ĐỜI NGƯỜI SỐNG VÌ ĐIỀU GÌ

Ý nghĩa của cuộc sống là tận tâm với trách nhiệm

Có nhiều người hỏi tôi rằng: Bản chất cuộc sống là gì, ý nghĩa của cuộc sống là gì? Giá trị của nó nằm ở đâu? Mục đích của cuộc sống là gì?

Ý nghĩa của cuộc sống là phải có trách nhiệm, tận tâm với trách nhiệm. Trong quá trình sống của mỗi một con người, từ khi sanh ra cho đến lúc già chết, bản thân họ đóng rất nhiều vai trò khác nhau. Điển hình vai trò của một nữ nhi, khi lớn lên phải làm mẹ; là học trò rồi sẽ làm giáo viên; là đồng sự, là trưởng phòng, là thuộc hạ, là bạn bè. Đây là những vai trò giữa người với người trong quan hệ luân lý, thuộc về phạm vi trách nhiệm.

Nếu không tận tâm với trách nhiệm, không làm tròn vai trò bổn phận, thông thường gọi là người “chẳng ra gì cả”. Đứng trên tiêu chuẩn luân lý của tự thân mà nói, nếu thường phát hiện thấy mình chẳng ra gì, bởi vì chỉ cần không đủ trách nhiệm với vai trò mà mình đảm nhận thì đó là chẳng ra gì rồi.

Giá trị của cuộc sống là cống hiến và phụng sự

Thế nào gọi là giá trị của cuộc sống? Nhiều người cho rằng có thể là sự nổi tiếng, địa vị cao, có thế lực, hoặc là giàu có, những thứ này cho thấy rằng họ là những người có giá trị tương đối cao. Nhưng những thứ này rốt cuộc có được coi là giá trị hay không? Cũng có thể và cũng không có thể. Còn phải xem anh ta có bao nhiêu cống hiến cho xã hội, nếu họ không có cống hiến, mà chỉ có tiền tài địa vị, danh vọng thì giá trị của anh ta chỉ có giới hạn mà thôi.

Cống hiến và phụng sự cũng cần xuất phát từ sự tận lực với trách nhiệm, làm một cách có trách nhiệm, hơn thế nữa phải làm tròn trách nhiệm ở những vai trò khác nhau để cống hiến.

Trên thế giới này, những người trực tiếp qua lại với chúng ta thì không nhiều, nếu có thể nhớ lại khi chúng ta con thơ dại đến bây giờ, những người mà chúng ta quen biết, thử viết tên họ ra để xem được bao nhiêu? Tin rằng con số đó không nhiều , e rằng rất ít người có thể viết ra được một ngàn cái tên có liên quan đến mình. Trong lòng mỗi chúng ta nghĩ đến là người thân bạn bè, quay qua quay lại cũng chỉ có mấy người đó, nhưng nếu tính thêm những người có liên hệ gián tiếp thì con số đó chắc là nhiều hơn.

Nói đến trách nhiệm, chỉ có thể đối với một số việc, hoặc chịu trách nhiệm đối với một số ít đối tượng đặc biệt, nhưng nói đến sự cống hiến thì khác, bất luận là có đóng vai trò trách nhiệm nào hay không, ở bất cứ trường hợp nào, đối tượng nào, tất cả đều có cơ hội cống hiến, bất luận là chúng ta có quan hệ trực tiếp với họ hay không, cũng đều có thể cống hiến.

Ví dụ khi chúng ta đang đi trên đường, thấy một em bé xa lạ muốn qua đường, bạn không phải là người có trách nhiệm phải dẫn em bé đó qua đường, nhưng đây là một cơ hội để cống hiến. Cũng có nhiều người nghĩ rằng: “Em bé đó một mình qua đường không có chuyện gì xảy ra đâu, chúng ta đang vội và cũng chẳng có thời gian.” Nhưng nếu em bé đó bất ngờ bị xe đụng, thì rõ ràng chúng ta đã bỏ qua một hành động rất nhỏ để có thể cứu người rồi, há không phải khiến chúng ta hối tiếc hay sao?

