Tình & Lý - Làm thế nào để xử lý những quan hệ phức tạp giữa con người với nhau.

Khi nghe người ta nói: “Người đó cũng được, tâm địa rất tốt, nhưng cư xử với mọi người không được tốt”. Xin hỏi quý vị, người như thế có được xem là người tốt hay không?

Đối với cá nhân người đó mà nói, anh ta là người tốt; đối với xã hội mà nói, anh ta là người tốt một nửa. Đặt biệt là tín đồ Phật giáo, nếu khi bạn cư xử không tốt với mọi người, bạn sẽ không có khả năng phát huy công năng tịnh hóa xã hội. Do đó, hôm nay chúng tôi muốn đàm luận cùng quý vị với đề tài “Tình & Lý”, nội dung là thảo luận về vấn đề cư xử giữa người với người, nên kiến lập như thế nào để nó được hài hòa hơn.

I. Định nghĩa về Tình & Lý

Thế nào gọi là Tình & Lý? Tình là thái độ chủ quan, Lý là thái độ khách quan; Tình là quan điểm cá nhân, Lý là quan điểm công bằng; Tình là mưu cầu mục đích cá nhân, mưu cầu lợi ích trước mắt, Lý là mưu cầu lợi ích cho đại chúng, tìm cầu thiên thu thật sự; vì mình mà làm gọi là Tình, không vì mình mà làm gọi là Lý.

Tình, làm gắn kết hoạt động và tồn tại của nhân gian, nó như một chất bôi trơn, khiến con người sống có ý nghĩa hơn. Song, từ quan điểm học Phật mà nói, chúng ta nên từng bước từng bước hóa giải Tình, để bước vào trạng thái Lý. Cái gọi là “thái độ chủ quan”, tức là không màng đến suy nghĩ của người khác, không đứng trên lập trường của người khác để suy nghĩ, chỉ chú trọng đến cách nhìn và cách nghĩ của mình, đây gọi “Tình”. Ngược lại, ở đâu cũng nghĩ đến đại chúng, yêu cầu bản thân phải dần dần giảm bớt những hành vi và tâm lý tự tư, tự lợi, đó là “Lý” ; khi nghĩ đến bản thân mình, đồng thời giúp cho người khác cũng đạt được lợi ích, nhận được sự giúp đỡ; cũng giống như đi cùng trên một chuyến thuyền, chúng ta cải thiện tính năng của thuyền cho tốt hơn, sửa chữa cho tốt hơn để mọi người trên thuyền có thể sớm đến được nơi an toàn, và bản thân chúng ta ở trên thuyền đó nhất định cũng sẽ an toàn đến được bờ kia.

Khi tâm lượng của chúng ta càng lớn thì người giúp đỡ chúng ta cũng sẽ nhiều hơn, tiến bộ và thành tựu của mình đạt được sẽ càng lớn hơn. Vì thế, tuy là không vì mình mà làm, nhưng kết quả người đạt được nhiều lợi ích nhất lại là chính mình. Phương pháp này gọi là “không có triển vọng” nhưng ngược lại có triển vọng lớn nhất.

II. Các loại hình của Tình và Lý

“Tình” có thể phân thành năm loại hình thái: 1/ Tình yêu nam nữ, 2/ Tình yêu gia đình, 3/ Tình bạn , 4/ Ân tình giữa cho và nhận, 5/ Tình đạo. Trong năm loại tình cảm này, 4 loại trước thuộc về “tình cảm thế gian”, loại thứ năm thuộc “tình đạo”. Vì thế, Phật giáo gọi chúng sanh là “hữu tình”.

Trước tiên, chúng ta thảo luận về tình yêu nam nữ. Xin hỏi quý vị, giữa nam nữ có tình bạn, có ân tình không? Đáp án đương nhiên là có. Có thể thấy, giữa nam nữ không nhất định chỉ có ái tình. Đứng trên phương diện của người học Phật mà nói, giữa vợ chồng cũng có cả tình đạo. Ngoài ra, trong quan niệm xưa nay của người Trung Quốc cho rằng giữa cha mẹ và con cái chỉ có tình thân và ân tình; nhưng đối với xã hội ngày nay tại các nước phương Tây, người ta xem cha mẹ cũng như bạn bè; đồng thời giữa cha mẹ và con cái nhất định sẽ có tình yêu trong đó, tình yêu của cha mẹ đối với con cái, con cái đối với cha mẹ không chỉ cung kính mà còn có thương yêu. Đương nhiên, giữa bạn bè, ngoài tình bạn ra cũng có ân tình và đạo tình. Song, trong quan hệ giữa cho và nhận, có những người đơn thuần vì muốn bố thí mà bố thí, mà không mảy may nghĩ rằng muốn ban ơn cho người khác, đối với những người này chúng ta có thể gọi họ là bố thí một cách “vô ngã”.

