Có thể tu theo Phật Pháp, đó là điều đáng mừng. Chúng ta không rời Phật Pháp, chúng ta tin theo Phật Pháp, tu theo Phật Pháp, đương nhiên trong lòng rất vui, rất hoan hỷ. Giống như giải độc đắc trong sổ số kiến thiết thì vô cùng khó trúng, khi bạn gặp được Phật Pháp thì giống như bản thân trúng độc đắc vậy, lại còn mang đi đổi lấy được tiền. Chỉ cần hiểu được một câu Phật Pháp thì giống như người giàu nhất thiên hạ rồi.

Trong vô lượng chúng sanh, đạt được thân người thì vô cùng khan hiếm. Trong thế giới nhân loại, người có thể nghe được Phật Pháp, tu học theo Phật Pháp số lại càng ít hơn. Vậy mà chúng ta lại là những người gặp may trong những số ít ỏi đó. Phật dạy thân người khó được vậy mà hôm nay chúng ta đã được thân người. Phật dạy Phật Pháp khó nghe, vậy mà hôm nay chúng ta đã được nghe Phật Pháp. Người bình thường khó mà nghe, tin và theo Phật Pháp để tu hành, vậy mà chúng ta đang tu hành theo Phật Pháp, chí ít cũng biết tu phước, tu huệ, chúng ta đã biết đạo lý từ bi và trí tuệ, đã biết đọc hai mươi câu khuyến tiến này, trong lòng nhất định rất vui mừng, lúc nào cũng sinh tâm hoan hỷ, gặp người nào cũng có thể mang Phật pháp kết duyên với họ, như thế là điều đáng để chúng ta vui mừng và hoan hỷ.

Niệm niệm không rời thiền duyệt

Thiền duyệt là chỉ sự an định, cân bằng, bình tĩnh và bình an trong tâm niệm.

Thông qua các phương pháp tu hành như nghe Pháp, niệm Phật, lễ Phật, có thể khiến cho tâm chúng ta càng ngày càng giảm thiểu được các hiện tượng sợ sệt, lo lắng, hối hận, ngông cuồng, nghi ngờ lo lắng, tham dục, nóng nảy và giận hờn vân vân, cái này là một loại thiền duyệt. Ngoài ra, mọi người nếu có thể lúc nào cũng nghĩ hai mươi câu “Lời khuyến tiến giành cho bốn chúng đệ tử của Phật” này, trong lòng nhất định sẽ được bình an, bình tĩnh, ổn định, đây cũng là thiền duyệt.

Không phải thầy nhập định ngồi kiết già mấy tiếng đồng hồ mới gọi là thiền duyệt, chỉ cần tâm không tạp loạn, vọng động, thì cũng là một loại thiền duyệt.

Thuyền duyệt không phải là sự vui mừng một cách thái quá, mà là thân không mang nặng, tâm không lo âu. Nếu như thể nghiệm được một giây thì chúng ta có được một giây thiền duyệt. Nếu thường ở trong trạng thái bình tĩnh, ổn định, an lạc, như vậy là niệm niệm không rời thiền duyệt. Chỉ cần mọi người thường đọc hai mươi câu “Lời khuyến tiến giành cho bốn chúng đệ tử của Phật” này thì có thể đạt đến cảnh giới đó. Cho nên thể nghiệm thiền duyệt đơn sơ không phải là một việc khó.

Xứ xứ Quán Âm Bồ Tát

Quán Âm Bồ Tát ở đâu?ở trong lòng chúng ta. Bồ Tát Quán Âm cứu khổ cứu nạn, tìm âm thanh để cứu khổ, Ngài hiện thân khắp mọi nơi mọi chốn. Nơi nào có khổ, chỉ cần niệm Thánh hiệu Bồ Tát Quán Âm, Ngài liền đến cứu khổ. Sự thật, Bồ Tát Quán Âm chưa từng rời xa chúng ta bao giờ.

Gặp phải bất kỳ khó khăn gì, bất kỳ vấn đề gì, ví dụ như trong giây phút sanh tử, tai nạn nghiêm trọng, ốm đau vô phương cứu chữa, hoặc không nhận được sự giúp đỡ của người khác, không còn hy vọng gì nữa v.v thì giao hết cho Bồ Tát Quán Âm. Thường niệm Bồ Tát Quán Âm, thì Ngài nhất định sẽ đến cứu giúp chúng ta. Cho nên chúng ta phải thường niệm Bồ Tát Quán Âm và khuyên người cùng niệm.

Thanh thanh A Di Đà Phật

Tôi thường khuyên bảo hàng tại gia cư sĩ cần phải hay nói: “xin lỗi Sư anh, Sư chị!” “A Di Đà Phật, cảm ơn anh (chị)”. Gặp mặt thì nên xưng sư anh, sư chị, bất luận muốn nói điều gì, hay muốn chào hỏi, trước tiên phải niệm câu: “A Di Đà Phật!”, sau khi nói chuyện xong cũng niệm “A Di Đà Phật!”, người quen hay không quen cũng như vậy, nơi nào, lúc nào cũng không được rời câu “A Di Đà Phật!”. Như thế thì tất cả đều hoan hỷ.

Cho dù xảy ra chuyện gì: chuyện gấp, chuyện khó, chuyện tai họa, chuyện dữ, chuyện vui v.v đều không quên niệm “A Di Đà Phật!” và Bồ Tát Quán Âm. Từng có một vị nữ thí chủ, hộ Pháp của Pháp Cổ Sơn, một đêm đang ngồi trong nhà thì gặp nạn cướp bốc, tụi cướp kéo đến năm người, nữ thí chủ đột nhiên nhớ đến lời của tôi khuyên thường niệm Bồ Tát Quán Âm, thế là trong lúc bị tụi cướp trói lại, cô ta niệm lớn Bồ Tát Quán Âm, kết quả tụi cướp không làm cách nào để trói cô được. Sau cùng thì nhà cô chỉ mất một ít tiền mặt, cả nhà già trẻ trên dưới bốn người đều bình an vô sự. Thế nên mọi người cần phải nhớ kỷ: Lúc cấp nạn, lúc không ai cứu mình thì cần phải niệm Bồ Tát Quán Âm hay A Di Đà Phật. Lúc khẩn cấp mà niệm, nhất định sẽ có cảm ứng; lúc bình thường mà niệm, đảm bảo sẽ được an toàn. Khuyên người niệm, rộng kết thiện duyên!

Lời kết

Hy vọng mọi người có thể đọc thuộc hai mươi câu ở trên, thuộc lòng hai mươi câu này nhất định sẽ hữu dụng, sẽ đưa bạn đến chỗ bình an vô sự. Sau khi đọc thuộc xong, phải nên ngẫm nghĩ hàm ý của nó thì mới có thể vận dụng một cách như ý muốn, ở bất kỳ hoàn cảnh, thời gian nào. Gặp lúc có người giận hờn, chỉ trích hay tranh ngắn đoạt dài với bạn, hoặc lúc bận rộn tối tăm mặt mày, lúc lòng tin bị lay động v.v thì bạn cần phải vận dụng hai mươi câu ở trên.

Tôi luôn mãi mãi chúc phúc cho quý vị!

Giảng tại chùa Nông Thiền, ngày 22 tháng 8 năm 1990. Tu sửa và đính chính vào tháng 6 năm 2004.