Gánh vác trách nhiệm cống hiến

Gọi là cống hiến, không nhất định trong phạm vi có liên hệ trực tiếp với mình, nó thể lớn hoặc nhỏ, hoặc xa hay gần. Lớn có thể mở rộng ra cả thế giới, cho đến đối với tất cả chúng sanh, chúng ta đều gánh vác trách nhiệm cống hiến và phụng sự. Tuy rằng ý nghĩa của cuộc sống là tận tâm với trách nhiệm, thì chỉ cần chu toàn trách nhiệm công việc hiện tại của mình là được rồi, nhưng đây chỉ là tận tâm với bổn phận mà thôi, đây chưa có gì gọi là cống hiến to lớn cả.

Khi tôi (H.T Thánh Nghiêm) đang còn du học ở Nhật Bản, thầy tôi là ngài Đông Sơ biết được ở Đài Bắc có vài ngôi chùa đang tranh chấp tài sản và quyền lực, liền viết cho tôi một bức thư nói rằng: “Phật giáo hiện nay có thể nói là rất đáng thương, công việc hoằng dương Phật pháp ít có ai đứng ra làm, mà lại có người tranh chấp quyền hạn và tài sản trong chùa.”. Không chỉ có sự tranh chấp trong tín đồ Phật giáo, đến nỗi chính quyền cũng tranh giành chùa chiền, sự việc này có liên quan đến những chùa chiền mà Nhật Bản đã tạo dựng nên khi chiếm đóng Đài Loan, nó thuộc về tài sản của địch nên chính phủ muốn thu hồi. Biết vậy nhưng sư phụ cũng khích lệ tôi rằng: “Hiện nay mọi người chỉ tranh chấp chùa chiền mà không muốn cứu vãn Phật pháp, nay đem Phật pháp để cứu lấy nhân tâm, chúng ta cần phải gánh lấy trách nhiệm cứu rỗi vận mệnh của Phật pháp.”

Cho nên nói, giới Phật giáo chỉ biết tranh giành chùa miếu thì chẳng có lợi ích gì, mà phải nỗ lực bồi dưỡng nhân tài để hoằng pháp, cống hiến cho xã hội, đây mới là biện pháp căn bản. Như nói rằng hiện nay Phật giáo đã thể hiện được sự cống hiến với xã hội Đài Loan, cho thấy được giá trị tồn tại của Phật giáo. Cũng như trước đây có cơn bão Hạ Bách đổ bộ vào Đài Loan, chùa Nông Thiền cũng là một trong những nơi bị thiệt hại, toàn bộ xung quanh chùa đều bị ngập trong một mét nước sâu suốt hai ngày, thiệt hại rất lớn. Tôi nói với tứ chúng của Pháp Cổ Sơn rằng: “Chúng ta tuy bị ngập nước, nhưng cũng nên phát động phong trào quyên góp đối với Phật tử toàn tỉnh để làm công việc cứu trợ.” Cuối cùng mọi người cũng quyên góp được tổng cộng là ba trăm vạn Đài tệ. Đây cũng nói lên rằng đoàn thể Phật giáo Pháp Cổ Sơn đã có giá trị tích cực đối với xã hội.

Cũng vậy, những năm gần đây Pháp Cổ Sơn Chùa Nông Thiền của chúng tôi đã tổ chức các hoạt động cho từng cấp bậc, từ tiểu học, trung học, cao đẳng, đại học. Cũng tổ chức các khóa thiền ở nhiều trình độ khác nhau cho các thầy cô giáo trung học, cao đẳng đại học và các lớp anh tài xã hội, tổ chức thêm các khóa tu thiền theo trình độ cho từng nhóm đối tượng như “khóa thiền cho giáo sư”, “khóa thiền cho anh tài của xã hội” v.v....