Trong thời gian tôi du học ở Nhật Bản, không có nhiều người giúp đỡ và cúng dường. Nhưng ở Thụy Sĩ có một người thí chủ mà tôi không quen biết, anh ta cứ đến kỳ là gởi tiền cho tôi. Tôi hỏi anh ta: “Anh hy vọng tôi làm gì cho anh? Anh muốn tôi làm thế nào để báo đáp anh?” Anh trả lời: “Tôi không mong cầu, cũng không hy vọng gì, cũng không mong sự đền đáp của thầy, nhưng mong rằng trong tương lai khi thầy có năng lực thầy cũng sẽ giúp đỡ người ta”. Trường hợp này có thể gọi là đạo tình. Vì vậy, khi dùng Phật pháp, tài lực, sức lực để giúp đỡ bất cứ người nào, khiến họ được nhiều lợi ích của Phật pháp, đây gọi là tình yêu thương trong đạo.

Thứ đến chúng ta nói đến các loại hình của “Lý”. Đứng quan điểm của Phật pháp hay trên quan điểm hiểu biết thông thường mà nói, “Lý” có thể phân thành 6 loại như sau: 1/ Định lý về vật chất gọi là “Vật lý”; 2/ Tổ chức thân thể gọi là “Sinh lý”, 3/ Quỹ đạo của tâm niệm gọi là “Tâm lý”, 4/ Phạm trù giao tiếp gọi là “Luân lý”, 5/ Triết học và tôn giáo gọi là “Chân lý”, 6/ Chân lý hoặc lý tánh, tức Phật giáo thường gọi là “ bổn địa phong quang”.

1/ Vật lý

Hôm qua may thay bão không đến. Sáng sớm hôm nay trời gió nhẹ và mưa lất phất. Có người nói với tôi: “Sư phụ! Ngày đầu tiên thầy giảng kinh thì giông bão nổi lên, thật ghét quá!” Tôi nói: “Nó nổi lên tức là có lý của nó, gió thổi đương nhiên là phải có lý do của nó. Đã có nguyên nhân và lý do, nên chúng ta không thể trách cứ nó được.”

Cách đây hai năm, vào ngày kia, nhân khi có một cư sĩ chở tôi đi thăm hỏi một nơi nọ. Lúc đó trời mưa rất lớn. Anh cư sĩ nói: “Hy vọng khi chúng ta đến nơi, lúc xuống xe trời sẽ tạnh, tốt nhất là đừng để thầy bị mắc mưa.”. Tôi nói: “Anh tự tư quá ! Chỉ vì một mình tôi mà bảo trời đừng mưa.”. Nhưng cũng kỳ lạ thay, khi chúng tôi gần đến nơi, thì trời ngừng mưa thật. Anh cư sĩ đó rất vui mừng và nói: “Đây là phước báo của thầy, trời hết mưa rồi!”. Tôi nói: “A Di Đà Phật! Đây không phải là phước báo của tôi! Nhỡ ra, lúc này đang là mùa hạn hán, đang rất cần mưa, nhưng tôi đến nơi mà trời tạnh mưa, chẳng phải là hại rất nhiều người không?”. Đây có nghĩa là “lẽ ra” trời tạnh mưa, chứ không phải vì tôi.”. Câu chuyện này muốn nói rằng, những hiện tượng gì của thế gian đều có nguyên nhân của nó. Chúng ta là đệ tử Phật, nhưng nếu cho rằng: Vị đại đức nọ đến nơi nào đó thì trời bỗng ngừng mưa, khi đi rồi trời lại mưa to, đây là ngoại đạo, không phải Phật pháp, bởi vì Phật pháp chỉ nói đến nhân duyên và nhân quả mà thôi.