Trong đó, “khóa thiền dành cho các vị lãnh đạo trường cao đẳng” học viên tham gia gồm có hiệu trưởng, viện trưởng, tổng vụ trưởng, giáo vụ trưởng, và chủ nhiệm các khoa. Chúng tôi chỉ muốn đào tạo cho họ, chứ không nghĩ đến thu lợi. Vì thế sau khi các khóa học kết thúc, có nhiều vị học viên hỏi tôi: “Làm sao để báo đáp Pháp Cổ Sơn?”

Tôi trả lời: “Hy vọng quý vị nghe được, thấy được những quan niệm và phương pháp điều chỉnh thân tâm trong khi tham gia khóa thiền này là có ích thì đem về nhà, đem vào trường học chia sẻ cho những người muốn tiếp nhận, đó chính là báo đáp rồi.”

Trong đó có một vị giáo sư chưa hiểu rõ nên đến hỏi tôi: “Nếu chỉ làm như vậy, về lâu về dài không phải là Pháp Cổ Sơn thua thiệt hay sao? Pháp Cổ Sơn làm sao còn có tiền để xây dựng?”

Tôi trả lời: “Chúng tôi càng có tâm phụng hiến như vậy thì người đến ủng hộ chúng tôi sẽ càng nhiều hơn.”

Tôi nói với họ : “Quý vị đến Pháp Cổ Sơn tham gia khóa thiền, cũng như các thương khách mua sỉ đến tận kho của công xưởng để mua hàng, sau này có thể thay chúng tôi làm người trung gian bán lẻ sản phẩm. Quý vị phụng hiến cho xã hội tức là đã thay chúng tôi cống hiến cho xã hội rồi, đây cũng là sự thu hoạch của chúng tôi; cũng có thể nói đây là cách mà quý vị báo đáp Pháp Cổ Sơn, cho thấy giá trị mà Pháp Cổ Sơn đã đem lại cho xã hội Đài Loan ngày nay.”

Thọ báo, phát nguyện và hoàn thành nguyện vọng

Mục tiêu của cuộc đời là thọ báo, hoàn nguyện và phát nguyện.

Thọ báo nghĩa là quá khứ bất luận là đời nay, kiếp trước, hay thuộc vô lượng kiếp từ quá khứ đã tạo tác mọi hành động, đến đời nay chỉ cần nhân duyên chín muồi thì phải tiếp thọ quả báo; nếu đời trước làm việc tốt thì hưởng phước báo, làm việc xấu thì nhận quả báo khổ, cứ như vậy cho đến khi thành Phật đều ở trong sự thọ báo, bởi vì từ vô lượng kiếp đến nay có quan hệ qua lại với chúng sanh, ân ân oán oán vướng víu không dứt.

Song, khi con người hưởng thọ phước báo lại nghĩ rằng đó là chuyện đương nhiên, nhưng khi thọ quả báo khổ không tốt thì trong lòng bất mãn, luôn nghĩ rằng kiếp này mình không làm điều gì sai trái, sao quả báo không tốt cứ đến với mình.

Người đương nhiệm ủy viên lập pháp cư sĩ Đinh Thủ Trung, một trong những người trưởng thành từ khóa tu thiền dành cho lãnh đạo các trường cao đẳng do Pháp Cổ Sơn tổ chức, một lần nọ, trong lễ bế mạc khóa tu thiền, ông chia sẻ kinh nghiệm của mình rằng: “Ngày nọ, con trai của tôi cùng với bạn đến hồ bơi, lúc đó hồ bơi đang xả nước, nó nhìn thấy bạn mình đang bị hút vào ống nước rất là đau đớn, con tôi bèn nhảy xuống hồ bơi để cứu bạn ra khỏi ống nước, nào ngờ một chân của nó cũng bị ống nước hút vào, bị thương rất nặng, suýt chút nữa là phải cưa chân. Sau khi biết được tin tức này, ý nghĩ đầu tiên của tôi là: Tại sao vậy, cuộc đời tôi thường làm việc thiện giúp ích mọi người, là người tốt, tại sao nay con trai tôi lại bị như vậy? Lúc đó trong lòng tôi rất không phục. Qua một hồi, tâm lý sôi sục bất bình mới từ từ lắng dịu, lúc này trong lòng lại nghĩ: Đây có lẽ là nhân quả báo ứng, có thể là trong quá khứ mình đã làm việc gì đó không tốt, nên làm cho con trai cũng bị vạ lây. Sau đó liền suy nghĩ khác đi: trong đời đứa con này gặp phải tai nạn tuy lớn như vầy mà vẫn qua khỏi, ắt là có phước phần về sau.Tôi nghĩ như vậy thì không còn sầu muộn nữa.”

Ông ta nghĩ được như vậy cũng khiến tâm tư bình lặng, và đây là quan niệm về sự “chấp nhận quả báo”, khiến cho ông ta tâm bình khí hòa, có năng lượng đối diện với những tai ương.

Ngoài ra khi chúng ta đầu thai vào cõi người, cũng chính là đến hoàn thành nguyện vọng. Từ quá khứ đến nay không biết chúng ta khởi biết bao nhiêu nguyện ước. Ngay từ lúc nhỏ, các vị cũng đã từng khởi lên không biết bao nhiêu là nguyện ước như: “ Nếu tôi lớn lên, tôi muốn..., nếu như tôi tốt nghiệp xong, tôi muốn..., nếu sau khi tôi lập gia đình, tôi muốn..., nếu làm mẹ, tôi nhất định sẽ ...., nếu làm giáo viên tôi sẽ ...” . Trong cuộc đời của mình chúng ta đã khởi lên không biết là bao nhiêu nguyện vọng.

Khi còn trẻ tôi rất thích đọc sách, nhưng thời đó sách rất khó tìm, khi đó trong quân đội có một người lính nói rằng: “Chú mày à! Nếu chú mày thích đọc sách sau này tôi sẽ mở một tiệm sách khiến cho chú mày đọc mỏi mắt luôn”.

Tôi nói: “Anh mở tiệm sách thì để không được bao nhiêu sách, vả lại sách trên giá cũng có giới hạn, sao anh không mở thư viện luôn?

Anh ta trả lời: “Mở tiệm sách thì còn có cơ hội kiếm tiền để duy trì cuộc sống! Nếu mở thư viện thì chỉ có bù lỗ mà thôi, chẳng có tí lợi ích gì với tôi cả”.

Tôi chẳng hề nghĩ đến có lời hay không, nên tôi nói: “Sau này tôi nhất định sẽ xây thư viện”.

Anh ta nói: “Vậy để dành cho chú xây đó”.

Sau khi tôi nói xong, tôi thật tình cũng không biết có cơ hội để thực hiện hay không? Ba bốn mươi năm sau, cuối cùng cơ hội cũng đã đến, tôi đã sáng lập hội nghiên cứu Phật học Trung Hoa và cũng đã xây thư viện, kho sách gồm cả mấy mươi ngàn cuốn, trong tương lai thư viện sách chuyên môn Phật giáo Pháp Cổ Sơn, cũng sẽ lên đến hai trăm ngàn quyển, ngoài ra còn có thư viện tổng hợp của Đại học Xã hội Pháp Cổ. Cho nên nguyện vọng mà tôi đã khởi lên nay đã từng bước được thực hiện rồi. Vì vậy phát nguyện là một động lực, đã phát nguyện thì cũng nên thực hiện nguyện vọng đó, cho nên hoàn thành nguyện vọng cũng là một mục tiêu của cuộc đời.

Các thành viên tham gia khóa thiền, chúng tôi cũng khuyến khích họ phát nguyện. Ví như khi gặp trường hợp chân đau khó mà nhẫn chịu được thì nên phát nguyện rằng: “ Nguyện rằng nếu chưa nghe tiếng khánh báo hiệu hết giờ thì quyết không đổi chân.” Nhưng đa phần những người đã phát nguyện như vậy rồi thì giữa chừng vẫn bỏ chân xuống và đổi tư thế ngồi, bởi vì thật sự là do chân đau lắm rồi.