2/ Sinh lý

Thân thể của chúng ta cũng như máy móc, không nên dùng nó quá sức, và cũng không nên thờ ơ không dùng đến. Nếu như chúng ta sử dụng máy móc mỗi ngày thì có thể nó sẽ sớm bị thanh lý, vì thế nhất định phải biết nghỉ ngơi đúng lúc, thường thêm dầu nhớt và tu bổ nó, như vậy mới có thể dùng được lâu. Thân thể của tôi vốn dĩ chưa từng khỏe mạnh, luôn đau bệnh, nhưng tôi mỗi ngày đều làm việc. Nhiều người khuyên tôi nên nghỉ ngơi, tôi nói bộ máy này của tôi không được nghỉ ngơi, chỉ cần nghỉ ngơi nó sẽ bị rỉ sét. Nhưng cũng có lúc tôi rất bận, lại có người muốn gặp tôi nói chuyện, tôi vẫn gặp và tiếp chuyện với họ trong lúc tiếp khách, nhưng tranh thủ gặp trong khoảng thời gian nghỉ ngơi. Ví như có người hỏi tôi: “Khi đau đầu phải làm thế nào?” Tôi nói: “Không sao cả, ngoài việc cần đi bác sĩ ra, nên niệm Bồ tát Quán Thế Âm sẽ hết.” Anh ta nói cả buổi, tôi chỉ nói một câu khiến anh ta vui mừng và tiếp thu thì vấn đề của anh ta đã giải quyết xong.

3/Tâm lý

Trong tâm chúng ta thường có những suy nghĩ lăng xăng như khỉ hoang, ngựa hoang, vì thế nên gọi “Tâm viên ý mã”. Nhưng khi đã tìm ra đầu mối, hiểu rõ nguyên nhân tâm niệm chợt sanh chợt diệt, thì không nên vì những suy nghĩ như tâm viên ý mã đó mà sanh phiền não.

Hiện nay có nhiều bác sĩ tâm lý chuyên nghiệp, có thể giúp chúng ta phân tích nguyên nhân phát sanh những ý nghĩ, để tìm ra những biện pháp giải quyết, khiến những người tâm lý có vấn đề, nhất thời họ sẽ được an ủi và trị liệu. Song, cách chữa trị này chỉ có thể là trị ngọn, không trị hết gốc được, “Lý” sau khi lắng xuống, tâm vẫn còn loạn động.

Quan điểm của Phật pháp là trị cả gốc lẫn ngọn. Trước hết, chúng ta phải hiểu rõ căn cơ cội nguồn của phiền não từ đâu đến? ( nói đến đây không khác gì phương pháp của tâm lý học); thứ đến, bất luận là vấn đề gì đều nên áp dụng phương pháp“ gặp Phật giết Phật, gặp ma giết ma”. Những tâm niệm xấu đến, chúng ta đoạn sạch đã đành, những tâm niệm tốt đến cũng đoạn luôn. Buông bỏ tất cả mọi tư tưởng, và lúc nào cũng phải buông. Đạt đến trình độ này, tất cả mọi dấu tích của tư tưởng đều không tồn tại, thử hỏi tâm lý còn vấn đề không? Đương nhiên là không! Đây gọi là “khai ngộ”, “trừ phiền não”, “chứng bồ đề”. Vì thế, các nhà tâm lý giúp rất nhiều người, còn Phật pháp giúp cho các nhà tâm lý.

Trong số đệ tử và học trò của tôi, có cũng mười mấy vị bác sĩ tâm lý, bao gồm cả người Tây lẫn người Tàu, người Tàu thì nhiều hơn. Tôi thường hỏi họ: “Các vị không phải là bác sĩ sao?”. Họ trả lời: “Thưa thầy! Thầy là bác sĩ của bác sĩ”. Tôi nói: “Tôi không có bản lĩnh lớn như thế, tôi cũng đang có bệnh và đang trị bệnh, song tôi là người bệnh lâu trị liệu cho người mới bệnh. Chỉ có đức Phật đại bi mới là bác sĩ của các bác sĩ.

Một tên gọi khác của Đức Phật là “Đại y vương”, Vị bác sĩ chân chánh nhất chính là Đức Phật.

4/ Luân lý

Người Trung Quốc khi nói đến luân lý thường hay nhấn mạnh Ngũ luân, chỉ cho nghĩa vụ và trách nhiệm trong luân lý, tức là trong thân phận và lập trường gì thì nên làm hết những trách nhiệm và nghĩa vụ ấy. Nếu không tận tâm với nghĩa vụ và trách nhiệm của chính mình tức là không làm tốt vai trò của một người . Ví như nói, trong quan hệ vợ chồng, nếu vợ và chồng đều làm tròn bổn phận trách nhiệm và nghĩa vụ của mình thì vợ chồng nhất định rất hòa hợp; ngược lại, ắt sẽ có cãi vả. Thông thường mình hay yêu cầu người khác làm hết trách nhiệm, còn mình ngược lại không làm tốt trách nhiệm của mình.