Cũng có những người phát nguyện nhiều lần như vậy, về sau cũng không muốn phát nguyện nữa. Vì cảm thấy làm không được thì phát nguyện làm gì. Nhưng mà tôi vẫn khích lệ mọi người tiếp tục phát nguyện, như vậy từ từ các bạn sẽ có sự kiên trì, nguyện càng ngày càng có thể thực hiện được. Nếu các bạn chỉ phát nguyện một lần rồi không phát nữa, nguyện lực đó cũng không đủ mạnh.

Đệ tử của Phật mỗi ngày tụng hai thời công phu đều đọc phần “Tứ hoằng thệ nguyện”: “Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, phiền não vô tận thệ nguyện đoạn, pháp môn vô lượng thệ nguyện học, Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.

Có nhiều người thường phát nguyện như thế xong, liền sau đó sân si, cãi nhau với người trong nhà hoặc những người xung quanh, sau khi sự việc xảy ra nghĩ lại rất buồn và hối hận, trong tâm nghĩ rằng vừa mới phát nguyện muốn độ chúng sanh, muốn đoạn phiền não bây giờ lại làm trái với lời phát nguyện. Thế nhưng tôi vẫn khuyên họ: Đã phát nguyện rồi, nguyện thêm lần nữa, lại thêm lần nữa thì tình huống sẽ lần lần sẽ được cải thiện, nguyện lực càng ngày càng tăng trưởng.

Cấp độ của sự phát nguyện

Phát nguyện cũng có thể gọi là phát đạo tâm, phát bồ đề tâm, từ phàm phu đến thành Phật, sự phát nguyện có thể chia làm năm giai đoạn.

1 Nhân đạo

Chữ Đạo tâm của chữ “Đạo” cũng như cuộc hành trình của cuộc đời. Lịch trình và phương hướng của cuộc đời gọi là con đường của cuộc sống. Con người sống trên cuộc đời này, ắt có phương hướng đi của mình, hơn thế nữa, ắt phải có mục tiêu cho mỗi giai đoạn gần, trung và xa. Phải học cách bắt đầu thực hiện từ mục tiêu gần, và nhắm trước những mục tiêu xa hơn, cho nên trên lộ trình đó, nhất định phải bắt đầu từ bước đầu tiên, rồi tiếp theo từng bước một thật vững chãi để tiến về phía trước.

Từ đây có thể thấy, phát đạo tâm tức là phải bắt đầu từ việc làm người, tận tâm với trách nhiệm của một con người, đầy đủ phẩm chất và đạo đức. Nếu như những yếu tố cơ bản của việc làm người còn không hội đủ, hành động và suy nghĩ không giống một con người, thì sẽ bị người ta mắng là: “Thú đội lốt người”. Vì sao lại như vậy? Thứ nhất, họ thật đáng thương, không biết làm sao để làm người cho tốt. Thứ hai, họ không thể làm chủ được, luôn bị hoàn cảnh dụ dẫn, đả kích, uy hiếp, khiến thân và tâm của họ đều không thể làm chủ được.

Tôn chỉ của Pháp Cổ Sơn: “Đề cao nhân phẩm và đạo đức, kiến lập Tịnh độ trong cõi nhân gian”, là bắt đầu từ bước căn bản làm người, hy vọng mọi người có thể làm đúng, làm tốt những thân phận, những vai diễn hiện có của mình. Cũng có nghĩa là, nếu muốn phát tâm thành tựu Phật đạo, thì trước tiên phải phát nguyện làm tốt bổn phận làm người.

2 Thiên đạo

Khi thực hành đạo làm người tức là làm tròn bổn phận của con người, tận tâm với trách nhiệm; khi thực hành Thiên đạo thì phải cống hiến hết mình, phục vụ mọi người và xã hội, xem mọi người trên toàn thế giới đều là phạm vi mà mình phải chăm sóc, cống hiến, phục vụ. Những người như vậy, có tâm lượng rộng lớn như thế, làm nhiều việc tốt như vậy, đều là tích lũy công đức để sanh lên cõi trời.

Nhưng người tu tập Thiên đạo chỉ nghĩ đến con người trong trái đất của chúng ta, mà chưa nghĩ đến các thế giới ở những phương khác, cũng không nghĩ đến các loài chúng sanh khác, hơn nữa chỉ có một tâm niệm tìm cầu phước báu cõi trời.

3 Giải thoát đạo

Tiếp đến là Đạo giải thoát. Đó chính là buông xả thế giới thân tâm của Tứ đại và Ngũ uẩn, khiến cho ác nghiệp và phiền não không còn sanh khởi, vượt khỏi biển khổ sanh tử của ba cõi.

4 Bồ tát đạo

Hành Bồ tát đạo là không những làm việc lành ở cõi trời và cõi người, hơn nữa phải tu thêm công đức của Giải thoát đạo, không những rộng kết duyên lành với nhân gian, mà còn phục vụ, cống hiến, quan tâm, chăm sóc cho hết thảy chúng sanh trong mười phương ba đời, nhưng làm việc thiện đó không phải vì cầu phước báo. Phật giáo đại thừa luôn luôn khích lệ mọi người hành Bồ tát đạo, khi hành Bồ tát đạo nhất định phải bắt đầu từ thệ nguyện, phát nguyện và hoàn thành nguyện vọng.

5 Phật đạo

Sau cùng, cấp độ cao nhất là Phật đạo, đó chính là “Vô thượng bồ đề tâm”, cũng chính là “A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm”. Trong “Tâm kinh”, “Kim cang kinh” và nhiều kinh điển khác cũng khích lệ chúng ta nên phát “A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm”, không chỉ dừng lại nơi sự phát tâm thành tựu nhân đạo, thiên đạo, mà phải phát tâm hành đạo giải thoát, cao hơn thế nữa là phải phát tâm Bồ tát làm lợi ích cho tất cả chúng sanh, khi phát tâm hành Bồ tát đạo viên mãn rồi, đó là đã hoàn thành Phật đạo.

(1996/8/13 giảng tại Nông Thiền Tự - Pháp Cổ Sơn trong buổi họp giao lưu tu tập thiền dành cho giáo sư. Bài văn này được ghi trong sách “Nhân Gian Bình An”)

Giới thiệu về Pháp Cổ Sơn

“Phật pháp tuyệt vời như thế mà người biết đến thì quá ít, ngược lại số người hiểu sai Phật pháp thì lại quá nhiều.” Đây là hạnh nguyện mấy chục năm khổ tu, khổ học, quyết chí hoằng dương Phật pháp của Hòa thượng Thánh Nghiêm. Kiến tạo Pháp Cổ Sơn là muốn tiếp nối gánh vác sứ mệnh của chư Phật chư Tổ, giúp cho chúng sanh xa rời đau khổ và đạt được an lạc giải thoát.

Năm 1989, Hòa thượng Thánh Nghiêm đã tìm được một mảnh đất rừng thuộc xã Kim Sơn, huyện Đài Bắc lúc bấy giờ, và đặt tên gọi là “Pháp Cổ Sơn”, với tâm nguyện muốn kiến tạo một cơ sở để hoằng truyền Phật giáo Hán truyền, đẩy mạnh “khu vườn giáo dục Phật giáo thế giới” trong hệ thống giáo dục lúc bấy giờ. Trải qua mười sáu năm xây dựng và hoàn thành, vào tháng 10 năm 2005 đã tiến hành lễ khánh thành một cách trọng thể và trang nghiêm.