5/ Chân lý

Đây là một loại tư tưởng, lý luận, quan niệm trừu tượng. Nó được suy diễn từ xã hội hiện thực đến một chân lý lý tưởng và bất biến. Hiện tượng biến động nhưng chân lý thì bất biến. Vì thế các nhà triết học và các nhà tôn giáo tin rằng, có chân lý đầu tiên và chân lý sau cùng. Nếu tin có chân lý thì trong lòng sẽ được an ủi, có cảm giác được chở che. Vì thế, người có học vấn và đạo đức triết lý sẽ không thể là người xấu, cũng không thể là người có tính khí nôn nóng, nhân cách sẽ bình thường hơn. Vì sao? Vì họ tin tưởng rằng, hiện thực tuy không công bằng, nhưng chân lý nhất định sẽ công bằng.

6/ Phong quang bổn địa

Còn gọi là “Chân như”, “Niết bàn”, “Phật tánh”, “Pháp thân của Phật”. Rất nhiều người lầm tưởng “chết” gọi là Niết bàn, thật ra ý nghĩa của Niết bàn chính là tâm như nước lặng, không bị khuấy động bởi các cảnh thuận nghịch thiện ác, thị phi, và tự do tự tại.

Hơn mười năm trước đây, khi tôi vừa đến Mỹ quốc không bao lâu, có một người Mỹ đến gặp tôi để tìm phương pháp giải thoát. Anh ta nói: “Hiện nay con không được tự do, muốn ly hôn mà không được, tại vì vợ con ra điều kiện đòi tiền. Thưa thầy! Con nghe nói trong Phật pháp có phương pháp giải thoát, có phải vậy không?”. Tôi nói: “Không được đâu, sau khi tôi giúp cho anh, anh ly hôn với người vợ hiện tại rồi và sẽ kết hôn với một người con gái khác. Bỏ một người để cưới người khác, anh vĩnh viễn không thể nào giải thoát được”. Anh ta lại nói: “Từ nay về sau con không cưới ai nữa, con đã chịu đủ sự giận hờn của người nữ rồi, con còn muốn kết hôn nữa sao?”. Tôi nói với anh ta: “Anh sợ người nữ cũng là không giải thoát được, không tự tại. Nếu khi anh gặp người nữ, trong lòng không lo sợ, anh không sợ cô ta đeo bám anh đó mới là giải thoát. Ngoài ra, khi không có người tình, hay không có vợ mà không cảm giác khổ sở, đó cũng chính là giải thoát.

Ở đây muốn nói rằng, khi chúng ta gặp khó khăn nếu có thể vui lòng chấp nhận, vui vẻ, bình tĩnh đối diện và giải quyết vấn đề, ngay lúc đó chính là được giải thoát.

III. Khéo ứng dụng Tình & Lý

Nếu nhìn từ quan điểm của Phật giáo, thật ra từ bi và trí tuệ chính là tịnh hóa tình và lý mà thế gian thường nói đến. Tịnh hóa chính là không làm cho mình và người đi vào chỗ phiền não, khó khăn.

Làm sao để các mối giao tiếp không phức tạp?

Đáp án chỉ trong 4 chữ “dùng tình dùng lý”. Nghĩa là dùng từ bi và trí tuệ để xử lý trong giao tiếp.

Khi chúng ta quan tâm tới người khác một chút là thêm một chút tình nghĩa. Có nhiều người rất ngang ngược họ không chịu nói lý, dùng lý để nói với anh ta cũng không xong. Song, nếu dùng tình – tức là dùng quan hệ tình thân, tình yêu hoặc tình bạn, thì mọi vấn đề đều được giải quyết. Người Trung Quốc thường hay dùng tình, làm cho người ta cảm thấy rất ấm áp và thân mật. Nhưng chỉ dùng tình, không có lý trong đó, sẽ dễ làm chúng ta sai trái đảo điên, thiện ác không rõ ràng. Vì vậy, đối với các mối quan hệ bạn bè thân thiết hay người trong gia đình chúng ta có thể dùng tình; Song, đối với các quan hệ ngoài xã hội, thì chúng ta phải dùng lý để giải quyết. Cũng có thể nói, xử lý việc riêng tư thì dùng tình, xử lý việc công nên dùng lý. Dùng tình có thể khiến cho không khí hòa hợp; dùng lý có thể khiến có sự việc công bằng, hai cái này phải khéo léo sử dụng, không thiên lý, cũng không quá vị tình, thiếu một trong hai cũng không xong.

Tôi có một người đệ tử luôn nghiêng về lý tính, bất cứ chuyện gì cũng đều muốn hợp lý, vì vậy anh thường xuyên cảm thấy khó xử. Anh ta nói: “Vì sao như vậy? Trên đời này chẳng có sự công bằng, những chuyện không hợp lý sao mà nhiều vậy?”. Tôi nói với anh ta: “Anh không dùng tâm từ bi chút nào, khi giao tiếp với mọi người, không nên hoàn toàn dùng lý tính, con người không thể xem như vật chất để xử lý, anh nên thêm chút tâm từ bi, như vậy anh mới cảm nhận được tâm hồn thanh thản, đồng thời người tiếp xúc với anh cũng sẽ cảm thấy vui vẻ.

Nghĩa của từ bi cũng tương đương với đồng tình, nhưng nó càng tịnh hóa và thanh tịnh hơn. Dùng tình sẽ có tình cảm riêng tư; song dùng từ bi để đối đãi thì không. Khi xung quanh mình xảy ra những việc không hợp lý hoặc có người có những hành vi không hợp lý, theo lý mà nói những người đó đều phải bỏ tù; nhưng nếu nhìn bằng tâm từ bi, sẽ thấy hành động của họ phát sinh do ảnh hưởng từ hoàn cảnh gia đình, xã hội, hoặc từ những nhân tố từ thân tâm gây ra. Có thể dùng nhiều góc nhìn để tha thứ cho họ, và dùng nhiều phương pháp để giúp đỡ họ, đây gọi là từ bi.

Đối với vấn đề của người khác nên từ bi, nhưng ở đây không phải chuyện gì cũng nói là: tốt, tốt, tốt mà được; đối với vấn đề của mình nên dùng trí tuệ để hóa giải và sửa đổi, đây gọi là tu hành. Khi chúng ta thường gặp những rắc rối đối với bản thân, những vấn đề này thường do chúng ta tạo nên, cũng có thể là do hoàn cảnh gây ra cho chúng ta. Trong tình huống như vậy, bạn oán hận mình hay trách cứ người đều vô ích, dùng quan điểm nhân quả của Phật giáo để hóa giải, đó mới là phương pháp tốt nhất, nếu không chúng ta sẽ có tâm lý uất hận, cho là không công bằng.

Căn cứ vào quan niệm nhân quả trong Phật giáo, tất cả những phiền não, rắc rối, đều do nhân trong quá khứ, vì thế mà nay trổ quả. Có được quan niệm này rồi thì phiền não cũng sẽ giảm đi; hoặc căn bản là không cần phải muộn phiền. Nhưng ý nghĩa của nhân quả không phải bảo chúng ta không nên thay đổi hoàn cảnh, không cần giải quyết khó khăn; mà là cần phải thêm nhân duyên vào để đẩy mạnh việc thay đổi hoàn cảnh và giải quyết khó khăn. Đây mới gọi thái độ có trí tuệ.

Phật pháp chú trọng đến từ bi và trí tuệ, khi phổ biến việc tu hành Phật pháp, chính là phổ biến rộng rãi phong trào từ bi và trí tuệ. Nếu tất cả mọi người ai cũng có tâm từ bi và trí tuệ, nhất định xã hội sẽ tịnh hóa, cuộc đời của chúng ta sẽ có hạnh phúc. Vì vậy, chúng ta rất cần có càng nhiều người hoằng dương Phật pháp, khuyên bảo mọi người tiếp nhận Phật pháp, thực hành Phật pháp.

Nguyện cho tất cả các vị đều là những vị tu hành và hoằng pháp có từ bi, có trí tuệ,. Chúc phúc đến các vị!

( Giảng tại nhà tưởng niệm Trung Chính ,TP. Đài Bắc ngày 1//10/1990 Hứa Hoa Linh chỉnh lý, bài này được đưa vào tập sách “Thiền và ngộ” )