Pháp Cổ Sơn lấy “Bảo vệ môi trường tâm linh” làm trung tâm, làm ngọn cờ đầu của hệ thống giáo dục. Đồng thời, Pháp Cổ Sơn còn là một đoàn thể giáo dục đời sống, không ngừng ra sức thúc đẩy vận động mở mang tinh thần, đề xướng “bốn loại bảo vệ môi trường” như: Tâm linh, lễ nghi, đời sống và tự nhiên, chuyển hóa tinh thần và nội hàm của Phật pháp thành “tâm ngũ tứ vận động”(vận động năm điều bốn về tâm, như Bốn an: an tâm, an thân, an gia, an nghiệp; Bốn yếu: Nhu yếu, muốn, có thể muốn, nên muốn; Bốn nó: Đối diện nó, tiếp thọ nó, xử lý nó, buông bỏ nó; Bốn cảm: Cảm hóa, cảm động, cảm ơn, cảm tạ; Bốn phước: Biết phước, tích phước, bồi phước, trồng phước.) một cách cụ thể và dễ thực hành. Ngoài ra, còn chú trọng lấy ba phạm trù lớn trong giáo dục “Đại học viện, đại phổ hóa, đại quan hoài” làm lý tưởng để thực hiện việc “tăng phẩm chất của con người, xây dựng tịnh độ nhân gian”, đồng thời, thông qua sự hợp tác giao lưu trong việc hoằng hóa ra phạm vi quốc tế, công trình Pháp Cổ Sơn đã trở thành điểm nhấn để cho toàn nhân loại chú ý, trở thành công trình kiến thiết Tịnh hóa và Tâm linh của thế giới.

Pháp Cổ Sơn còn phục vụ nhu cầu của thời đại, lấy Thiền Phật giáo Hán truyền làm lập trường, sau đó dung hợp các tông phái để mở ra “Thiền tông Pháp Cổ của Trung Hoa”, với việc hướng dẫn và thúc đẩy quan niệm cũng như tư tưởng hiện đại, đưa Phật pháp đi vào trong cuộc sống, hy vọng tiếng trống từ bi và trí tuệ của Phật pháp có thể khiến cho mọi người được an lạc, biến xã hội con người thành cõi Cực lạc, với sự thanh tịnh và giải thoát.

Giới thiệu sơ lược về quỹ giáo dục Thánh Nghiêm

Quỹ giáo dục Thánh Nghiêm được Bộ giáo dục phê chuẩn và cấp giấy phép thành lập vào ngày 18 tháng 01 năm 2006. Tông chỉ của Qũy này là lấy việc thúc đẩy lý tưởng “tăng phẩm chất con người, kiến tạo tịnh độ nhân gian” do Hòa thượng Thánh Nghiêm đề xướng để làm sự nghiệp giáo dục nhằm tịnh hóa lòng người, tịnh hóa xã hội. Lý tưởng của Hòa thượng Thánh Nghiêm là chú trọng đến việc thực hiện xiển dương tịnh độ nhân gian. Suốt cả cuộc đời Ngài luôn hướng đến mục đích đưa Phật pháp đi vào trong đời sống hiện đại, dùng Phật pháp để nâng cao đời sống cũng như phẩm chất của người hiện đại. Hy vọng rằng các nhân sỹ trong giới tôn giáo học thuật hoặc những ai có hứng thú, có tâm nguyện, đều hướng đến tham thảo, nghiên cứu cũng như thực hiện rộng rãi phương diện này.

Qũy sẽ dựa vào tông chỉ này để thúc đẩy các công việc như sau:

1, Chủ yếu là thu thập, chỉnh lý, nghiên cứu, phân thứ lớp, phân loại, phiên dịch, in ấn, chế tác, phát hành, mở rộng, hoằng dương, phổ biến những tài liệu do Hòa thượng Thánh Nghiêm trước tác như sách vở, tạp chí, băng đĩa, các văn hiến văn vật vân vân, tặng đến các giai tầng trong xã hội, với kỳ vọng sẽ làm tăng thêm phẩm chất con người, nơi nơi đều thực hiện việc biến nhân gian thành cõi tịnh độ giải thoát.

2, Thứ nữa là tán dương và trợ lực cho các hạng mục trong công tác giáo dục, khế hợp với lý tưởng của Hòa thượng Thánh Nghiêm như: Thúc đẩy giáo dục Phật giáo; nghiên cứu học thuật Phật giáo; xuất bản các tác phẩm Phật giáo; tịnh hóa nhân tâm và tịnh hóa xã hội vân vân.